Sunday, June 19, 2016

LÊ QUANG VINH * THÀNH NHÀ HỒ



THÀNH NHÀ HỒ - CHỨNG TÍCH LỊCH SỬ CỦA TƯ DUY ÍCH KỶ, THIỂN CẬN – DẪN TỚI THẢM HỌA NƯỚC MẤT, NHÀ TAN - ĐANG RẤT "THỜI SỰ"!?


Lê Quang Vinh


"THÀNH NHÀ HỒ - CHỨNG TÍCH LỊCH SỬ CỦA TƯ DUY ÍCH KỶ, NGU NGỐC VÀ THIỂN CẬN – DẪN TỚI THẢM HỌA MẤT NƯỚC"; hẳn còn giá trị thời sự cho mỗi người dân và chính quyền Việt Nam trong giai đoạn lịch sử hiện nay. Chúng ta đừng gồng mình, dồn sức xây dựng những công trình ngàn tỷ, nhiều ngàn tỷ cốt chỉ thỏa mãn lòng khát khao lập những "kỷ lục" do sĩ diện hão huyền, kém hiểu biết. Những công trình như vậy chỉ béo bọn tham nhũng; nhưng thật vô ích đối với nhân dân. Bởi công trình càng to, càng nhiều tiền thì cơ hội tham nhũng càng lớn. Không ít chính quyền nhiều nơi, đã tinh ranh lừa mị, lôi kéo "nhân dân" vào cuộc để làm "bình phong" bằng các chiêu thức (mòn sáo) như: "Theo nguyện vọng chính đáng của nhân dân", theo đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền công đáp nghĩa"; để "phát triển văn hóa du lịch, cải thiện và mở mang đời sống xã hội tại địa phương hiện đang rất nghèo nàn", vân vân và vv...CỐT ĐỂ TRỤC LỢI!


Cổng Nam thành nhà Hồ, đây là cổng chính, lớn nhất dẫn vào Hoàng thành.


Đôi rồng đá bị mất đầu hiện được đặt ở trung tâm tòa thành. Hai con rồng nằm song song hai bên đường đi xuyên qua thành nối từ cổng Nam lên cổng Bắc. Ảnh: Lê Hoàng.

Lê Quang Vinh


Trong lịch sử dân tộc, những nhân vật tài ba lỗi lạc, kiệt xuất như Vua Hồ Quý Ly - 黎季犛 (1336 – 1407) không nhiều. Ông còn được coi là “Nhà cải cách” phi thường của mấy chục năm cuối thế kỷ XIV cùng những năm đầu tiên của thế kỷ XV; cũng là Nhà văn hóa - Nhà thơ lớn để lại cho hậu thế nhiều tuyệt tác văn - thi ca giá trị đến ngày nay và chắc chắn mai sau nữa. Thế nhưng những gì còn lại của ngôi thành khá kỳ vĩ bằng đá nguyên khối - Thành Nhà Hồ, lại là "dấu tích" của nguyên cớ dẫn tới thảm họa mất nước. 

Chiêu bài “Phù Trần diệt Hồ” của Nhà Minh là "thực tiễn" (bi kịch) do Hồ Quý Ly tiếm quyền Nhà Trần gây ra; bởi ông đã dồn sức dân sức nước, mọi nguồn lực kinh tế mấy trăm năm Nhà Trần tích cóp được để xây dựng kinh đô mới (Thành Nhà Hồ) khiến cơ sở vật chất, tiền của quốc gia cùng bộ máy (chính quyền) Nhà nước phong kiến rệu rã, kiệt quệ, lòng dân oán thán, không còn sức lực đâu nữa để chống chọi lại họa xâm lăng đang tới gần và thực tế đã diễn ra ngay sau đó.


*****
Cách đây mấy năm, nhân UNESCO công nhận thành Nhà Hồ là "Di sản văn hóa thế giới”, một văn bản mang tên “DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI” của Trung tâm Thông tin Du lịch (Tổng cục Du lịch Việt Nam), có viết:
“Thành Nhà Hồ thuộc địa phận các xã  Vĩnh Tiến, Vĩnh Long, Vĩnh Quang, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Ninh, Vĩnh Khang, Vĩnh Thành và thị trấn Vĩnh Lộc (huyện Vĩnh Lộc), tỉnh Thanh Hóa. Đây là kinh thành của nước Việt Nam từ năm 1398 đến 1407. 

Thành Nhà Hồ do Hồ Quý Ly - lúc bấy giờ là tể tướng dưới triều đại nhà Trần - cho xây dựng vào năm 1397. Thành xây xong, Hồ Quý Ly ép Vua Trần Thuận Tông rời đô từ kinh thành Thăng Long (Hà Nội) về Thanh Hóa. Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi vua thay nhà Trần và đặt tên nước là Đại Ngu (1400-1407), thành Nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô. Thành Nhà Hồ trong lịch sử còn có các tên gọi khác là thành An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh, Tây Nhai, Tây Giai.


Thành Nhà Hồ được coi là tòa thành đá duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và là một trong rất ít còn lại trên thế giới. Ngày 27/6/2011, tại Paris (Pháp), trong kỳ họp lần thứ 35 của Ủy ban Di sản thế giới, UNESCO đã công nhận thành Nhà Hồ là di sản văn hóa thế giới”.
Sự ghi nhận này của Ủy ban Di sản thế giới - UNESCO, thực chất là sự tôn vinh hàng vạn, thậm chí hàng triệu sinh linh người Việt – những người lính, nông phu, những thợ thủ công của nghề đá (chủ yếu tại địa phương) và nhiều nghề khác nữa của cả nước; những trí thức và quan lại trực tiếp xây dựng lên công trình này. Đó là “Nhân dân - Bách tính”!

Nhưng với lịc sử dân tộc, thì thật trớ trêu; công trình có quy mô cùng sự tốn kém thuộc loại lớn bậc nhất của các triều đại phong kiến, nhưng có tuổi khai thác (sử dụng) lại ngắn nhất, sớm tiêu vong theo chế độ (triều đại) Nhà Hồ. Thực chất công năng cùng tác dụng của ngôi thành và kinh đô mới này, chỉ tồn tại có mấy năm (từ 1398 đến 1407); để rồi suốt 6 thế kỷ nay là bỏ không, hoang phế theo thời gian...


*****

Nguyên nhân của bi kịch lịch sử này?
Thứ nhất: đó là sự ích kỷ, hẹp hòi – bây giờ chúng ta gọi là “địa phương chủ nghĩa”, "bản vị" của những toan tính do âm mưu tiếm quyền từ lâu ở Hồ Quý Ly. Sử cũ chép: “Lúc bấy giờ Hồ qúy Ly giữ chức "Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự", tước "Tuyên Trung Vệ quốc Đại vương", cương vị "Tể tướng", nắm giữ mọi quyền lực của triều đình. Ông đã sai và cắt cử người trực tiếp tổ chức và điều hành công việc kiến tạo thành là Thượng thư bộ Lại Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh (có sách chép Mẫn).

 Hồ Quý Ly xây thành mới ở động An Tôn (nay thuộc địa phận các xã Vĩnh Long - Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), làm kinh đô mới với tên "Tây Đô", nhằm buộc triều Trần dời đô vào đấy trong mục tiêu chuẩn bị phế bỏ vương triều Trần. Tháng 3 năm Canh Thân (26-3 đến 24-4-1400), vương triều Hồ thành lập (1400- 1407) và Tây Đô là kinh thành của vương triều mới”.


Nếu Hồ Quý Ly không phải “chính quê” ở huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa thì ông đã không bao giờ làm cái chuyện tày đình, ngược với “thiên thời, địa lợi và nhân hòa” như vậy. Chính “ngược” nên bản thân ông, cùng chính quyền và mọi thứ (kể cả những thành quả rất “cách mạng” của Đại thần Hồ Quý Ly suốt mấy chục năm, ông đã đưa hết tài năng phù giúp Nhà Trần) đều bị kẻ thù xâm lược là Nhà Minh dễ dàng đè bẹp, sau đó bão táp lịch sử cũng cuốn phăng một cách không thương tiếc. Bằng chứng là Lê Lợi, sau khi khôi phục lại được giang sơn rồi dựng xây nền độc lập cho nước nhà – cũng cùng quê hương Thanh Hóa, nhưng ông không làm những chuyện như Hồ Quý Ly; cũng không hề “tận dụng” thành quách (mọi cơ sở vật chất của “kinh thành” đang rất mới và kiên cố này) mà nhà Hồ đã tạo dựng ngay trên chính quê hương mình. Đời sau của Hoàng đế Lê Lợi chỉ xây dựng “Sơn lăng” ở Lam Sơn cho các vua Lê quy tiên thôi (theo phong tục “lá rụng về cội”).


Thứ hai: Hồ Quý Ly đã tư duy “ngu ngốc" và "thiển cận” trước họa xâm lăng. Nhà Minh là nhà nước phong kiến hùng mạnh, luôn có mưu đồ xâm lược nước ta chính trong giai đoạn Hồ Quý Ly – thực tế đang “chấp chính” cho Nhà Trần; mọi quyền bính và nguồn lực đất nước nằm gọn trong tay ông. Thế nhưng các “giác quan" của viên “Nhập nội Phụ chính Thái sư Bình chương quân quốc trọng sự", tước "Tuyên Trung Vệ quốc Đại vương", cương vị "Tể tướng” này lại tập trung vào chuyện tìm trăm phương ngàn kế vô cùng xảo quyệt để tiếm quyền vua Trần; điều này đã dẫn dắt mọi hành động sai lầm có tính liên hoàn của Hồ Quý Ly – điển hình là dồn mọi nguần lực của đất nước xây lên ngôi thành và “kinh đô” mới – Thành Nhà Hồ. Thành công của cá nhân Hồ Quý Ly chính là mầm móng ngay sau đó đẩy cả dân tộc chuốc lấy họa mất nước, bản thân cha con ông bị quân Minh bắt sống, tiêu diệt.

Sử chép: “Năm Ất Dậu (1405) sau những năm tháng ngoại giao mềm mỏng, chịu lép không kết quả, cha con Hồ Quý Ly phải đứng trước thử thách hiểm nghèo: Đối phó với cuộc xâm lược của nhà Minh. Hồ Quý Ly giao cho Hoàng Hối Khanh chỉ huy đắp thành Đa Bang, lấy gỗ đóng cọc ở ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì) và đưa quân đóng giữ các nơi. Nhưng đúng như Hồ Nguyên Trừng nói: "Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân có theo hay không theo mà thôi."


Năm 1406, lấy cớ "Phù Trần diệt Hồ", nhà Minh sai Trương Phụ, Mộc Thạnh mang 20 vạn quân sang đánh Đại Ngu.
Trước các mũi tiến công của địch, đội quân nhà Hồ có chặn đánh ở một vài nơi rồi rút về giữ phòng tuyến Nam sông Hồng. Quân Minh thừa cơ hội đã tập trung binh lực vượt sông Hồng đánh chiếm thành Đa Bang. Cuối năm Bính Tuất (ngày 20 tháng 1 năm 1407) thành Đa Bang thất thủ, tuyến phòng ngự của quân nhà Hồ cũng tan vỡ nhanh chóng. Từ Đa Bang ngày 22 tháng 1 năm 1407, quân nhà Minh tràn xuống chiếm cố đô Thăng Long. Quân nhà Hồ lại một lần nữa rút lui xuống miền hạ lưu sông Hồng. Và sau một vài trận phản công thất bại, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đem theo các thuộc hạ chạy ra biển rồi vào Thanh Hóa.


Đến Lỗi Giang (Mã Giang) quân Minh đuổi kịp, quân Hồ lại một phen tan tác. Tướng Ngụy Thức thấy thế nguy cấp, bèn tâu:
"Nước đã mất, làm ông vua không nên để cho người ta bắt được, xin Bệ hạ tự đốt đi mà chết còn hơn."

Hồ Quý Ly giận lắm, bắt Ngụy Thức chém rồi chạy vào Nghệ An. Quân Minh tiếp tục đuổi theo, đến Kỳ La (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) cha con Hồ Quý Ly đều bị bắt. Lúc đó là tháng 6 năm Đinh Hợi(1407). Có thuyết nói ông bị nhà Minh sát hại khi sang Yên Kinh (Bắc Kinh), có thuyết lại nói ông bị đày làm lính ở Quảng Tây và mất sau đó vài năm.
Nhà Hồ trị vì đất nước từ năm Canh Thìn (1400) đến năm Đinh Hợi (1407), được trọn 7 năm thì sụp đổ”.


*****

"THÀNH NHÀ HỒ - CHỨNG TÍCH LỊCH SỬ CỦA TƯ DUY ÍCH KỶ, NGU NGỐC VÀ THIỂN CẬN – DẪN TỚI THẢM HỌA MẤT NƯỚC"; hẳn còn giá trị thời sự cho mỗi người dân và chính quyền Việt Nam trong giai đoạn lịch sử hiện nay. Chúng ta đừng gồng mình, dồn sức xây dựng những công trình ngàn tỷ, nhiều ngàn tỷ cốt chỉ thỏa mãn lòng khát khao lập những "kỷ lục" do sĩ diện hão huyền, kém hiểu biết.

 Những công trình như vậy chỉ béo bọn tham nhũng; nhưng thật vô ích đối với nhân dân. Bởi công trình càng to, càng nhiều tiền thì cơ hội tham nhũng càng lớn. Không ít chính quyền nhiều nơi, đã tinh ranh lừa mị, lôi kéo "nhân dân" vào cuộc để làm "bình phong" bằng các chiêu thức (mòn sáo) như: "Theo nguyện vọng chính đáng của nhân dân", theo đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền công đáp nghĩa"; để "phát triển văn hóa du lịch, cải thiện và mở mang đời sống xã hội tại địa phương hiện đang rất nghèo nàn", vân vân và vv...

Có thể liệt kê được nhiều công trình...mất lòng dân; mất cả trăm tỷ, ngàn tỷ công quỷ rồi...
16 giờ 28’ – ngày 10/6/2016
(Tròn một tháng BS Xuân Hương sang Anh cùng các con cháu).
LQV


*****

Nhà thơ HỒ QUÝ LY

Hồ Quý Ly là một vua có nhiều năng lực về chính trị, kinh tế, văn hóa. Trong các tác phẩm của ông, có những bài thơ sáng tác dùng vào việc cai trị và đối ngoại.

Khi còn là một đại quan nhà Trần, trong hoàn cảnh nhà Trần đã suy yếu cực độ, đất nước nghiêng ngả, nhân dân cực khổ, Hồ Quý Ly đã cương quyết đề cao công tác giám sát, chống thói xu thời không dám can gián cái sai của nhà vua khiến quốc pháp bị xem thường. Với quan Ngự sử Trung đô úy Đỗ Tử Trừng là người có trách nhiệm, ông gửi lời trách cứ trong một bài thơ:

烏臺久矣噤無聲
頓使朝庭風憲輕
借問子澄懦中尉
書生何事負平生

Ô đài cửu hỹ, cấm vô thanh
Đốn sử triều đình phong hiến khinh
Tá vấn Tử Trừng nhu Trung úy
Thư sinh hà sự phụ bình sinh
Đài gián từ lâu tiếng lặng thinh

Triều đình để phép bị coi khinh
Tử Trừng, Trung úy sao mềm yếu?
Kẻ sĩ không nên bỏ chí mình!


Ông còn có bài thơ Ký Nguyên quân (gửi Nguyên quân - Trần Thuận Tông[24]) như sau:

前有庸暗君
昏德及靈德
何不早安排
徒使勞人力

Tiền hữu dung ám quân
Hôn Đức cập Linh Đức
Hà bất tảo an bài
Đồ sử lao nhân lực

Được Tuấn Nghi dịch là:

Cũng một duộc vua hèn
Hôn Đức và Linh Đức
Sao chẳng sớm liệu đi?
Chỉ để người nhọc sức!


Ông là vị Hoàng đế Việt Nam đầu tiên quyết định dùng chữ Nôm để chấn hưng nền văn hóa của người Việt, cho dịch các kinh, thư, thi. Chính ông đã biên tập thiên "Vô dật" để dạy cho con cái nhà quan và soạn ra 14 thiên Minh đạo dâng lên Trần Nghệ Tông khi trước.

Khi đã bị nhà Minh bắt giữ, ông đáp lời người Trung Quốc hỏi về phong hóa nước Nam bằng một bài thơ:

欲問安南事
安南風俗淳
衣冠唐制度
禮樂漢君臣
玉瓮開新酒
金刀斫細鱗
年年二三月
桃李一般春

Dục vấn An Nam sự
An Nam phong tục thuần
Y quan Đường chế độ
Lễ nhạc Hán quân thần
Ngọc ủng khai tân tửu
Kim đao chước tế lân
Niên niên nhị tam nguyệt
Đào lí nhất ban xuân

An Nam muốn hỏi rõ
Xin đáp: phong tục thuần
Y quan chẳng kém Đường
Lễ nhạc nghiêm như Hán
Bình ngọc rượu lừng hương
Dao vàng cá nhỏ vẩy
Mỗi độ mùa xuân tới
Mận đào nở chật vườn

Giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Kiên biều tập của Chử Nhân Hoạch soạn đời nhà Thanh có chép một giai thoại lạ lùng về Hồ Quý Ly, được Lê Quý Đôn dẫn lại trong Kiến văn tiểu lục.

Con cháu họ Trần làm vua nước Giao Chỉ, lúc ấy có người ở Giang Tây là Lê Quý Ly, khi còn bé sang nước ấy buôn bán, ở thuyền lên bờ, thấy trên bãi cát có câu rằng:

Quảng Hàn cung lý nhất chi mai.

(Một cành mai trong cung Quảng Hàn)
Sau Quý Ly mon men được làm quan. Một hôm vua Trần nghỉ mát ở điện Thanh Thử, sân điện có hàng ngàn cây quế, nhà vua ra câu đối rằng:

Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế
(Ngàn gốc quế trước điện Thanh Thử)

Bầy tôi chưa ai kịp đối. Quý Ly nhớ lại câu đã trông thấy trên bãi cát khi trước, liền đem câu ấy đối lại. Nhà vua giật mình, nói "Sao nhà ngươi biết được việc trong cung của ta ?". Quý Ly cứ tình thực tâu bày. Nhà vua nói "Đấy là số trời". Bởi vì nhà vua có một cô con gái tên là Nhất Chi Mai, dựng cung Quảng Hàn để cho ở. Nhân câu đối ấy, nhà vua liền đem cô gái này gả cho Quý Ly.

Hồ Quý Ly đã viết các tác phẩm sau:
Quốc ngữ thi nghĩa (viết về chủ đề giáo dục, nay đã thất truyền)
Minh đạo lục (sách lý thuyết, 14 thiên, nay đã thất truyền)

No comments: