Saturday, May 28, 2016

SƠN TRUNG * VĂN HÓA ĐỒI TRỤY ?

   Starry-Night-Vincent-Van-Gogh-1378001712 

Starry Night của  Van Gogh  

VĂN HÓA ĐỒI TRỤY ?
SƠN TRUNG 

Văn hóa Việt Nam đã tồn tại từ lâu trong thời độc lập. Đến thời Pháp thuộc, nhờ thâu thái văn minh Âu Mỹ, văn hóa Việt Nam phát triển mạnh. Tiểu thuyết, thi ca, hội họa, ca nhạc đều chịu ảnh hưởng văn hóa Âu Mỹ nhất là Pháp.Về âm nhạc, nhạc tiền chiến là đỉnh cao của âm nhạc Việt Nam. Những tên tuổi đã đi vào lịch sử như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Lê Thương, Lê Mộng Nguyên, Phạm Duy, Doãn Mẫn, Dương Thiệu Tước, Tô Vũ, Tô Hải, Đoàn Chuẩn,Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Văn Tý, Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận,Văn Phụng, Phạm Đình Chương...


Nhạc Việt Cộng là nhạc tuyên truyền phát ra từ những miệng lưỡi gian dối và khát máu theo lệnh của Hồ Chí Minh, Tố Hữu và những tên cai văn nghệ chỉ vang cái loa thôn xã mà không đi vào lòng người. Ngày nay nó đã chết thật sự. Chính đài cộng sản cũng không còn ca "Ai yêu bác Hồ Chí Minh,"Tiếng chày trên Sóc Bom Bo", Trường Sơn đông- Trường Sơn Tây", " Bóng cây Kơ nia"

Ngay trong thời buổi huy hoàng của Cộng sản Liên Xô, bọn trẻ nước Nga và Đông Âu đã ái mộ các ban nhạc Beatle,Backstreet Boys,Take That, N’Sync ... Tại Việt Nam, Kampuchia, sau buổi nhạc chiến đấu nhạt nhẽo, ban nhạc giới thiệu trỉnh bày các bản nhạc Liên Xô mà thực ra là nhạc Âu Mỹ "đồi trụy".

Trong những năm sau 1975, đảng CSVN ra chỉ thị “Phải nhổ tận gốc rễ những nọc độc về tư tưởng văn hóa thực dân mới mà đế quốc Mỹ đã gieo trồng ở miền Nam Việt Nam. Đó là thứ văn hóa, nô dịch, lai căng, đồi trụy cực kỳ phản động cùng các hủ tục, mê tín, dị đoan lan tràn“. Do đó, xảy ra cuộc săn lùng, tịch thu, và đốt sách. Kết quả của chính sách tiêu diệt nền văn học miền Nam là (ước tính) có khoảng 180 triệu cuốn sách (copies) bị tịch thu và tiêu huỷ. Có gia đình ở Sài Gòn phải đốt đến 5000 cuốn sách!.... Tác phẩm văn học xuất bản ở miền Nam từng là những đối tượng phê bình nặng nề của giới phê bình văn học miền Bắc (trước 1975).Với cộng sản, tất cả những gì nằm ngoài quỹ đạo thống trị của cộng sản đều là “phản động” và đáng bị lên án. Luận điệu sau đây rất tiêu biểu: “…các loại sách truyền bá chủ thuyết hiện sinh, hư vô chủ nghĩa, kích động dục tình, tuy bề ngoài không phát ngôn quan điểm chính thức của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, nhưng thực chất thuộc hệ tư tưởng của chủ nghĩa thực dân mới, phục vụ cho âm mưu của chính trị và tư tưởng phản động của Mỹ và tay sai”. (Sài Gòn Giải phóng ngày 15-2-1987).


Thuộc loại này, đến nay (1990), có cả thảy mười một “tác phẩm” đã được xuất bản: một, Văn hoá văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ Ngụy (hai tập) của các tác giả: Phong Hiền, Thạch Phương, Trần Hữu Tá, Hoa Lục Bình (1977); hai, Tiếp tục đấu tranh xoá bỏ tàn dư văn hoá mới của Hà Xuân Trường (1979); ba, Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hoá, tư tưởng của các tác giả: Trần Văn Giàu, Nguyễn Huy Khánh, Vũ Hạnh, Thạch Phương, Trần Hữu Tá, Phong Hiền, Phan Đắc Lập, Bùi Công Hùng (1980); bốn, Cuộc xâm lăng về văn hoá và tư tưởng của đế quốc Mỹ tại miền Nam Việt Nam của Lữ Phương (1981); năm, Nọc độc văn học thực dân mới của Trần Trọng Đăng Đàn (1983); sáu, Nọc độc văn hoá nô dịch của Chính Nghĩa (?); bảy, Những tên biệt kích cầm bút của nhà xuất bản Công an Hà Nội (1986); tám, Nhìn lại tư tưởng văn nghệ thời Mỹ Ngụy của Lê Đình Kỵ (1987); chín, Lại bàn về nọc độc văn học thực dân mới Mỹ của Trần Trọng Đăng Đàn (1987); mười, Văn học thực dân mới Mỹ ở miền Nam những năm 1954-1975 (tập 1) của Trần Trọng Đăng Đàn (1988); và mười một, Văn hoá văn nghệ phục vụ chủ nghĩa thực dân mới Mỹ tại Nam Việt Nam cũng của Trần Trọng Đăng Đàn (1990).Từ năm 1975 đến nay, cộng sản còn tung ra nhiều chiến dịch khủng bố tàn khốc nhắm vào những văn nghệ sĩ cũ của miền Nam. Cơ man những người bị bắt, bị đày ải trong các nhà tù, các trại cải tạo. Công an lùng bắt khoảng 200 người hầu hết là văn nghệ sĩ và trí thức mà từ nay họ gọi là "những tên biệt kích cầm bút", ngày đầu tiên người bị bắt là Nguyễn Mạnh Côn, hôm sau là những Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Hoàng Hải Thủy, Dương Nghiễm Mậu Doãn Quốc Sỹ, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Sĩ Tế, Duyên Anh, Dương Nghiễm Mậu, Hồ Hữu Tường, Hồ Nam, Lê Xuyên, Nguyễn Hữu Hiệu, Mặc Thu, Thái Thủy, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, các họa sĩ Đằng Giao, Choé Nguyễn Hải Chí, các nhà báo Minh Vồ tờ Con Ong, Hồ Văn Đồng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh,… các nghệ sĩ, đạo diễn Minh Đăng Khánh, Hoàng Vĩnh Lộc, v.v. . Năm 1978, sau nhiều năm tháng điều tra, tạp chí Quê Mẹ tại Paris đã công bố bản danh sách 163 văn nghệ sĩ miền Nam bị cộng sản giam giữ trong các trại cải tạo. Báo Express số ra ngày 12.8.1978, đã đăng tải đầy đủ tên tuổi 130 văn nghệ sĩ trong số 163 văn nghệ sĩ nạn nhân của chính sách trả thù của cộng sản. Ngày 30.4.1980, trong một cuộc họp báo tại Paris, tạp chí Quê Mẹ lại cung cấp thêm danh sách 40 văn nghệ sĩ mới bị bắt hoặc bị bắt lại trong năm 1980.

Các tác-phẩm văn-học có tính hiện thực xã-hội, nhất là vào những năm cuối trước 1975, thì bị họ kết án là "độc dược" vì vừa "đồi trụy" vừa "chống cách-mạng một cách có ý thức" (tr. 313) của những Nguyễn Thụy Long, Hà Huyền Chi, Văn Quang, , Phan Nhật Nam, Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh,… Những tác-giả khác bị mũi tên nặng có thể kể: Nguyễn Mạnh Côn, Nhất Linh, Nguyễn Vỹ, Nguyễn Đức Quỳnh, Lê Văn Siêu, Lê Hữu Mục, Thanh Tâm Tuyền, Văn Quang, Dương Nghiễm Mậu, Võ Phiến, Nguyễn Đình Toàn, Nhã Ca,… Xuân Vũ, Kim Nhật và những cây viết "chiêu hồi" dĩ nhiên bị họ chĩa mũi dùi nặng hơn!

Theo thống kê của ông Trần Trọng Đăng Đàn thì miền Nam thời đó có 2721 tác giả có tác phẩm được xuất bản. Con số này kể cả nhà văn, nhà báo, biên khảo, giáo sư, trí thức, v.v. Nhưng con số đó không kể những người viết báo nghiệp dư hay có thơ thỉnh thoảng đăng trên báo mà không xuất bản thành sách.

Tính trung bình, số đầu sách được xuất bản hàng năm là khoảng 10,000 cuốn (số liệu của Bộ Thông tin VNCH). Mỗi cuốn được in tối thiểu là 3000 bản, nhưng có cuốn được in đến 10 ngàn bản. Trong số sách xuất bản, nếu tính từ 1962 đến 1975, có 208 bộ sách chưởng, gồm 850 quyển. Nhưng số phát hành sách chưởng lên đến 5 triệu bản (tương đương với số sách giáo khoa trong cùng thời gian).

Một buổi tuần hành bài trừ “văn hoá đồi truỵ Mĩ Nguỵ”
Tác phẩm văn học xuất bản ở miền Nam từng là những đối tượng phê bình nặng nề của giới phê bình văn học miền Bắc (trước 1975). Điều tuyệt vời là họ làm thống kê về những phê bình đó. Theo Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức, trong thời gian đó, miền Bắc đã sản xuất được 286 bài phê bình văn học miền Nam. Những bài này đăng trên tạp chí Học Tập, Văn học và Văn nghệ.

Những người tham dự chiến dịch phê bình văn học miền Nam thì có nhiều, và toàn những người “tên tuổi”. Có thể kể đến một vài cái tên nổi bật như Thạch Phương, Trần Hữu Tá, Phan Đắc Lập, Thái Kế Toại. Lê Đình Kỵ, Vũ Hạnh, Lữ Phương. Ngay cả những người như Bảo Ninh (tác giả “Nỗi buồn chiến tranh”) cũng hăng hái tham gia vào chiến dịch miệt thị các văn nghệ sĩ miền Nam như Chu Tử, Xuân Vũ và Phan Nhật Nam, cho rằng tác phẩm của mấy người này không đáng dùng làm giấy đi cầu!...

Các nhạc sĩ bị kết tội đồi trụy, phản động, các tác phẩm của họ bị cấm hát như Trúc Phương, Minh Kỳ, Lê Dinh, Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Lam Phương...

Văn học miền Nam thời trước 1975 có một thời thịnh hành, một thời bị cấm đoán, và nay thì lại được trân trọng. Hôm trước, khi có dịp lang thang trong nhà sách, tôi phát hiện những tác phẩm kinh điển thời đó của những tác giả như Dương Nghiễm Mậu, Đinh Hùng, Nguyên Sa, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Vỹ, Thế Phong, Phạm Thiên Thư, Hoài Khanh, Tuệ Sỹ, Hoàng Trúc Ly, Mường Mán, Hoàng Ngọc Tuấn, Lê Đình Điểu, Võ Phiến, và những nhà khảo cứu như Giản Chi, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Nhất Hạnh – Nguyễn Lang, Toan Ánh, Vương Hồng Sển, Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Thanh Lãng, v.v. đã được tái bản. Ngoài ra, chúng ta còn biết những ca khúc nổi tiếng của các nhạc sĩ như Phạm Duy, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trần Thiện Thanh, Lam Phương, v.v. cũng đã đến bạn đọc và người thưởng ngoạn. Có thể xem đó là một tín hiệu tích cực. (Nguyễn Văn Tuấn – Blog – 20 July 2015. Văn học miền Nam trước 1975 qua vài con số.


Đây là sự đổi thay của Việt Cộng trước áp lực của nhân dân và thị trường.Sau 1975, Việt Cộng mở ra các tụ điểm ca nhạc, nhưng buổi đầu tiên, Tô Lan Phương trình bày Tiếng chày trên sóc Bombo , Trường Sơn Đông... thì chẳng có ma nào xem. Sau đó Việt Cộng phải cho hát nhạc "đồi trụỵ" của "Mỹ Ngụy thì thu bộn tiền. Từ đó từ Bắc , dân chúng cũng từ bỏ nhạc Việt Cộng.

Sau 1980, dân miền Bắc đã nhập cảng nhạc vàng. Sự hân hoan, thích thú đã thể hiện rõ rệt khi người ta kinh doanh nhạc đám cưới. Vì ảnh hưởng"Mỹ Ngụy" quá mạnh ở miền Bắc, Việt cộng cấm hát nhạc vàng trong các đám cưới. Nhưng nay, Việt Cộng đưa các ca sĩ hải ngoại về Việt Nam, và các tổ chức này đã thu lợi rất cao và dân chúng tỏ ra thich thú khi nghe các nhạc sĩ hải ngoại hát.


Sang thế kỷ 21, những nhà kinh doanh và tổ chức ca nhạc trong nước đã tổ chức nhiều buổi trình diễn nhạc vàng, đưa ca sĩ từ hải ngoại về hát vì dễ kiếm lời. Nhạc sĩ Võ Công Diên nhận xét rằng:

Nhạc vàng thực chất là dòng nhạc quê hương mang âm hưởng dân ca các vùng miền Tổ quốc, nó rất gần gũi với tâm tình của người Việt Nam chúng ta, do đó nó có sức cuốn hút đối với số đông. Chính vì yếu tố này, dòng nhạc quê hương luôn được đa số công chúng chọn lựa.

Vào tháng 8 năm 2010 hai ca sĩ mà tên tuổi gắn liền với "nhạc sến", Hương Lan và Tuấn Vũ đã trình diễn những bản nhạc vàng ở Nhà hát Lớn Hà Nội nửa tháng trời với giá vé lên đến 1.700.000 đồng Việt Nam mà mỗi suất vẫn kín chỗ. Nhạc vàng theo nhận xét của nhạc sĩ Trần Chí Phúc đã đi từ địa vị bị cấm đoán năm 1975 để rồi đến năm 2010 đã "lên ngôi vua" ở giữa thủ đô Hà Nội.

Người ta kết tội các ca sĩ về Việt Nam là "thương nữ", nhưng ở một khía cạnh khác, họ cũng là " những tên biệt kích văn nghệ" đem văn hóa " đồi trụy" về phổ biến tại Việt Nam!
Trong khi đó, các ca sĩ, nhạc sĩ kháng chiến đã "phục viên" từ lâu!Sự kiện Phạm Duy về Việt Nam, được o bế một là muốn chiêu dụ ca sĩ, ca sĩ hải ngoại mà cũng có mục đich kinh doanh. Các ông nhạc sĩ chống Pháp, chống Mỹ một thời nay bị cộng đảng quay lưng và nhân dân xa lánh đã tức giận. Họ hận thù chẳng qua "trâu cột ghét trâu ăn". Các ca sĩ, nhạc sĩ hải ngoại đã cướp tiền bạc và danh dự của họ. Họ giận vì họ không hiểu thân phận của họ, cái thân " hết chim quăng ná, hết cá quăng câu" của người đời. Sau 1985 là thời kỳ kinh tế thị trường. Nhạc của các ông, giọng hát của các cô, các bà nay vô giá trị, vì không có ai mua, ai nghe và không kiếm ra tiền!Mở đại nhạc hiội hay tụ điểm ca nhạc không ai xem, ra CD nhạc chẳng ma nào mua!

Sau 1975, tôi chẳng bao giờ mở radio nghe đài Việt cộng. Trong khoảng 1985-1995, tôi đã về quê miền Trung nhiều lần. Từ Saigon buổi chiều khởi hành thì đêm khuya xe đò đã đến Nha Trang trong ánh sáng dịu dàng và không khí trong lành của miền biển. Trong xe đò, người ta mở TV, nhạc cho khách nghe. Trong xe giấc ngủ chập chờn, lòng bồng bềnh nghe điệu nhạc vàng với giọng Thanh Thúy, Lệ Thu, Thái Thanh, Thanh Lan,Hoàng Oanh, Duy Khánh, Thanh Tuyền...như hồn đi vào cõi mộng.
Nếu ta xem các đám cưới từ thôn quê đến thành thị Việt Nam ai cũng mặc Âu phục trong khi ở hải ngoại, cô dâu, chú rể và một số quan khách mặc quốc phục. Nhất là các ca sĩ thôn quê đã hát nhuần nhuyễn nhạc vàng cũng như nhạc Âu Mỹ.
Điều này cho thấy nhạc Việt Nam sau 1975 vẫn là nhạc vàng miền Nam, không có bản nhạc nào của Miền Bắc tồn tại.

Điều này cho thấy:
-Nhạc Miền Nam là nhạc của con tim, của nghệ thuật, có giá trị vượt thời gian và không gian.
Còn nhạc tuyên truyền sẽ đi vào lãng quên, và tất cả những gì của văn hóa, nghệ thuật cộng sản sẽ thành tro bụi khi sóng triều cách mạng dân chủ bùng lên.
-Quần chúng Việt Nam, dù là dân XHCN miền Bắc không còn luyến tiếc nhạc Phạm Tuyên, Phan Huỳnh Điểu, HoàngHiệp và các ca sĩ được xem là "ưu tú" một thời như Quốc Hương, Thương Huyền , Tường Vy , Thúy Hà, Thanh Hoa, Thu Hiền, Trung Đức, Tạ Minh Tâm, Quang Hưng, Thanh Thúy, Cao Minh, Lan Anh, Tân Nhàn, Tô Lan Phương...


- Nghê thuật , âm nhạc miền Nam là nối tiếp dòng nhạc tiền chiến, và được tăng bổ với văn nghệ Âu Mỹ hiện đại. Đó là dòng nhạc tiếp thu văn minh hiện đại, hợp với lòng dân, và rất có giá trị.

- Điều đáng nói là đường lối văn hóa Cộng sản đã giết văn nghệ Miền Bắc cho nên sau 1975, không còn ai sáng tác được một bản nhạc hay, mặc dầu trước 1945, đất Bắc đã sinh ra vô số nhân tài như Đặng Thế Phong, Văn Phụng, Đoàn Chuẩn, Phạm Đình Chương... Phạm Tuyên yêu cộng sản và "Bác Hồ" hơn bố của ông thế mà cũng chết theo ông Hồ từ 1975.

-Cộng sản tuyên bố bài trừ nọc độc văn hóa, tư tưởng Mỹ. Điều này do một tên lệch lạc nào đón nói ra, cả lũ cứ theo đó mà ca cẩm, không cần suy nghĩ. Ngay cả một sốngười dạy triết ở miền Nam cũng uốn lưỡi nói theo  như những con vẹt!

Nói về tư tưởng thì miền Nam theo nhiều nguồn tư tưởng trong đó có tư tưởng Tam giáo và tư tưởng Tây phương . Tư tưởng Tây phương là tư tưởng tự do dân chủ của Cách mạng Pháp 1789 và hiện sinh của Pháp mà chủ xướng là những tay cộng sản Pháp như J.Paul Sartre, Albert Camus... Mỹ không có tư tưởng nào độc hại, ngoài ảnh hưởng tinh thần độc lập của Cách mạng Mỹ là cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ chống lại đế quốc Anh từ 1775 đến năm 1783.

Còn âm nhạc thì phần lớn là nhạc Pháp, Ý, Cuba, Anh quốc ...Còn thời trang thì Anh, Pháp, Mỹ đều chiếm phần quan trọng. Nhưng dân Bắc Kỳ XHCN laị khoái quần bò, áo phông, và sau Mao Trạch Đông, các lãnh tụ Trung Cộng, Việt Cộng đều bỏ áo lãnh tụ của một thời Mao mà mặc y phục " đồi trụy" của Âu Mỹ! Đặng Tiểu Bình sao lại đón chào đồng tiền " đồi trụy" của Mỹ?

Chủ nghĩa cộng sản văn minh, giàu mạnh và đạo đức, không một tổng thống Mỹ nào có trình độ
" đồi trụy", " hủ hoá" cao siêu như Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trần Văn Trà, Phạm Văn Trà, Nông Đức Mạnh...Thế thì ai đồi trụy?

Marx tuyên bố tư bản dẫy chết, vô sản chôn sống tư bản nhưng sự thật trái ngược lời tiên tri và xác định của Marx vì cộng sản đã chết và tư bản vẫn tồn tại. Việt Cộng kết tội văn hóa miền Nam đồi trụy, tàn dư "Mỹ Ngụy" nhưng sự thật văn hóa miền Nam là văn hóa hiện đại, đi sâu vào lòng người, có giá trị vượt không gian và thời gian trong khi đó văn học, nghệ thuật cộng sản, nhất là âm nhạc đã khuất bóng chiều tà. Tổng thống Obama, một đại biểu của "văn hóa đồi trụy" quốc tế đến thăm Việt Nam được nhân dân Việt Nam từ Bắc tới Nam, từ già đến trẻ đều nhiệt liệt chào mừng. Thế là thế nào?

No comments: