Sunday, May 15, 2016

TS. PHAN VĂN SONG * TẢN MẠN



TẢN MẠN THÁNG TƯ ĐEN thứ 39 – KỲ 2 : TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI ? hay NHỮNG LỊCH SỬ CÁC DÂN TỘC ĐANG ĐƯỢC VIẾT LẠI 
(TS Phan Văn Song)

Tản Mạn Tháng Tư Đen Thứ 39 – Kỳ 2:
Trật Tự Thế Giới Mới ? Hay Những Lịch Sử Các Dân Tộc Đang Được Viết Lại
Phan Văn Song, TS
April 29, 2014 | Bình Luận
http://www.vietthuc.org/tan-man-thang-tu-den-thu-39-ky-2-trat-tu-the-gioi-moi-hay-nhung-lich-su-cac-dan-toc-dang-duoc-viet-lai/

Năm nay năm tuổi người viết, nên, từ đầu năm, thân thể tôi bất ổn. « Je souffre, donc je suis-thân thể tôi đau là tôi hiện hữu ». Từ lâu nay, không bị đau ốm, không bị rêm mình nhức mỏi,  nên tôi quên hẳn rằng ngoài cái đầu, cái óc con tim, suy nghĩ, đọc sách, ngoài cặp giò, cặp cẳng đi chơi, du lịch, thăm bà con bạn bè, … ngoài con tim yêu thương tình cảm rung động trước các vẽ đẹp thiên nhiên hay tình nghĩa con người… con người ta ai cũng có thêm một thân thể, biết rêm mình, biết đau, biết nhức biết mỏi… Chúa cho mình có hai cái tay, tuy mình vẫn cho mình thuận tay phải, nhưng khi đau tay trái mới biết rằng một tay « làm chẳng nên non »  dù có thuận  tay phải đi nữa, với một tay, mình cũng « cùi ». Viết tay phải, nhưng cũng phải nhờ tay trái giữ tờ giấy, gạch hàng tay phải nhưng cũng nhờ tay trái giữ cây thước…Đây là một bài học cho những ai cứ tự phụ cho mình độc lập «chỉ ta thôi », trung lập, không nhờ vả ai cả. Sau một thời gian dài (từ đầu năm tây nay) hết đi khám bệnh, hết tests, hết thử, chiếu điện, hết quang tuyến, đến échographie qua scanner, IRM… Với thời gian, sau những ngày chờ giấy gọi, sau những ngày chờ kết quả, rồi khám, rồi tái khám, rồi tái tái khám, rồi khám để nghe bác sĩ … bàn, nghe bác sĩ … khuyên… cuối cùng tuy không có thuốc chửa, nhưng dần dần … tôi cũng bớt đau – hay tôi « quen » đau và lần lần tôi  « quên » đau đi. Và cũng nhờ bớt đau nên  tôi ngủ .. « nằm »… vào đêm được, và nay tôi đã bớt và  không còn ngủ gục … ngồi tại bàn giấy hay salon nữa !  Tôi nhứt định không dùng thuốc trị đau (pain killer) và thuốc ngủ, chỉ dùng « thiền » … theo phái « mackênodo », nghĩa là …theo chủ nghĩa « kệ chó nó, khinh nó » …  và dùng thế võ «  ngủ gục » lúc nào hay lúc đó, bất kể giờ ngày hay đêm, bạ đâu ngủ đó. Ang lái xe buồn ngủ là ghé vào lề đậu xe làm một giấc, để trị đau và trị mất ngủ. Nhờ ngủ được, thằng tôi từ từ  lấy lại tý đầu óc, tý suy nghĩ.

Từ đầu năm Con Ngựa, suốt mấy tháng qua, ngoài xem TV thể thao mủa Đông ở Sotchi, xem giải Rugby 6 quốc gia, tôi chỉ liếc mắt sơ qua tình hình thế giới, tình hình nước Pháp và tình hình quê hương. Thế giới thì bị chấn động bởi tình hình ở Ukraine. Nước Pháp thì sôi nỗi về bầu cử Hội đồng Xã và các Thành phố. Sanh hoạt chánh trị địa phương nầy – và đây mới chính là một sanh hoạt chánhtrị thật sự của một công dân của một xứ tiên tiến – cũng chiếm khá nhiều thì giờ của gia đình thằng tui, vì thằng tui tuy không có mặt trong hội đồng xã địa phương nhưng lại tham dự những hội đoàn dân sự xã hôi, tôn giáo và y tế (của địa phương). Theo dõi tình hình Ukraine, chúng tôi lo cho Ukraine, lo cho dân chúng Ukraine, và lo tai vạ ấy sẽ đến với quê hương ta. Càng thấy Nga Hoàng thời đại mới Poutine du côn, càng thấy cái hèn của Tây Âu, của NATO, củả Huê kỳ, tôi càng đau cho cái đạo đức con người trong xã hôi mới từ nay bị bỏ quên ; thương cho nhơn loại, thương cho thân phận công dân các nước nhược tiểu ; các nước chậm tiến vẫn trong tình trạng thiếu dân chủ ; đau cho tiếng nói dân chủ càng ngày càng bị bẻ cong, càng ngày càng bị đè bẹp, đàn áp, và càng ngày càng bị lợi dụng. Và tôi bi quan cho vận mệnh đất nước Việt Nam chúng ta ! Rất bi quan !


1. Việt Nam: Sau cuộc Nam Bắc phân tranh, Cộng sản viết lại lịch sử 

Năm nay là năm thứ 39, Nam Việt Nam chúng ta mất vào tay Cộng sản Quốc tế.  Thật sự mà nói, cả nước Việt Nam chúng ta, cả Quốc gia Việt Nam chúng ta đã lọt vào tay Cộng sản Quốc tế từ lâu rồi ! Đã mất từ mãi cái thời hòa bình vừa mới vãn hồi sau bao năm máu lữa của Đệ nhị Thế chiến. Đã mất từ mãi cái thời tranh tối tranh sáng, cái thời Nhựt bổn vừa mới thua trận, phải tạm giữ trật tự tại Việt Nam, để chờ  các lực lượng đồng minh nhảy dù vào bán đảo Đông dương tước khí giới. Đất nước chúng ta đã lọt vào tay Cộng sản từ ngay lúc ấy.  Công sản Quốc tế qua các tay sai người bản xứ đã lợi dụng lỗ hổng của các cường quốc Pháp Nhựt vừa mất quyền lực !  Hồ Chí Minh theo đúng bài bản Cộng sản Quốc tế cướp ngay chánh quyền của một chánh phủ Trần Trọng Kim đang lúng túng, bất lực thiếu tự tin, chỉ vì thiếu hậu thuẩn một cường quốc. Một chánh thể Quân chủ Việt Nam còn phôi thai, yếu ớt, chưa trưởng thành, một  Quốc Trưởng thiếu tự tin, không dám tự mình tạo Chánh Thống, không dám vổ ngực tự nhận Nhiệm Vụ và bảo toàn Quyền Lực Quốc Dân,  vì chỉ  vừa được  Nhựt trao lại độc lập từ ngày 10 tháng 3 năm 1945, (nghĩa là chưa đầy 6 tháng, tính đến ngày 2 tháng 9 là ngày bị cướp chánh quyền). Và cũng từ đấy chúng ta tiếp tục đi vào ngỏ hẹp của những chuổi ngày đen tối của một đất nước mắc nạn Cộng sản ! Và thế hệ chúng ta và nhứt là thế hệ đàn cha đàn chú chúng ta bắt đầu sống những ngày, những tháng không quên được, của những cuộc tản cư, của những cuộc chạy nạn, ngay sau khi đệ nhị thế chiến vừa chấm dứt ! Thế chiến đã chấm dứt, hòa bình trên thế giới đã vãn hồi, dân chúng trên toàn thế giới hồi cư, xây dựng, làm lại cuộc đời, xếp đặt cuộc sống mới, xóa bỏ đổ vỡ, hàn gắn đau thương, nhưng dân chúng Việt Nam ta lại vẫn tiếp tục tản cư, chạy giặc, về quê, lang thang làng nầy sang làng khác, quê mẹ, quê cha, quê ông, quê bà tránh giặc Tây …sau đó dinh tê, về thành… tránh giặc Ta.  Và cứ thế, loạn lạc tiếp diễn trên khắp các nẻo đường trên mãnh đất Việt Nam thân yêu suốt mấy năm trời. Rồi Hòa Bình (với hai chữ H và B hoa) trở lại, đúng hơn ngưng bắn, với Hiệp định Genève. Và một lần nữa dân Việt ta lại tản cư, và lần nầy di cư !  Đông lắm, cả nửả nước ! Gần một triệu người miền Bắc Việt di cư vào Nam Việt. Việt Nam chia đôi, đau thương, nước mắt, Hà nôi xa rồi ! Nhiều người vẫn hỏi sao chúng ta sao không nói ngày Đại Quốc hận phải là ngày 20/7/ năm 1954 ? Quốc gia Việt Nam chúng ta bị chia làm hai, miền Bắc về tay Cộng sản !

Và một lần nữa sau thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Bắc và Nam Việt Nam lại chia làm hai mảnh đất nước, Quốc gia và  Cộng sản đánh nhau. Thời Trịnh Nguyễn có khác thời Quốc Cộng sau nầy là, lúc ấy phe phía Nam có đem quân ra phạt Bắc  và  có chiêm giữ đất trong vòng 5 năm (từ  năm 1655, chiếm 7 huyện phía bờ nam Sông Lam giữ đến năm 1660). Trịnh Nguyễn sau 7 lần giao tranh, chia hẳn thành hai xứ rõ ràng Đàng Trong, Đàng Ngoài, tuyệt giao, ai ở đâu ở đó với dòng sông Gianh làm giới tuyến trong vòng trên 100 năm từ 1672 đến 1774, phe xứ nào xây dựng mở mang xứ sở đất nước xứ ấy. Và cũng nhờ vậy mà các Chúa Nguyễn đã xây dựng được xứ Đàng Trong thành một vùng miền Nam trù phú, tạo một dân tộc hiền hòa, tử tế biết ăn, biết ở, phải đạo làm người. Cũng nhờ những đức tánh nầy mà 200 năm sau, 1954 đã biết chia xẻ, nhịn ăn, nhịn mặc đón nhận, cưu mang giúp đở những người anh em miền Bắc di cư vào Nam chạy giặc Cộng sản.

Nhưng trong lần Nam Bắc phân tranh nầy phía Bắc Việt Cộng sản với khí giới, quân trang, quân cụ và người của khối Cộng sản quốc tế đổ vào viện trợ, xua quân xâm lược quyết nhuộm đỏ miền Nam nước Việt ta. Mặc dù được khối đồng minh phe thế giới tự do giúp đở, nhưng phe Nam Việt ta chỉ làm một cuộc chiến tự vệ. Cả đồng minh quốc tế giúp đở Nam Việt ta, đứng đầu là Mỹ cũng chỉ biết giúp ta tự vệ, be bờ chống Cộng thôi ! Công dã tràng, muối bỏ bể, be bờ, chắn đê bằng bùn, cũng như quân Anh Pháp của Thế chiến thứ Nhứt chống Đức chỉ biết be bờ bằng hào lủy Maginot thôi ! Đàng Trong thời các Chúa Nguyễn cũng vậy chỉ biết be bờ với Lủy Thầy thôi, nhưng thời ấy quân Bắc Việt của Chúa Trịnh không có vũ khí Liên Sô và khối Varsovie, không có quân đội Trung Cộng cuổng tín dám thí quân với chiến thuật biển người. Đối lại với quyết tâm ấy, quân đồng minh với phe Nam Việt lại thuộc văn hóa Tin Lành Thiên Chúa Giáo Mỹ Anh Úc Tân Tây Lan coi mạng người trên tất cả, chỉ cần vài nhơn mạng thiệt hại, vài hình ảnh tù nhơn gầy gò ốm yếu,  đủ làm yếu lòng hậu phương. Và nước Mỹ đã  bại trận, chỉ vì vài hình tù nhơn, vài ảnh chiến sĩ bị thương, vài thương binh trở về trên cây nạng gỗ, vài chiếc hòm cài hoa, vài cô nhi, vài quả phụ…Còn phía dân Nam Việt Nam ?  tự vệ mãi thì chỉ làm kiệt sức, chỉ làm gia đình xào xáo, vi hao tài tốn của mà chẳng thấy yên…rồi dịch phản chiến, rồi phản biện, rồi tôn giáo bất đồng, rồi dân chủ hổn loạn, được có tự do lắm đâm nhiều chuyện, được voi đòi tiên, cho tranh luận lại thích xuống đường, …Cuộc  chiến quá dài khi có tự do, khi có tương lai, khi có học thức, vì Nam Việt trong suốt thời chiến gần 20 năm ấy vẫn tiếp tục xây dựng, một chế độ dân chủ, một hệ thống văn hóa nhơn bản hài hòa khoa học… Cuối cùng Nam Việt bị đồng minh bỏ rơi, vì Bắc Việt và Cộng sản quyết tâm nhuộm đỏ Đông Nam Á ! Phe ta, đánh nhau trên đất mình, trên ruộng vườn mình, đánh địch như  xịt thuốc trừ sâu bọ, diệt rầy mãi không hết. Địch cũng vậy,  giết mãi, địch vẫn còn, đuổi mãi nó vẫn bám, cuối cùng dân Mỹ nãn chí, dân ta cũng nãn lóng vì chẳng đi vào đâu cả. Chiến tranh gì mà lạ lùng vậy ?  Chiến tranh gì mà không muồn thắng, không có ý chí thắng, không có ý chí hạ, giết địch thủ ? Không được Bắc tiến, chỉ chờ hắn Nam tiến để đánh ! Tránh không đánh bom vào những đê điều miền Bắc khi mùa nước lớn ?  Sợ trôi và giết thường dân ư ? hay để nuôi dưởng thường dân miền Bắc để họ vào Nam giết ta, vì cả miền Bắc với chủ thuyết Cộng sản không có « thường dân », tất cả là « dân quân ». Mỹ đánh bom tránh những khu « không quân sự ». Khổ một nổi là cả Bắc Việt đều là khu quân sự. Tất cả dân chúng Bắc Việt là dân quân không có quân phục. Vậy ta phải chờ « dân » thay quần áo nhà binh bắn ta trước rồi ta hãy đánh để tự vệ ? Miền Bắc sử dụng trẻ con đánh giặc – tuyển quân 16 tuổi – mình hãy chờ thằng bé mọc râu rồi hãy giết !  Tránh không được dùng bom to, CBU chẳng hạn, tránh không đổ quân xâm nhập miền Bắc. Thua trận là phải !
Với cuộc chiến Triều Tiên, liên quân Mỹ Liên Hiệp Quốc còn dám đổ quân sau lưng quân Trung Công và Bắc Hàn. Nhưng kể cả Triều Tiên, Tổng thống Mỹ Truman cũng vì đạo đức (giả) đã cách chức Tướng Mac Arthur-vì Mac Arthuir đòi đổ bộ vào Trung Công- Truman chấp nhận ngưng chiến hòa đàm với Trung Cộng và Bắc Hàn – Bàn Môn Điếm, tiếp tục nuôi dưởng chế độ Trung Cộng, và tái dựng chế độ cha con họ Kim, tạo ra thảm trạng Bắc Hàn hiện nay. Tất cả chỉ vì Mỹ sợ bị tội tổ tông, mang mặc cảm đã đánh bon nguyên tử vào Nhựt bổn, từ nay tránh tai tiếng là mình ác độc ! Thật là đạo đức giả !  Mỹ đã dám bỏ hai quả bom nguyên tử – đặc biệt  là quả bom « dư thừa » thứ hai tại Nagasaki – đã dám cho đánh bom phá nát thành phố Dresden, sẳn sàng giết trên 100 ngàn thường dân Đức, khi quân Đức đã kiệt quệ và đang trên đường thương thuyết đầu hàng. Tất cả chỉ để hù dọa và chận đứng sức tiến công của Hồng quân Nga. Nhưng trong khi ấy, Truman ra lệnh Eisenhower buộc quân Kỵ binh của Tướng Patton phải dừng lại để chờ Hồng quân vào chiếm Berlin, giữ đúng lời hứa chia đôi sơn hà giữa Mỹ và Nga. Thật là mâu thuẩn ! Thật là ngĩa khí ngu xuẩn của Hiệp sĩ đạo thời Trung cổ !  Roosevelt với tinh thần Tin lành Mục sư con nhà lành, bị ám ảnh bởi quá khứ nôi chiến Bắc Nam Huê kỳ giài phóng nô lệ nên sẳn sàng « thí » hai « anh cựu thuộc địa bóc lột dân da mầu Anh Pháp » nên nâng đở anh « moujik nông dân ngu đần thất học Staline giải phóng nông dân » : kết quả gần phân nửa thế giới âu châu bị nhuộm đỏ. Thế giới ngày nay với Trung Hoa, với nửa bán đảo Triều tiên, và trên nửa thế kỷ (1945-1989) toàn cỏi Đông dương, phân nửa Phi Châu, Nam Mỹ bị nạn Cộng sản, và con virus Cộng sản hoành hành. Nhưng, Mỹ vẫn cứ thế, và ngày nay cũng vậy, vẫn cứ sợ mất tai tiếng, « em chả » thẹn thùng, làm bộ, đạo đức giả. Những kết quả chánh trị, kinh tế, những sự mất thăng bằng ngày nay của thế giới đều do kết quả của những quyết định « nửa chứng xuân, nửa vời, dở dở ương ương » của Mỹ, dỉ nhiên « miễn sao không làm thiệt hại Huê kỳ » thôi, của nền chánh trị quốc tế Huê Kỳ. Từ Franlin D. Roosevelt, Truman của ngày xưa qua đến Kennedy, Nixon, Ford hay ngay cả Bush cha – dừng tiến công Irak khi cần đánh dẹp bỏ Saddam Hussein – hay ngay cả Bush con hay ngay cả Obama ngày nay ! Nato mạnh như vậy, tiêu xài tốn kém như vây, chỉ biết ngồi nhìn Poutine chiếm Georgie năm xưa, đã chiếm Crimée và sẽ chiếm Ukraine năm nay.

Với biến cố năm 1954 và từ sau 1954, vận mệnh một Quốc Gia Việt Nam mới bắt đầu, với đất đai miền Nam, với lòng dân miền Nam, toàn thể người dân sống ở miền Nam Việt Nam đã lập lại truyền thống Đàng Trong với các Chúa Tiên xây dựng một quê hương hiền hòa, mở mang một xứ sở đầy tình thương, tình con người. Từ năm 1954, toàn thể người dân của toàn giải đất của đất nước Việt Nam đã thật sự hòa nhập với nhau, trong một không gian chỉ bằng nửa nước, miền Nam Việt Nam đã tạo một khung trời Việt Nam mới. Cô động lại trong không gian ấy, những điển hình đẹp nhứt của hai nền văn hóa Nam và Bắc, của hai tập tục, nhơn sanh quan,và một con người Việt Nam mới thành hình. Miền Nam chẳng những trân quý những sản phẩm nghệ thuật, văn hóa của miền Nam đã đành, lại trân trọng gìn giữ những thành tích văn hóa phát xuất tại miền Bắc, những sản phẩm, sáng tác của các nhơn vật, nhơn tài Việt Nam từ văn học, mỹ thuật, các nghệ sĩ miền Bắc trước năm 1954 được miền Nam cất giữ trân quý ca tụng phổ biến. Còn tại miền Bắc, bị Đảng Cộng sản tuy là người Việt Nam cầm quyền, văn hóa Việt Nam lần lần bị lai căn, nhạc bị âm hưởng Tàu, âm hưởng Nga, Sol Mì Sôn Là Sol Lá Mì, vũ điệu Hoà Bình, ca tụng dân Liên Sô, dân Tầu Cộng, nào Xìtakinôvích, nào anh hùng lao động, nào con Sông Đông êm đếm, khi thì ca tụng CácMác LêNin, khi thì khóc XìTaLin hơn khóc Cha khóc Mẹ. Những thiên tài văn học nghệ sĩ trước thời chiến tranh, khi ở lại phục vụ miền Bắc hoàn toàn khô kiệt không còn phát huy thi thố tài năng gì nữa. Việc ấy chứng tỏ đại họaCộng sản nó đã tàn phá thân thể nền văn minh văn hóa của con người Việt Nam thế nào ! và Lịch sử và Văn hóa Việt Nam đã được Cộng sản Việt Nam viết lại, và ngày nay…

Hôm nay sau 38 năm thống nhứt, thử kiểm điểm, nước Việt Nam tuy đã lấy lại toàn thể giài đất từ Bắc với Ải Nam quan, đến tận Nam với Mủi Cà Mau, nhưng người Việt Nam trái lại không đồng nhứt. Một quốc gia, nhưng hai loại quốc dân… .với những cái cấm, với những cái quyền, với những cái hành, nào lề phải, nào lề trái, với những từ ngữ của thời nội chiến như  ngụy, ta, địch, với những tâm trạng đấu tranh  như hận, như thù, với những sợ hãi như diễn biến hòa bình, với những hoài nghi, lo âu như  điều 4 Hiến Pháp giữ Đảng, chỉ tin vào Đoàn Viên, Đảng viên, gia đình lý lịch…  Người miền Bắc, người miền Nam sanh hoạt …với hai loại văn hóa… hai loại tập tục khác nhau (Đó là nhận xét của người ngoại quốc đến du lịch Việt Nam chứ chẳng phải do người viết vốn gốc ngụy như thằng tui).


2. Lịch sử thế giới đang được viết lại

Ukraine đang bị Nga viết lại lịch sử. Cũng như lịch sử bán đảo Crimée và Ukraine ngày nay, khu tự trị, oblast (enclave) Kalininegrad-Thành phố Kalinine đã bị Nga hóa từ lâu rồi. Một thành phố thuộc nước Đức, Köenigberg, sau Đệ nhị Thế chiến bị quân Liên Sô chiếm đóng. Staline buộc toàn bộ dân Đức phải ra đi thay thế bởi dân Slaves thuộc Nga và nói ngôn ngữ Nga. Do những người dân di cư ấy, tạo ra Oblast Kalininegrad, Khu Tự Trị Kaliningrad – mặc dù ngày nay không có biên giới với Nga  hoàn toàn nằm kẹt giữa Ba lan và Lithuanie – nhưng lại thuộc Nga. Dân chúng Đức ngữ hoàn toàn đã được di tản, Kalininegrad ngày nay là một nước Nga nằm ngoài biên giới Nga. Ngày mai cũng vậy, những Crimée, những vùng Tây Ukraine  sẽ bị Nga hoá. Cũng như những vùng tự trị ảnh hưởng Nga thuộc Georgie trong cuộc tranh chấp nay xưa với Nga, sẽ còn nhiều vùng tự trị  ảnh hưởng Nga sẽ được lập ra chung quang đất nước Nga để làm trái độn bảo vệ Nga tránh đụng chạm với Tây Âu.

Trung Cộng cũng vậy. Trung Cộng cũng đang viết lại lịch sử dân tộc Hán. Nước Tàu ngày nay phát triển kinh tế mạnh nhờ Thế giới Tư bản giúp đở cho làm công xưởng của thế giới. Nhu cầu đại chúng hóa hàng hóa và tiêu thụ đại chúng hòa cầu cần nhơn công rẽ đã giúp Tàu và dân tàu có một nguồn kinh tế dồi dào và nhờ vậy từ nay sẽ là một thị trường tiêu thụ vì dân tàu đã một mãi lực .., Nhờ tài chịu khó, nhờ sức tháo vát, nhờ mẹo vặt và tài nghệ lượm bạc cắt, ngày nay đất nước Tàu giàu có. Nước Tàu đỏ đả thành Đệ nhứt cường quốc kinh tế thế giới, nhưng thực sự người Tàu chưa giàu.  Thật sự mà nói, vì thiếu đất và thiếu nguyên nhiên liệu, vì vậy dân Tàu, tuy công dân một nước giàu nhưng phải di cư, phải ra đi kiếm sống xa quê hương, xa nhà. Lịch sử Hán tộc là một lịch sử di dân. Sức bành trướng Tàu là do di dân, người Tàu có mặt cùng khắp thế giới. Các chinatowns mọc đầy như nấm. Tại những quốc gia tiến tiến những Chinatowns là những cửa hàng làm ăn hiệu buôn, quán ăn, chưng bày mặt hàng trung hoa. Nhưng ở những nước chậm tiến đó là những đầu tàu khác thác tài nguyên, tận dụng đất đai để trồng trọt nuôi dân Hán. Còn đối với những quốc gia lân bang, láng giềng Tàu sẽ Hán hóa để làm nhửng vùng tự trị hoặc những vủng đất Hán thuộc để làm trái độn: Tân Cương, Tây tạng, Mãn Châu phía Bắc và phíaTây nay đã xong rồi. Nay chỉ còn phía Nam thôi !  Trên hai ngàn năm nay, đất Nam Việt là một cục xương khó nuốt. Từ thời Tam quốc đất Giang Đông của Tôn Quyền  đã là đất khó nuốt với dân du mục cởi ngựa của miền Bắc Tào Ngụy rồi. Sau nầy suốt bảy lần đánh Nam Việt Tàu bảy lần đều thất bại, vì thủy thổ, vì cái lỳ lợm, cứng đầu và dân tộc tánh của dân Nam Việt. Mãi sau nầy, sau khi nhà Minh mất vào tay Mãn Châu, người Hoa thật sự mới được các Chúa Nguyễn cưu mang cho di dân đến miền Nam Nam Việt. Nhưng những dân cư tỵ nạn nầy  phần đông đều là dân gốc Hoa Nam, thường Quảng Đông, Tiều Châu hay Hakka, xa lắm là Phúc Kiến quen chịu được khí hậu  miền Nam Việt Nam và đồng bằng Sông Cửu.

Nói như vậy để chúng ta biết rằng ngày nay vì vấn đề sanh tồn và không gian sanh tồn, Trung Hoa Cộng sản PHẢI bành trướng, bành trướng để mà Sống Còn. Và chúng ta phải cảnh giác !

Một cuộc xung đột Hoa Việt, môt cuộc chiến tranh Việt Trung chắc chắn sẽ xảy ra trong những năm tháng tương lai. Hoàng Sa, Trường Sa là những tranh chấp đất đai rõ rệt, chúng ta đã thấy rõ, phòng thủ, lo lắng, la ó đấu tranh, kiện tụng, quốc tế hóa …nhưng những phong trào di dân người Tàu ? xâm nhập qua ngã các  công trường, các cơ sở, những vật chất thương mại, những đầu tư..cửa hàng buôn bán, tiệm ăn, những cơ sở vệ tinh của những công trường dùng công nhơn  người Tàu. Dân Tàu có mặt mọi nơi, lập gia đình với người Việt, – nhứt là bên Tàu hiện nay trai thừa – thiếu gái do chế độ hạn chế sanh sản từ thời Mao –  làm ăn sanh hoạt, ăn dằm nằm dề…lẫn lộn Việt-Hoa, Hoa-Việt…Rồi sẽ có những Khu Tự Trị, rồi sẽ có những Trưng cầu Dân Ý sát nhập vào đất Tàu, hay do Hành Chánh Tàu quản trị, kiểu Tam Sa, vì dân khu vực nói tiếng Hoa đòi hỏi. Một kiểu làm như Crimée Ukraine, như Kalininegrad với Nga Vậy !.  Nga mở đường cho Tàu đó ! Nga Tàu một Thầy, Nga vì dân tộc Slaves, Tàu dân tộc Hán. Nga với mẫu tự cyrillique, Đạo Thiên Chúa Chánh Thống. Tàu xài Khổng tử, xài Hoa ngữ. Việt Nam vì quan hệ lịch sử, vì một ngàn năm đô hộ, vì có họ có hàng với Hoa Nam dễ lẫn lộn dễ bị đồng hóa. Một số lớn sản phẩm văn hóa lịch sử, một số lớn các mộ cổ, thành xưa, chùa chiền, đền miếu đều dùng chử Nho, nghĩa là chữ Hoa. người Việt một lần nữa bị chia đôi : một bên dân biết tiếng Nho, đọc chữ Hoa, chữ Tàu, và một bên dân không biết chữ Tàu. Tàu đến một số lớn người dân sẽ biến thành Uất Trì Cung, không biết chữ Tàu, mù chữ Hoa. Biết chữ Hoa trở thành quyền lực. Hiểu biết, quyền thê trong tay dân nói và đọc chữ Nho. Lại sẽ đổi đời làn nữa ! Sau 30 tháng tư năm 1975, chúng ta một lần đổi đời với ngôn ngữ Cộng sản Bắc Việt : nào Tốt, nào Khẩn trương, nào Đăng ký, Ùn tắc Thuyết minh, Chất lưông, Xưởng đẻ… Ngày maisẽ đổi đời với những  Wà, Nì,  Í , Ẻ, Xán Xứ … Hảo má,  Mao Xù Xì,  Hồ  Xù Xì !

Và Xin Kết Luận:
Lần nầy không phải Bắc thuộc nữa mà là Nô lệ!

Hết kỳ 2

Hồi Nhơn Sơn, những ngày buồn cuối tháng tư
TS Phan Văn Song 

No comments: