Saturday, June 4, 2016

LÊ QUANG VINH * CHUYỆN CŨ BẠN BÈ CÙNG XÓM…




Quà tặng xứ mưa

Thức trong hạt cát lặng thinh – Mới hay biển cũng đang tìm như tôi.


CHUYỆN CŨ BẠN BÈ CÙNG XÓM…

Đăng bởi: Ngô Minh | 03.06.2016



QTXM: Hôm nay bạn đọc được gặp lại nhà báo Lê Quang Vinh, một đứa con Quảng Bình luôn đau đáu nỗi nhớ quê, thầy; nhớ bạn bè cùng trường, cùng xóm. Thật hiếm những nhà báo thủy chung như thế. 70 tuổi rồi mà nhớ thầy, nhớ bạn, lại thức đêm viết về thầy về những người bạn hồi nhỏ, thì quả là con người tâm huyết. Kỳ này, QTXM xin giới thiệu bài “CHUYỆN CŨ BẠN BÈ CÙNG XÓM” của nhà báo Lê Quang Vinh, mời bạn đọc cùng chia sẻ.





Nhà báo Lê Quang Vinh





Ảnh: (Từ phải sang) Đoàn Văn Thận, vợ Thận là Nguyễn Thị Kim Suê, Trần Đình Quang, Hoàng Thị Minh Lý (trong bài là “Lý Hội Khuyện”) – 3 bạn ni cùng học lớp 10 với LQV.

THẦY MỸ

Nhớ chúng mình – Đoàn Văn Thận và Lê Quang Vinh, hồi học lớp 4 với nhau (1960 – 1961) – Lớp 4 A do thầy Lê Quang Mỹ – người Tuyên Hóa, dạy. Thầy Mỹ dáng cao, nước da trắng; bị bớt sẹo to (có lẽ do mụt hờn để lại) ở một bên mang tang (thái dương) cỡ đồng bạc hình – đồng tiền Đông Dương đúc bằng bạc thời Pháp thuộc, một bên nổi rõ hình bà đầm nên dân ta gọi nôm na là “bạc hình”. Đồng bạc hình là loại tiền vốn rất có giá trị, sót lại không nhiều vào hồi chúng tôi còn nhỏ tuổi. Người ta hay dùng nó để “cạo gió” nhằm giải cảm khi ốm.


Thầy Lê Quang Mỹ là một trong số rất ít người thầy giáo để lại trong đời các thế hệ học trò làng ta những ấn tượng tốt đẹp về khả năng giảng dạy cũng như “nghệ thuật sư phạm” đạt ở trình độ khá cao của nền giáo dục nước nhà. Thầy vô cùng nghiêm, nhưng lại thân thuộc, đáng kính đối với học trò. Thầy mô phạm từng lời ăn tiếng nói, cử chỉ, cách trang phục, đi đứng ở trên lớp cũng như bên ngoài. Tôi vẫn còn nhớ ánh mắt nhìn của thầy thực âu yếm và nụ cười thực sảng khoái, hồn nhiên khi vui chơi cùng học sinh.


Năm 1995, trên đường đi công tác báo chí ở huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình); qua thầy Phan Văn Khuyến, tôi đã hỏi được địa chỉ và vào tận nhà riêng thăm thầy Mỹ ở khu vực gần cây xăng Đồng Lê. Nhưng rất tiếc, đúng ngày ông giáo đi cúng tận đâu xa nên không thể gặp được. Tôi có chụp ảnh vợ và con gái (còn nhỏ tuổi) của thầy. Sau ngày nghỉ hưu, thầy giáo Mỹ chuyên đi cúng – như một nghề mới của mình.



***


NƯỚC MẮT NGÀY HỎNG THI


Lớp 4A gồm con em các chòm (xóm): Cao Hòa, Cựu Hòa, Biên Hòa, Bắc Hòa, Thanh Hòa, Tân Hòa ,Thuận Hòa, Trung Hòa, Phú Hòa (Khoảng năm 1960, hai chòm Trung Hòa – Phú Hòa, tách ra mỗi chòm một phần đất và bộ phận dân cư ở phía Bắc mé đường quan – khu vực Chợ Trường, Đình làng và xóm “thợ rèn” – để lập nên một chòm mới là “Nhân Hòa”) – cùng thuộc xã Quảng Hòa. Từ chòm An Hòa, Vĩnh Hòa đến hai chòm thuộc Xóm Vụng – tức Vĩnh Lộc cũ: Hợp Hòa, Thái Hòa (có tên “Thái Hòa” bởi đa phần bà con mới từ Thái Lan về nước vào mấy năm đầu thập niên 60 – thế kỷ XX) là lớp 4B do thầy Hiệu trưởng Đoàn Tiến Lực kiêm nhiệm dạy.


Xóm chúng mình xưa, nôm na là “Xóm Đình”, hay còn gọi theo tên nữa là “Xóm Chợ” (vì địa dư này có Đình Hòa Ninh và Chợ Trường). Từ năm Cải cách ruộng đất (1954), Xóm Đình (tức Xóm Chợ) ta được tách ra, lập 2 chòm với tên mới là “Trung Hòa” và “Phú Hòa” – sau mấy năm, lại tách để lập thêm chòm “Nhân Hòa” như đã kể.


Bạn bè đồng học lớp 4A ở chòm Trung Hòa có: Hoàng Thị Lý (Hội Khuyện), Đoàn Thị Vân, Nguyễn Thị Tâm (Tâm Thứ), Hoàng Thị Tâm (Mẹt Trưu), Nguyễn Thị Viện, Nguyễn Văn Tiếu (Chó Tiêu – con ôông Tri Tiêu), Nguyễn Thị Định (lò rèn); ở chòm Phú Hòa có: Lâm Thị Thai (Mẹt Út), Hoàng Thị Phê (Em Nậy), Lê Quang Vinh (Chắt Tíu), Lê Đình Hải (Mẹt Thạch), Nguyễn Tuất (Mẹt Chịt), Nguyễn Giản (Cu Kinh), Đoàn Anh (Cu Ngành), Nguyễn Văn Dân (Cu Rề – con mệ Duyển bán nác (nước) chè xanh ở chợ Trường), Đoàn Văn Thận (Chó Thé), Đoàn Thanh (Chó Xướng), Đoàn Khác Diệm (Có lẽ thời gian đi học Trường Y sĩ Quảng Bình, tự đổi thành “Đoàn Khắc Diện” để tránh tên Ông Ngô Đình Diệm – kẻ “bán nước, hại dân” chăng? Nếu thế thì nay càng ngày càng quá sai rồi! Ông Diệm là một nhà “Ái quốc” dựa vào Mỹ để chống Cộng), Nguyễn Thị Di (Cháu Song), Nguyễn Thị Thục (Lý Nhẫn), hai chị em Nguyễn Thị Dùng và Nguyễn Bình (con Cu Ý), hai chị em Nguyễn Thị Nghị và Nguyễn Sĩ Đồng (Cu Khải), Hoàng Thị Cháu (con Mẹt Tràn, cháu mệ cai Vựng – sau lấy nhôông bên Vĩnh Phước, đổi tên thành “Châu”), Đoàn Các (Kiểm Đạt), Đoàn Thị Bê (Tri Dinh), Đoàn Thị Thảo (Trợ Học).


Ngày công bố kết quả thi lên cấp 2 (tháng 5/1961) – thi chuyển cấp, cực kỳ khó; nên trong xóm có mấy đứa bị trượt thẳng cẳng: Thận (Đoàn Văn Thận), Mẹt Nậy (Hoàng Thị Phê – con ông Cu Hạ, cùng em trai là Cu Hường – chuyên đóng giường bằng gỗ tươi do người Thổ Hạ vác xuống chợ Trường bán cho), Thai (Lâm Thị Thai – con o Xếp Út), Đoàn Thị Bê…khoảng chục đứa đấy. Thận mếu máo khóc ngay tại trường; dại dột thế nào lại chạy về nhà, liền bị bọ (trượng Thé – cha Thận) đánh cho một trận…chí chết. Sao dạo đó, các cụ hay đánh con thế không biết. Nhà mô cũng rứa cả. Chúng mình nhởi (chơi) thân nhau; lại hay nghịch dại nữa nên bị ăn đòn luôn.


Người bạn thiếu thời này, khổ hơn tôi nhiều lần vì tuổi thơ mất mạ quá sớm. Tôi mồ côi cha khi mới 18 tháng tuổi; dẫu vậy, vẫn được như câu tục ngữ “Mất cha ăn cá, mất mạ liếm lá ngoài đường”. Tôi cũng là đứa trẻ suốt đời không bao giờ hình dung nổi khuôn mạo, hơi ấm Cha mình; với Mạ – hắn cũng như vậy. Mạ đẻ của Thận gọi mệ nội Đoàn Thị Diệp của tôi là “O” (tức “cô” họ). Cụ năm đời bên mệ Nội tôi chính là cụ Ngoại của Thận. Ngày nhỏ Thận suốt ngày rèo bò, bứt cỏ (chăn bò, cắt cỏ); mọi việc nặng nhọc của đồng áng đều qua tay. Vì thế mặt dài ngoẵng, người còm nhom, gầy đen như “quỷ đói”. Tôi ít khi chộ (thấy) Thận mặc áo – trừ những ngày đông, tháng giá. Hắn lầm lũi với làn da chai sần ngoài đôồng, lại thoắt bụi cây này sang nương tre khác nên chằng chịt không biết bao nhiêu vết gai xé; luôn oằn lưng cùng sọt cỏ, sọt lá tre được lèn đầy suốt ngày này sang ngày khác...như là “số kiếp” hắn phải thế.
Anh em tôi cùng học liền tù tì cả cấp 1, cấp 2. Ôi, còn đến ngày nay là cả một “bồ phúc đức” đối với hai đứa; bởi bạn bè cùng lứa đa phần đã …đi rồi. Nào là Cu Quyền - Nguyễn Quyền (tên hồi nhỏ là “Bình con” - cháu mệ Hội Vị, lứa bạn cùng “ù mọi”, “đánh củi”, “đánh khăng”, “trọi vụ” (đánh quay)...với nhau; nhưng học trên 1 lớp. Quyền đang đi học năm đầu trung cấp chi đó thì bị bệnh “ung thư xương”, phải cưa dần cẳng chân mấy lần đến tận bẹn, rồi chết trong điên dại, đau đớn), Lê Đình Hải (liệt sĩ), Trương Thị Định (lẽ ra là “liệt sĩ”, nhưng chẳng hiểu sao lại không được?), Nguyễn Tuất, Nguyễn Bình, anh Hậu (Nguyễn Chí Thành), Đoàn Anh (con bác Cu Ngành thợ nề), Đoàn Thị Vân; còn mấy đứa thua vài tuổi như Nguyễn Cho (con ông Tri Trác, nhà ở phía sau nương mệ cai Ngô), Dần (con gái ông cu Khải)…Xin thắp nén nhang lòng vọng bái tới các anh chị đó. Thận nhé.


***


KẸO NGON TỪ TRÊN…TRỜI


Đã tới cữ thời gian cuối thu của năm 1956 – thế mà tôi vẫn chưa được đi học lớp 1, vì gia đình còn mang án thành phần giai cấp bóc lột: “địa chủ”! Đúng thời điểm ni, có một việc xẩy ra mà hàng chục năm sau nữa, tôi đi đâu cũng bị trêu chọc, khiến vô cùng e thẹn, ấm ức.


Vốn là thế này. Anh Trương Văn Cấu – em ruột ôông Câu Chắt (ông Trương Ngô) từ Hà Nội về thăm làng. Gia đình ôông Câu Chắt vốn thân thiết với gia đình Mự tôi từ xưa; nên đã không quản chi tiếng xấu “gia đình địa chủ” mà lại muốn hỏi ả Liệu (chị Lê Thị Liệu) tôi cho anh Cấu. Thế là anh Trương Văn Cấu và gia đình chọn một buổi chiều, chắc là “ngày tốt” rồi, nên lên chơi nhà để “xem mắt” ả Liệu. Trước khi đi, nghe đâu anh Trương Văn Cấu đã được ôông Câu Chắt dặn dò rất kỹ: Nhà ả Chắt (tục danh Mự tôi), có thằng con út đã 8 – 9 tuổi gì đấy, nhưng ngài (người) nhỏ thó, nhẳng (gầy) và đen nhẻm. Khi gặp hắn thì trao gói kẹo, như một cử chỉ để “làm quen” với nhà người ta.


Thật không may, chiều đó tôi đang men theo từng đám mả ngoài đôồng (đồng) để tìm hái rau “choòng” cho lợn ăn. Trong khi Thận (tên tục là “Chó Thé”), thấy người ăn mặc mới lạ vào nhà tôi; liền chạy theo rồi cùng vô nhà và hồn nhiên đứng cạnh khách như con cái trong gia đình vậy. Có lẽ anh Cấu cũng đã ngắm nghía rất kỹ người ngợm thằng “không dư hơi” mà đứng cạnh mình này rồi, nên chắc mẩm: đây chính là “đứa em trai út” của o Liệu, thế là “anh rể tương lai” trao luôn cho cậu ta (Chó Thé) bọc kẹo rõ to, có chữ Trung Quốc in bên ngoài bao cùng màu sắc rất đẹp. (Nghe đâu, anh Cấu cũng từ Khu học xá Nam Ninh – Trung Quốc vừa về nước, nên mới có bọc kẹo “ngoại quốc” thậy sang và quý đó). Nhận bọc kẹo từ trên tay anh Cấu, Chó Thé chạy vụt ra cươi (sân) và ngay tức khắc biến liền khỏi nhà tôi như con sóc. Mự Chắt không kịp phản ứng bất cứ động thái gì, nên anh Cấu cũng chẳng biết việc mình quá “nhầm lẫn” vừa xẩy ra.


Vớ được bọc kẹo đặc biệt ngon, Thận chạy nhanh ra đồng reo hò inh ỏi và chia cho vài ba đứa mấy cái để khoe. “Tiếng lành đồn xa” thành tiếng “rất xấu” với tôi – một đứa trẻ thôn quê đang mùa đói khổ bởi vẫn trong cơn hoạn nạn, điêu linh của gia đình: “Anh rể thằng Vinh “mắt đui lồi” ra (anh Trương Văn Cấu vốn bị cận thị nặng. Thời đó, ở xứ Hòa Ninh ni, người ta coi như là “dị nhân”), đã “nhìn gà hóa cuôốc” nên trao nhầm kẹo cho thằng Chó Thé”. Cứ thế, đi đâu, tôi cũng bị chế diễu bởi cái “điệp khúc” thật không hay, tơi bời đó.



* * *


THẦY PHẨM MẤT TRÚM


Còn nhớ lần thầy Đoàn Phẩm (dạy tụi ta hồi lớp 1 hay lớp 2 ấy?) bị mất cả bộ trúm thả lươn. Thầy liền đi tìm và quả nhiên thấy ngay sau chuồng bò o Tri Hóc (mạ anh Hậu – tức anh Nguyễn Chí Thành). Thầy Phẩm nghi ngay Chó Thé (tên tục Thận hồi nhỏ) lấy trộm. Người đang “đằng đằng sát khí”, thầy xách cả xâu trúm vừa tìm lại được (khoảng trên chục chiếc), đến nhà Cu Thé (tục danh bọ Thận) để trị học trò đã ăn trộm trúm của mình cho biết tay. Gặp ngay được kẻ “phản thầy”, nhưng Thận kêu oan, liền đổ cho (khai ra) thằng Cu Nậy (Lê Đình Hải – con thím Mẹt Thạch). Thầy Phẩm xách cổ Thận vô nhà thím Mẹt Thạch để đối chất. Biết chuyện, chưa cần đúng sai, thím Mẹt xắn hai ống quần đũng què lên sát bẹn, đứng ngay tại nơi vừa gặp thầy Phẩm sát chuồng lợn đầu hồi nhà, rồi hướng mặt về phía nhà thầy Phẩm ở, nhảy lên như con choi choi chưởi (chửi) đổng ông con trai bằng một “giọng Bắc” ngân dài thứ thiệt: “Ôi thằng nghịc tử Hải ơi, răng mi dè mặt trời mà chợn (giỡn)?“. Thầy Phẩm tím mặt, phải chịu thua mà bỏ về.


Hồi đó, thầy Phẩm đan trúm bằng tre cật, nắp thì khót (đẽo gọt) bằng thân cơn dưới (cây duối) rất kỳ công, tất cả đều tròn vo mười nùi như một (hầu hết mọi người trong làng thường dùng nùi rơm để bịt miệng trúm rất chi đơn giản). Nhà Cu Nậy (Hải) không có tre pheo gì nên phải ăn trộm trúm thầy giáo để nộp anh Thành mới được vô hội “thả trúm” do anh lập ra. Nhà Vinh có cả nương tre rậm rạp, nhiều vô kể; đã chặt lén khi mự (mẹ) Vinh đi chợ, nộp anh Thành 2 cơn (cây) vừa to vừa dài mới được anh ấy cho đi theo. Thế nhưng cả mùa thả trúm lươn, chưa bao giờ được anh Thành chia cho con lươn mô (con nào).




***


CON CẤY CHỌC ĐÁI THẦY, CON TRAI ‘LÃNH ĐỦ’


(Con gái chọc dái thầy, con trai lĩnh đủ)


Thím Mẹt Thạch “ám chỉ” thầy giáo Phẩm qua câu chưởi đổng “răng mi dè mặt trời mà chợn” là có cái lý của thím ấy. Bởi ông thầy ni đập học trò dã man lắm. Bạ cấy chi là phang cấy nấy (vớ được thứ gì đánh thứ nấy). Nhiều phen thầy đấm vô trôốc (đầu), tát học trò cả nam lẫn nữ không tiếc tay. Bao lần gọi học trò lên bảng, do không thuộc bài hoặc nói chuyện riêng bị thầy bắt được, ông túm tóc từng đứa đập trôốc vô tường hoặc bảng gây tiếng kêu “chạch! chạch!”…


Đúng hôm thầy Phẩm mặc quần soóc đi dạy, Em Nậy (Phê) đem chiếc thước dài khoảng nửa thước Tây tới lớp (thường nhật, hắn hay bào thước gỗ cho hết đứa ni đến đứa khác trong lớp rất hào phóng); giữa tiết học, khi ông giáo ngồi xuống ghế đặt ở trên bục giảng và đang “thì” cao giọng giảng bài, nó dùng chiếc thước đó cùng con Thai chỉ trỏ thế nào mà lại bị “quá tay” nên đụng luôn đái (dái) thầy giáo bởi đang thò ra ngoài quần khiến hai đứa chộ (nhìn) được. Thầy giật bắn mình lên, mặt đỏ gay như máu đang sôi, rồi điên khùng xông thẳng tới chỗ Vinh – Chắt Tíu (Lê Quang Vinh), Chó Thé (Đoàn Văn Thận), Hải – Mẹt Thạch (Lê Đình Hải) và Chó Xướng (Đoàn Thanh); quát bắt tất cả đứng lên. Thầy dơ nắm đấm đập vô trôốc, vô mặt túi bụi cánh tui. Xong đuổi cả 4 đứa ra ngoài thềm, còn tiếp tục lấy dùi trôống (trống) phang cho đến khi “khói” trên trôốc bay lên nghi ngút (hồi nhỏ ăn ở rách rưới, bẩn thỉu nên người ngợm đứa mô đứa nấy đầy ghét, đập vô là bụi bay lên như “khói”).


Lâu nay, trong thâm tâm thầy giáo Phẩm, cả lớp chỉ có 4 thằng ni là quỷ sứ (nghịch nhất), nên phải cho 3 đứa con cấy (gái) ngồi xen kẻ để “kèm” là Thai, Phê và ả Dùng (Nguyễn Thị Dùng, chị gái Nguyễn Bình – hai chị em con ông Cu Ý cùng học lớp 1 đến lớp 4 với LQV). Đội hình 7 đứa ngồi ngay bàn học đầu, sát bàn thầy giáo để ông dễ “kiểm soát”.


“Sự cố” (thọc thước vô đái thầy) vừa xẩy ra, thầy giáo đã nghĩ ngay chỉ 4 đứa ranh ni chọc tức ông thôi (không hề ngần ngại đắn đo gì, phản ứng theo kiểu “mặc định” như trong máy tính bây giờ). Thế là thầy dần (nện) luôn cả “bộ tứ” nghịc tặc này không thương tiếc. Thầy trừ hẳn 3 đứa con cấy, vì ông không bao giờ nghi ngờ tới tụi nó. Mà tụi tui cũng không biết việc chi đang diễn ra…Thực sự như vậy.

Thật oan quá, oan tụi tui quá.


Thầy Đoàn Phẩm hay đánh học trò, mà đánh rất dữ nữa; ai ai cũng biết. Cha mẹ học sinh càng biết rõ qua con cái họ. Bao thế hệ học trò từng học ông, đến nay hễ nhắc đến người thầy giáo này đều không thể quên chuyện buồn đó ở thời thơ ấu. Thế nhưng chẳng hiểu sao, nhà trường ngày ấy không bao giờ có được sự ngăn cản hành vi bạo lực học đường của giáo viên; khiến nó diễn ra hằng ngày, hết năm này đến năm học khác đối với bao trế hệ con trẻ? Còn chúng tôi, từ bé chí lớn đều một lòng kính thầy, có lẽ không một ai oán trách thầy giáo của mình. Đúng như câu châm ngôn: “Nhất tự vi sư, bán tự cũng vi sư“! Cầu mong thầy giáo nay đã qua tuổi 90, sức khỏe ổn định để sống thọ tới trăm năm…



***


MÙI VỊ TUỔI MỚI NẬY (LỚN)


Anh Thành (Hậu) là “Hiệu Đoàn trưởng” của Trường Cấp 2 xã Quảng Hòa (Bí thư Đoàn trường) – to lắm; Đoàn Văn Khương – con ôông mệ Dịch Thái (khác xóm, ở chòm Vĩnh Hòa) là “Liên đội trưởng” Đội Thiếu niên Tiền phong (TNTP) của ngôi trường này. Cánh ta sợ và phải luôn nịnh thằng Khương mới được hắn cho vô Đội.


Thằng Khương lúc ni nhỏ rứa, đã ưng con Viện (Nguyễn Thị Viện – con mệ Tổng Đồng, đang học lớp 4 với mình). Khương viết nhiều thư tán tụng con Viện; Viện không ưng, cứ đưa cho Lê Quang Vinh đọc và nhờ Vinh “bút chiến” lại. Vinh thấy chuyện kỳ kỳ, hay hay, đã “trổ tài” viết hàng chục bức thư chưởi bới lại Đoàn Văn Khương. Chuyện ni, thằng Bằng Lé (Nguyễn Bằng – con ông Nguyễn Khánh) – gọi Khương bằng “chú”, biết rõ ngọn ngành, vì Nguyễn Bằng là người được Khương tin tưởng nhờ chuyển thư qua lại con Viện. Mấy chục năm sau, gặp nhau ở Hải Phòng, Lê Quang Vinh kể lại cho Khương biết, Khương “cú” lắm. Con Viện được mấy đứa nữa ưng, như thằng chi con mệ Hương Lon ấy; à nhớ rồi: thằng Hoàng Văn Du, cũng ưng mê mệt Viện (hình như sau này thành vợ chồng thiệt?).


Lê Quang Vinh lúc ni, chưa hề ưng ai, mà chỉ hơi… “thích thích” con Lài mẹt Ngụ – Lê Thị Bích Lài (chỉ tí tẹo, chút đỉnh thôi). Nên nhiều hôm ra rào (sông) tắm, lại cứ đi vòng qua trước cửa nhà con Lài để được nhìn hắn.


Năm học lớp 5 (1961 – 1962), thằng Hải (Lê Đình hải) yêu con Năm – Nguyễn Thị Năm – con cấy (con gái) ôông Khởi thợ may ngài (người) Phù Trịch, dân ngụ cư làng ta – nhà ở ngoài chợ Trường. Con Năm ngài phổng phao to cao trước tuổi, da trắng, mặt đầy mụn trứng cá (lúc mô cũng chín đỏ lựng cả hai má). Con ni, phía sau hay buộc tóc kiểu “đuôi ngựa” hất cao, trước trán lại cắt tém “tóc thề” ngay ngắn. Cổ đeo cườm hạt huyền lấp lánh (đen nhánh). Hắn học sau cánh ta đến 2 lớp, nhưng trông như “thanh niên” vậy. Thím Mẹt Thạch biết chuyện, ra chợ tìm con Năm túm chưởi bới dữ lắm, thế mà hai đứa vẫn “không buông nhau”.


Sau lên lớp 7 (1963 – 1964), Hải lại yêu con Định (Trương Thị Định – con ôông Câu Chắt, tức Trương Ngô, chòm An Hòa). Tháng 9/1964, đêm cuối cùng tiễn Hải lên đường nhập ngũ, Lê Quang Vinh và Lê Đình Hải cùng nằm với nhau tại Trường cấp 2 Ba Đồn (huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình). Đêm đó, Hải thức trắng, viết cho Định bức thư kín 4 trang giấy bù bằng bút chì. Chữ Lê Đình Hải rất đẹp. Vừa chân phương, vừa bay bướm. Thế mới lạ. Thư để trần, không phong bì nên mình có đọc. Văn của Hải chan chứa bao yêu thương và hy vọng.


Chiều hôm sau, về làng; mình chuyển thư Hải tận tay Định. Định nhận thư, im lặng; không nói gì. Mệ Câu Chắt (mạ Định) đang đau (ốm) gì mà nằm im trong giường chỉ cách bàn tiếp khách trong nhà một màn vải treo ngang, nên nghe hết mọi chuyện. Thế nhưng, cụ cứ tưởng Lê Quang Vinh đang tán tỉnh, tỏ tình với Định, liền vùng lên chưởi cả hai đứa. Lê Quang Vinh và Định sợ quá, ngậm câm, không nói được câu nào và mình thì xấu hổ bỏ về.


Chia tay Hải và Định chỉ có vậy. Không ngờ đó là các cuộc chia ly mãi mãi. Thật thương hai đứa vô vàn Thận ạ…


LQV


Hà Nội, 15 giờ 8’ – ngày 20/5/2016

Các ý kiến gửi qua FB và Email tới tác giả
Thích · Trả lời ·  6 giờ - 1/6/2016
Đoàn Văn Thận  (Nhân vật trong bài là “Chó Thé”): Nhà báo còn nhớ nhiều kỷ niệm của một thời học trò quá. Trong tất cả những câu chuyện mà nhà báo Lê Quang Vinh kể  lại, tôi vẫn thích nhất là chuyện mệ mẹt Thạch chưởi con mình, nhưng thực chất đó là lời “chơi chữ” đối với người. Các bạn nghĩ lại những câu phân tích trong bài viết, mới cảm thấy sự tế nhị và sâu sắc biết nhường nao. Tình bạn bè của chúng tôi là vậy đó.
Lê Quang Vinh Cảm ơn rất nhiều người bạn thiếu thời, khổ hơn tôi nhiều lần vì tuổi thơ mất mạ quá sớm (Tôi mồ côi cha khi mới 18 tháng tuổi; dẫu vậy, vẫn được như câu tục ngữ “Mất cha ăn cá, mất mạ liếm lá ngoài đường”). Mạ đẻ của Thận gọi mệ nội Đoàn Thị Diệp của tôi là O (tức “cô” họ). Cụ năm đời bên mệ Nội tôi chính là cụ Ngoại của Thận. Ngày nhỏ Thận suốt ngày rèo bò, bứt cỏ (chăn bò, cắt cỏ); mọi việc nặng nhọc của đồng áng đều qua tay. Vì thế mặt dài ngoẵng, người còm nhom, gầy đen như “quỷ đói”. Tôi ít khi chộ (thấy) Thận mặc áo – trừ những ngày đông, tháng giá. Anh em tôi cùng học và chơi thân suốt thời cấp 1, cấp 2. Ôi, còn đến ngày nay là cả một “bồ phúc đức” đối với hai đứa; bới bạn bè cùng lứa đa phần đã …đi rồi. Nào là Lê Đình Hải, Trương Thị Định, Nguyễn Tuất, Nguyễn Bình, anh Hậu (Nguyễn Chí Thành), Đoàn Thị Vân; thua vài tuổi như Nguyễn Cho (nhà ở phía sau nương mệ cai Ngô), Dần (con gái ông cu Khải)…Xin thắp nén nhang lòng vọng bái tới các anh chị đó. Thận nhé.
Ðến
22 tháng 5 năm 2016 – lúc 10:15 PM
Kính gửi Anh Vinh,
Em đọc văn của Anh mà thấy mọi việc cứ như đang trước mắt. Em cảm ơn Anh đã tái hiện lại những ngữ cảnh đầy yêu thương này.
Kính,
Lê Tuấn Anh
Dang Dinh Dai (Thầy gáo Ưu tú – nguyên Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Gia Thiều – TP. Hà Nội): Những kỷ niệm của 60 năm trước mà vẫn nhớ được như thế này, xin bái phục ông ! Riêng chuyện thầy Phẩm chắc ông cũng biết người xưa vẫn truyền tụng “hay chữ – dữ đòn” vì vậy không ít nhà giáo thời đó thể hiện “dữ đòn” để khẳng định “hay chữ” đáy ông ạ !
Ðến
Hôm nay 22/5/2016 vào lúc 21:27
                Thân gửi Nhà báo Lê Quang Vinh
                   Anh đưa tôi về tuổi thơ ngây
                Những chuyện cũ mà nhớ lâu đến thế!
                Sông chảy từ nguồn, sông về với bể
                Lớp bạn bè tóc đã trắng hoa cau.
                Dù ở đâu, dù cách xa nhau
                Vẫn vương vấn thủa “trôốc” trần, chân đất.
                Chuyện xưa – tuổi học trò rất thật
                Trong tôi cũng có một “Ba Đồn”…
                                      Lê Tuấn Hiến
Minh Ly Hoang (Trong bài là “Lý Hội Khuyện”): Thán phục L.Q.V biết và nhớ nhiều chuyện thời trẻ con, dù mình học cùng lớp, nhưng chỉ biết và nhớ chuyện con Nậy chọc thước vô thầy Phẩm và cả chuyện thầy hay đánh học trò…Có lần lâu rồi, tình cờ gặp Phê ở Cảnh Dương, nhắc lại chuỵân xưa, hai đứa cười chảy nước mắt, không biết nay Phê sao rồi, Vinh co tin gì không?
Lê Quang Vinh Gần 60 năm nay, Vinh không hề gặp lại Em Nậy. Buồn quá. Ngày nhỏ, nó làm thợ mộc vô cùng giỏi. Mỗi ngày làm được một cái giường đôi đấy.
Minh Ly Hoang (Trong bài là “Lý Hội Khuyện”): Vinh ơi, Lý vừa vào trang bạn bè của V, thấy có Đòan khắc Diện, có phải Diệm ở gần nhà Thận và vợ tên là Anh con mệ Bống không, nay D ở Hà Nội à, nếu gặp cho Lý gửi lời thăm nhé.
Minh Ly Hoang (Trong bài là “Lý Hội Khuyện”): Sao Vinh biết và nhờ được nhiểu chuyên thế, bái phục, bái phục.
Khắc Diện Đoàn Cám ơn Bạn Vinh đã sao lục lai những kỷ niệm cảa thời thơ ấu làm cho tôi vô cùng xúc động ôn lại một thời quá khứ.
Mình chúc Vinh cùng đại gia đình sức khoẻ, vui vẻ luôn ngập tràn niềm vui và hạnh phúc.
Lê kinh Thắng lethangbtm@yahoo.com 
Ðến
Ngày 21 tháng 5 năm 2016 lúc 1:31 PM
Bác có nhiều chuyện đời thường hay thế. Đúng là một thời ai dễ bỏ qua. Bác có nội tâm sâu lắng không phôi phai, không hề nhạt nhoà… Không phải ai cũng lưu chuyện thuở ấy được!
Kính chúc Bác vui khoẻ với nhiều tác hẩm mới.
E Thắng Lê
Đã gửi từ iPhone cá nhân
Ðến
Ngày 21 tháng 5 năm 2016 – lúc 2:43 PM
Vinh thân mến! Mình đã đọc bài của bạn và phục tài về trí nhớ của bạn về những kỷ niệm thời đi học.Thời ấy còn nhiều kỷ niệm khó quên như đánh khăng, đánh đáo, đánh củ, i, ù mọi, làm pháo đất mà giờ đây không còn gặp ở tuổi học trò. Bạn viết di nhé! Viết thành sách hẳn hoi. Chúc Vinh thành công.
Khắc Diện Đoàn (Trong bài là Đoàn Khác Diệm): Cám ơn Bạn Vinh đã sao lục lai những kỹ niệm cũa thời thơ ấu làm cho tôi vô cùng xúc động ôn lại một thời quá khứ.
Mình chúc Vinh cùng đại gia đình sức khoẻ,vui vē luôn ngập tràn niềm vui và hạnh phúc.
Ðến
Hôm nay 21/5/2016 vào lúc 15:17
  Trên đời này mấy ai còn nhớ dược những kỷ niệm thời để chỏm với thày giáo mình như nhà báo. Thật xúc động. Xin cảm ơn !
Đoàn Văn Thận

 Đoàn Văn Thận That may man cho minh la mot dua tre mo coi tu luc nho nhung nho phuc am ong ba to tien va su cuimang dun boc cia xom lang ban be nhat la mu chat nen minh da vuot qua con hoan nan va vuon len tuy chua bang ban be cung trang lua song do cung la su co gang cua ban than chuc ba vui ve co nhieu ki niem dep de ke cho nhau nge cua mot thoi tuoi tho chuc ban hanh phuc gui loi tham chi lieu chi lai cau chuc dai gia dinh vui khoe tre mai
Thích · Trả lời · 8 giờ (4/6/2016)

LQV biên tập lại cho dễ đọc:
Đoàn Văn Thận

Đoàn Văn Thận Thật may mắn cho mình là một đứa trẻ mồ côi mẹ từ lúc nhỏ, nhưng nhờ phúc ấm Ông bà Tổ tiên và sự cưu mang đùm bọc của xóm làng, bạn bè; nhất là mự Chắt (mẹ Lê Quang Vinh) nên mình đã vượt qua bao cơn hoạn nạn va vươn lên. Tuy chưa bằng bạn bè cùng trang lứa, song đó cũng là sự cố gắng của bản thân. Chúc bạn vui vẻ, nhớ thêm nhiều kỷ niệm đẹp để kể cho nhau nghe về một thời của tuổi thơ. Chúc bạn hạnh phúc; gửi lời thăm chị liệu, chị lài; cầu chúc đại gia đình vui khỏe, các anh chị trẻ mãi... 

This message has been truncated

No comments: