Wednesday, May 11, 2016

BIỂN ĐÔNG




Căn cứ Cam Ranh sẽ quyết định số phận Biển Đông

media 

\Vịnh Cam Ranh từng là nơi Nga đóng căn cứ Hải Quân (1979-2001). Ảnh chụp trong chuyến thăm vịnh của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta ngày 03/06/ 2012.REUTERS/Jim Watson/Pool
Sự kiện ngày càng có nhiều chiến hạm quốc tế trở lại thăm cảng Cam Ranh của Việt Nam trong thời gian gần đây đã thu hút sự chú ý của giới quan sát. Trong một bài phân tích mới công bố hôm 08/05/2016, chuyên san Mỹ The National Interest đã không ngần ngại cho rằng hải cảng này của Việt Nam có giá trị quyết định cho việc kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Việt Nam hiện đang thận trọng trong việc ưu tiên mở cửa cảng cho một cường quốc cụ thể, nhưng vấn đề có thể khác đi nếu tình hình Biển Đông xấu đi vì Trung Quốc làm quá !
Theo tác giả bài báo Yevgen Sautin, từng nghiên cứu tại Đại Học Quốc Gia Đài Loan và trung tâm nghiên cứu Mỹ Carnegie Endowment for International Peace, vào lúc Trung Quốc đang ngày càng tăng cường hoạt động lấn chiếm Biển Đông, vấn đề cần biết là nước nào trong khu vực sẵn sàng đối đầu với Bắc Kinh.
Câu trả lời của chuyên gia này rất rõ : « Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á có nhiều năng lực và quyết tâm nhất để thách thức các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông ».
Đối với chuyên gia này, với một lực lượng đã từng nhiều lần xung trận chống Trung Quốc và đang tìm cách phối hợp với các nước khác để cùng hoạt động gần các đảo tranh chấp, Hải Quân Việt Nam cũng đã quen với những hành động táo bạo.

 

Vùng nhận dạng phòng khôngTrung Quốc ở Biển Đông : Lợi bất cập hại


media 

Đòi hỏi chủ quyền của các quốc gia ven Biển Đông.Nguồn : US defense department

Từ khi Bắc Kinh tuyên bố lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Hoa Đông cuối năm 2013, nhiều người tự hỏi liệu Trung Quốc sẽ dấn lên tương tự tại Biển Đông hay không. Đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc đang huy động nhiều chiến hạm hiện đại tập trận rầm rộ ở Biển Đông, bên cạnh đó còn huấn luyện ngư dân thành « dân quân » trên biển.
Nhà nghiên cứu Felix K.Chang của Foreign Policy Research Institut nhận định trên Eurasia Review, từ đầu năm nay, Hoa Kỳ đã công khai cảnh cáo Trung Quốc, sẽ không chấp nhận, nếu Bắc Kinh tự tiện lập ADIZ trên Biển Đông. Lời cảnh báo của Washington có vẻ như nhằm lường trước phản ứng của Bắc Kinh, vào thời điểm phán quyết của Tòa Án Trọng Tài Thường Trực La Haye trong vụ Philippines kiện có thể được tuyên trong tháng Năm.
Tuyên bố của Bắc Kinh lập vùng nhận dạng phòng không trên Biển Hoa Đông trước đây đã gây ra nhiều bất ngờ. Theo ông Felix Chang, có lẽ để tránh tái diễn sự việc này, phía Mỹ đã chọn cách cảnh báo trước. Đương nhiên bộ Quốc Phòng Trung Quốc đáp trả, là có quyền lập ADIZ trên Biển Đông - nơi Bắc Kinh vẫn coi là « ao nhà » của mình với đường lưỡi bò tự vạch. Tuy vậy phát ngôn viên của bộ này nhanh nhẩu nói thêm là Trung Quốc không có ý định đó.
Nhà nghiên cứu trên cho rằng, ngoài mục đích xoa dịu Mỹ, còn có các lý do khác khiến Trung Quốc không muốn lập ADIZ tại Biển Đông. Đó là vì việc này còn liên quan đến hai thành viên có ảnh hưởng lớn trong khối ASEAN : Malaysia và Indonesia.
Nếu ADIZ Trung Quốc tại Biển Hoa Đông chỉ nhắm vào Nhật Bản, thì một ADIZ Trung Quốc khác trên Biển Đông sẽ tác động không chỉ vào hai đối thủ Việt Nam và Philippines, mà còn ảnh hưởng đến các nước khác trong khu vực, trong đó có Malaysia và Indonesia.
Từ nhiều thập kỷ qua, Malaysia đã gượng nhẹ trong tranh chấp quần đảo Trường Sa với Trung Quốc. Thay vì đối đầu với Bắc Kinh như Philippines và Việt Nam, nước này cố gắng âm thầm dùng biện pháp ngoại giao để thuyết phục về lợi ích của một giải pháp đa phương cho tranh chấp trong khu vực.
Chiến lược này đạt đến đỉnh điểm vào năm 2002, khi Trung Quốc chịu ký Tuyên bố ứng xử tại Biển Đông với ASEAN, không mang tính ràng buộc. Mặc dù sau đó Bắc Kinh đã vi phạm, Malaysia vẫn trung thành với chủ trương trên. Thậm chí hai lần Trung Quốc tập trận hải lục quân gần bãi cạn James mà Malaysia đòi hỏi chủ quyền (James Shoal, Trung Quốc gọi là Tăng Mẫu) chỉ cách bờ biển Malaysia có 80 km, Kuala Lumpur vẫn chọn lựa không gây căng thẳng.
Tương tự, Indonesia cũng giảm thiểu các tranh cãi với Trung Quốc. Các nhà ngoại giao nước này luôn nhắc đi nhắc lại rằng Jakarta không tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh. Dù đúng là không tranh chấp chủ quyền, nhưng tranh chấp trên biển thì có. Đường lưỡi bò do Trung Quốc vẽ ra bao trùm lên cả một số mỏ dầu khí lớn nhất ngoài khơi Indonesia. Hơn nữa, Bắc Kinh còn gia tăng sự hiện diện trong khu vực. Chỉ mới tháng trước, hai tàu hải cảnh Trung Quốc đã dùng vũ lực xông vào giải thoát cho một tàu cá xâm nhập vùng biển Indonesia khỏi bị cơ quan chức năng bắt giữ. Sự cố này khiến giới quân sự Indonesia phải cảnh giác, nhưng Jakarta vẫn do dự chưa muốn tăng cường phương tiện cho quân đội để bảo vệ khu vực quần đảo Natuna.
Một vùng nhận dạng phòng không của Trung Quốc bao trùm lên toàn bộ Biển Đông chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến cả Malaysia lẫn Indonesia. Sẽ rất khó cho Bắc Kinh để biện minh, và điều này cũng đi ngược lại chiến lược dài hơi của Trung Quốc về Biển Đông.
Từ nhiều năm qua, Trung Quốc luôn tìm cách chia rẽ các đối thủ Đông Nam Á, khuyến dụ từng nước nên giải quyết tranh chấp riêng rẽ với Bắc Kinh. Một ADIZ được tuyên bố trên toàn Biển Đông sẽ khó giúp đạt được mục đích này, thậm chí còn ngược lại !
Quyết định này có thể đẩy Malaysia và Indonesia vào tình thế « cùng hội cùng thuyền » với Việt Nam và Philippines, khiến các nước liên quan phải đoàn kết lại. Hơn nữa, vùng nhận dạng phòng không trên toàn Biển Đông sẽ làm những ai tin rằng thái độ dịu nhẹ sẽ làm Trung Quốc bớt hung hăng với mình, phải suy nghĩ lại.
Mặt khác, nếu Trung Quốc tuyên bố vùng nhận dạng phòng không trên nửa phía bắc Biển Đông mà thôi – có nghĩa là phía trên các khu vực tranh chấp với Philippines và Việt Nam – Bắc Kinh có thể lý sự là chỉ nhằm bảo vệ khỏi bị phi cơ hai nước này xâm nhập mà thôi. Cả Việt Nam và Philippines đều đang tăng cường Không quân để đối phó với Trung Quốc, và Malaysia, Indonesia có thể theo chân. Hơn nữa, một ADIZ bán phần của Trung Quốc có thể khiến các nước khác chạnh lòng, nghĩ đến việc vùng nhận dạng phòng không này có thể bị mở rộng ra trong tương lai.
Tác giả Felix K.Chang kết luận, như vậy trước khả năng ADIZ, dù toàn phần hay bán phần, có thể khiến cho các nước chủ chốt của ASEAN liên kết với nhau để chống lại mình, Trung Quốc có lý do để tỏ ra thận trọng.
Vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông có thể tạo ra nhiều vấn đề cho Bắc Kinh hơn là giải quyết. ADIZ có thể đẩy Malaysia ra khỏi giới hạn tự đặt lâu nay, và khiến Indonesia chính thức lao vào cuộc tranh chấp. Các nước xung quanh như Úc và Nhật Bản cũng ngờ vực hơn, và làm thế nào có thể tin vào thiện chí của sáng kiến « Một vành đai, một con đường (tức Con đường tơ lụa trên biển) » do Bắc Kinh đưa ra ?
Nhìn rộng hơn, một ADIZ bao trùm lên Biển Đông có thể đánh dấu một bước ngoặt thực sự, trong chủ trương của Trung Quốc không chỉ về tranh chấp chủ quyền trên biển, mà cả đối với khu vực Đông Á. Điều đó có nghĩa là Bắc Kinh đã trở nên quá tự tin để hành động, bất chấp các hậu quả trên trường quốc tế.
Trong trường hợp này, dù Trung Quốc vẫn đối phó được, nhưng theo Felix Chang, Bắc Kinh cần phải học được một điều là vùng lên thì có nguy cơ bị những làn gió ngược mãnh liệt quật lại.
 http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160505-lieu-trung-quoc-se-lap-vung-nhan-dang-phong-khong-tai-bien-dong

Giáo sư TQ: Không dùng quân sự, không chiếm được Biển Đông

Chúng tôi nhận ra rằng, nếu không có sức mạnh quân sự chúng tôi sẽ không giành được chiến thắng trận này ở Biển Đông.
Thời Ân Hoằng, giáo sư Đại học Nhân Dân Trung Quốc, ảnh: udn.com.
South China Morning Post ngày 12/5 bình luận, căng thẳng đang bùng phát trên Biển Đông chỉ một vài tuần trước khi Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở The Hague, Hà Lan ra phán quyết vụ Philippines khởi kiện Trung Quốc (áp dụng sai, giải thích sai, vi phạm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 - UNCLOS) ở Biển Đông.
Bắc Kinh tuyên bố có hơn một chục quốc gia châu Á, châu Âu và châu Phi ít nhất đã hỗ trợ một phần lập luận của Trung Quốc rằng, tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông cần được giải quyết bởi đàm phán giữa các bên liên quan trực tiếp mà không nên có sự can thiệp từ bên thứ 3. Đứng đầu nhóm này là Nga, Ấn Độ, Ba Lan, Sudan, Pakistan, Belarus và Brunei.
Truyền thông nhà nước Trung Quốc thì ra sức tuyên truyền, vụ kiện của Philippines là "mưu mô của Mỹ nhằm kích động chống Trung Quốc, kiềm chế Trung Quốc. Vấn đề Biển Đông chỉ là cái cớ để Mỹ can thiệp vào các vấn đề khu vực, khuấy động căng thẳng để cô lập Trung Quốc", xã luận tờ Nhân Dân nhật báo hôm Thứ Sáu 11/5 viết.
Mặc dù vẫn chưa chắc chắn Bắc Kinh sẽ phản ứng ra sao với phán quyết của PCA, nhưng một phán quyết có lợi cho Philippines sẽ giáng một đòn mạnh vào yêu sách của Trung Quốc, thiết lập tiền lệ cho các bên tranh chấp khác, South China Morning Post dẫn lời các nhà phân tích cho biết.
Tiến sĩ Bonnie Glaser từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và quốc tế Hoa Kỳ (CSIS) cho hay, những nỗ lực của Trung Quốc trong cuộc chiến ngoại giao về vụ kiện đã không thành công, ngay cả khi Bắc Kinh sử dụng thủ đoạn cây gậy và củ cà rốt. Quyền lợi của Trung Quốc không thể quan trọng hơn lợi ích của các nước khác và bạn bè không thể có được bằng đe dọa.
Tháng trước, Bắc Kinh tuyên bố đạt được cái gọi là "đồng thuận 4 điểm" với Brunei, Campuchia và Lào về vấn đề Biển Đông. Người phát ngôn Chính phủ Campuchia Phay Siphan lập tức bác bỏ tuyên bố này.
Pang Zhongyig, một giáo sư từ Đại học Nhân Dân Trung Quốc cảnh báo Bắc Kinh chớ đánh giá quá cao những ủng hộ này. Ông nói: "Ảnh hưởng của họ khá hạn chế và đòi hỏi của họ khá rõ ràng về lợi ích kinh tế."
Tiến sĩ Daniel Wei Boon Chua từ Đại học Công nghệ Nam Dương Singapore cảnh báo hậu quả nếu ASEAN bị Trung Quốc chia rẽ trong vấn đề Biển Đông sẽ chỉ làm các bên yêu sách liên minh lại với nhau.
Ngay cả truyền thông nhà nước Trung Quốc cũng cảnh báo Bắc Kinh chớ lạc quan thái quá, bởi hầu hết đồng minh của Trung Quốc không nhất thiết ủng hộ yêu sách chủ quyền và hàng hải của Trung Quốc trên Biển Đông một cách hoàn toàn.
Thời Ân Hoằng, giáo sư về quan hệ quốc tế Đại học Nhân Dân nói rằng, lập luận cho yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông dựa trên (cái gọi là) lịch sử, không phải là phổ biến với các nước láng giềng nên chưa chắc Bắc Kinh đã giành được ủng hộ lớn hơn.
Ông Thời Ân Hoằng nói: "Không thể phủ nhận rằng, về cơ bản chúng ta đơn thương độc mã trong cuộc chiến này ở Biển Đông. Quan hệ với các nước láng giềng của chúng tôi là quan trọng, nhưng chúng tôi nhận ra rằng, nếu không có sức mạnh quân sự chúng tôi sẽ không giành được chiến thắng trận này ở Biển Đông.
Đó là lý do tại sao có những dấu hiệu ngày càng tăng rằng, các nhà lãnh đạo hiện nay rõ ràng ưu tiên đề cao tăng cường sức mạnh cứng trong 30 năm qua và dường như không lùi bước trước sức ép quốc tế".
Một số nhà phân tích khác thì cho rằng, những lời lẽ hiếu chiến sắp tới của Bắc Kinh chủ yếu diễn cho dân Trung Quốc xem. Bắc Kinh thường tìm cách kích động tinh thần dân tộc để chuyển hướng sự chú ý của công chúng khỏi những quan tâm về các vấn đề chính trị, kinh tế trong nước.
Tiến sĩ Jay Batongbacal từ Đại học Philippines cho biết: "Trung Quốc đang thua trong trận chiến tại Tòa án và dư luận quốc tế, nhưng đây là một tình huống phần lớn do họ tự tạo ra".
Giáo sư Jerome Cohen từ Đại học Luật New York có chung đánh giá như Tiến sĩ Glaser, việc Trung Quốc từ chối tuân thủ luật pháp quốc tế chỉ làm cho nước này giống như một kẻ bắt nạt trong mắt phần còn lại của thế giới này. Những nỗ lực chống lại phán quyết của PCA chỉ tiếp tục làm hại sự theo đuổi của Trung Quốc xây dựng quyền lực mềm.
Thời Ân Hoằng cho hay, va chạm Trung - Mỹ trên Biển Đông nhiều khả năng sẽ trở thành trạng thái bình thường mới: "Căng thẳng sẽ tiếp tục leo thang bởi vì, đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, mục tiêu cuối cùng của họ là làm cho quân đội đủ mạnh để chống lại hoạt động tự do hàng hải của quân đội Hoa Kỳ, dần dần tiến tới xiết chặt tất cả các bên tranh chấp đối thủ trên Biển Đông".

Mỹ và vấn đề Biển Đông

Thiếu tá Mỹ nói tiếng Hoa trôi chảy, bị tình nghi tuồn các bí mật quốc gia có thể khiến Hải quân Mỹ thất thế trước Trung Quốc trên Biển Đông.
Thiếu tá hải quân Mỹ Edward Lin
Điểm yếu chết người
Như tin đã đưa hồi đầu tháng 4 vừa qua, một sĩ quan Hải quân Mỹ bị cáo buộc làm gián điệp vì đã tuồn các bí mật quốc gia có thể là cho Trung Quốc hoặc Đài Loan. Bí mật này liên quan tới cách thức Mỹ giám sát Biển Đông.
Theo hồ sơ của Hải quân Mỹ, nghi can là Thiếu tá Hải quân Edward Lin. Lin được sinh ra tại Đài Loan, sau đó nhập quốc tịch Mỹ và từng có cơ hội được tiếp cận với thông tin tình báo nhạy cảm của Mỹ.
Một cáo trạng của Hải quân Mỹ chỉ rõ Lin đã được phân tới trụ sở của Nhóm Tuần tra và Trinh sát - đơn vị có nhiệm vụ giám sát các hoạt động thu thập thông tin tình báo. Lin đã 2 lần truyền thông tin mật ra ngoài và 3 lần tìm cách truyền tin mật cho một đại diện của chính phủ nước ngoài.
Mặc dù cáo trạng không chỉ đích danh quốc gia có liên quan tới vụ này, nhưng quan chức trên tiết lộ cả Trung Quốc và Đài Loan đều có khả năng, đồng thời cho biết công tác điều tra vẫn đang được tiến hành.
Trong khi đó, Hãng tin USNI cho biết Lin nói tiếng Hoa trôi chảy và từng quản lý công tác thu thập các tín hiệu điện tử từ máy bay trinh sát EP3-E Aries II.
Bộ Ngoại giao và Quốc phòng Trung Quốc không phản ứng với yêu cầu phát biểu về vụ trên. Trong khi Bộ Quốc phòng Đài Loan cho biết họ không có thông tin về vụ việc, còn Bộ Ngoại giao Đài Loan từ chối phát biểu.
Theo giới phân tích, với nghề nghiệp và kiến ​​thức của Thiếu tá Lin về phương pháp thu thập thông tin tình báo nhạy cảm của Mỹ, Mỹ có rất nhiều lý do để lo ngại.
Lin từng là nhân viên của Thư ký phụ tá bộ phận quản lý tài chính và Trưởng ban tài chính. Lin có thể tiếp cận các kế hoạch vũ khí chiến lược có độ mật cao, trước khi được bổ nhiệm vào phi đội máy bay tuần tra đặc biệt của Marine Corps Air Station ở Kaneohe Bay như một nhân viên chuyến bay vào năm 2014.
Kinh nghiệm của Lin trong phi đội tuần tra là một mối quan ngại an ninh nghiêm trọng đối với Mỹ. Là một thành viên phi đội bay, Lin đã có kinh nghiệm quản lý việc thu thập tín hiệu điện tử từ máy bay EP-3E Aries II thu thập tín hiệu tình báo, đồng thời có nhiệm vụ tác chiến chống tàu mặt nước, tác chiến chống tàu ngầm, trinh sát và giám sát.
My lo mat van de Bien Dong?
Máy bay trinh sát EP-3E của Mỹ

Các máy bay Aries đã được nâng cấp đáng kể trong những năm gần đây và hiện cung cấp khả năng tình báo tín hiệu và video chuyển động, cho phép Hải quân xác định các mối đe dọa và nghe trộm các quân đội nước ngoài.
Ngoài ra, Lin có thể có quyền truy cập vào các máy bay do thám P-8A Poseidon.
Giới phân tích cho rằng ảnh hưởng của vụ gián điệp này là hết sức sâu rộng, nhất là ở khu vực Biển Đông, nơi căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc tiếp tục gia tăng do các hoạt động của quân đội Mỹ.
Hiện nay, cả P-8A và EP-3E đều đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi hoạt động Hải quân Trung Quốc trong khu vực. Như vậy, việc xác định khả năng chính xác và điểm yếu của mỗi loại máy bay này có tầm quan trọng sống còn đối với Bắc Kinh.
Mỹ đã tăng các chuyến bay giám sát ở khu vực này trong những tháng trước. Trong tháng 12/2015, Mỹ đã lần đầu tiên triển khai P-8A tới Singapore, động thái mà Trung Quốc mô tả là "quân sự hóa khu vực".
Trước khi đưa tới Singapore, Mỹ đã triển khai luân phiên P-8A ở Philippines để thực hiện chuyến bay giám sát trên Biển Đông.
Trong tình hình Biển Đông hiện nay, việc nắm các thông tin tình báo liên quan là một lợi thế chiến lược, giảm phán đoán không chắc chắn về hành động của các nước khác và mang lại thông tin rõ ràng về ý định của những nước này.
Đổi bí mật lấy tình?
Báo chí Mỹ đang đặt ra khả năng Edward Lin có thể đã bị “gạ tình” để đánh đổi bí mật tình báo.
Tờ The Daily Beast của Mỹ viết rằng hồi năm 2008, Lin từng nói rằng anh ta “luôn mơ được tới Mỹ, một miền đất hứa”. Lin nói: “Tôi lớn lên với niềm tin rằng mọi con đường ở Mỹ đều dẫn tới Disneyland”.
Thế nhưng giờ đây Lin bị cáo buộc làm gián điệp và có thể là để đánh đổi lấy sex, - The Daily Beast viết.
Thiếu tá này bắt đầu bị nghi ngờ khi tự ý rời vị trí và nói dối về điểm đến. Giới chức Hải quân Mỹ đã tình nghi trong một chuyến đi cá nhân như vậy, Lin đã gặp một người có quốc tịch Đài Loan và chuyển giao thông tin cho người này. Rất nhiều đồng nghiệp cũng tỏ ý nghi ngờ về hành vi của Lin khi được hỏi.
Một quan chức quốc phòng Mỹ tiết lộ thiếu tá Lin còn bị buộc tội mua dâm và rất có thể đã đổi tin tình báo lấy tình.
My co the lo bai tren Bien Dong
Edward Lin bị tình nghi đổi bí mật tình báo lấy tình

Lin từng thể hiện thái độ “miệt thị” đối với Trung Quốc và đây có thể là dấu hiệu đáng ngờ. Từ năm 2008, Lin đi du lịch rất nhiều nơi như Dubai, Trung Quốc, Đài Loan, Jordan và Anh.
Đáng chú ý trong số này có chuyến đi tới Đài Loan năm 2011 cùng một nhóm bạn. Một người bạn tiết lộ rằng chuyến du lịch do chính quyền Đài Loan tài trợ với hình thức du lịch văn hóa. Tham gia chuyến đi kéo dài 6 ngày này có cả các chuyên gia và học giả Mỹ nghiên cứu Trung Quốc.
Chị gái của thiếu tá này là Jenny Lin đã bác bỏ mọi cáo buộc đối với em trai mình. Jenny Lin nói: “Chỉ một điều tôi có thể nói rằng cậu ấy là một người Mỹ yêu nước và đáng tự hào. Eddy sẽ không bao giờ làm hại đất nước của mình. Eddy không bao giờ làm những gì bị cáo buộc”.
Trong khi tờ The Daily Beast thiên về khả năng Edward Lin tiết lộ thông tin tình báo cho Đài Loan thì tờ The Washington Times lại cho rằng thiếu tá này nhiều khả năng đã cung cấp thông tin cho Trung Quốc.
My co the lo bai tren Bien Dong
Máy bay P-8A Poseidon của Mỹ

Tờ này dẫn lời một cựu sĩ quan Thủy quân lục chiến Mỹ tên là Dakota Wood nói: “Một người như thiếu tá Lin có thể hiểu biết không chỉ về tính năng kỹ thuật của máy bay mà còn biết máy bay thực hiện nhiệm vụ như thế nào, cũng như người Mỹ đã biết gì về tín hiệu từ tàu ngầm và tàu nổi của các quốc gia khác”.
Theo chuyên gia này, một khi những thông tin như vậy được chuyển cho Trung Quốc, Trung Quốc sẽ thay đổi phương thức và trang thiết bị nhằm đánh bại khả năng và công nghệ giám sát của Mỹ, làm cho các chiến dịch của mình trở nên hiệu quả hơn và chiếm ưu thế trong thời chiến”.
Cũng theo The Washington Times, khi bị bắt thiếu tá Lin đã cố gắng lên một chuyến bay để tới Trung Quốc đại lục.
Những thông tin trên hiện vẫn chưa được xác thực, song có lý do để người Mỹ lo lắng khả năng bị Trung Quốc bắt bài, không chỉ ở Biển Đông mà còn trong một cuộc chiến tương lai.
http://www.biendong.net/bi-n-nong/6485-my-va-van-de-bien-dong.html

Mỹ bóp nghẹt TQ với “liên hoàn trận” tên lửa

Phát biểu về Học thuyết chiến lược quân sự mới của Mỹ tháng 2. 2012, tổng thống Obama tuyên bố, những lợi ích của Mỹ trong lĩnh vực kinh tế và an ninh quốc gia liên quan chặt chẽ với những sự kiện đang diễn ra trên khu vực Hoa Đông, Biển Đông và Ấn Độ Dương.

Tổ hợp tên lửa đối hạm Rubezh của Việt Nam


Tổng thống Mỹ cho biết, song song với việc thay đổi chiến lược sử dụng quân đội Mỹ và đồng minh trong trường hợp nổ ra cuộc xung đột vũ trang tại đây, nước Mỹ sẽ đặc biệt quan tâm đến tình hình và các mối quan hệ của khu vực này.
Những phân tích của các chuyện gia địa chính trị nước Mỹ cho thấy, Trung Quốc đang nhanh chóng thay đổi cán cân chiến lược trên biển đông về phía mình phương pháp bồi đắp các đảo nhân tạo, triển khai vũ khí trang bị ngăn chặn việc tiếp cận (anti-access/area-denial, A2/AD) những khu vực có lợi ích sống còn đối với Mỹ và các đồng minh.
Từ những động thái của Trung Quốc trên biển Đông, sự gia tăng về số lượng và chất lượng vũ khí trang bị,  cường quốc khu vực này có thể đe dọa nghiêm trọng vị thế duy nhất của người Mỹ trên bình diện toàn cầu.
Từ nguyên nhân trên, quân đội và hải quân Mỹ cần vận dụng những quan điểm mới, bảo đảm sự cân bằng chiến lược quân sự trên Biển Đông và Biển Hoa Đông trong lĩnh vực vũ khí thông thường, giảm thiểu tối đa nguy cơ từng bước bị đẩy ra khỏi vùng nước chiến lược quan trọng này.
Ý tưởng tối ưu trong việc gây sức ép và kiềm chế các hành động của Bắc Kinh là đe dọa phong tỏa các tuyến đường vận tải nhiên liệu và thương mại của Trung Quốc. Nền kinh tế sản xuất Trung Quốc là nền tảng của sức mạnh quân sự PLA, nếu bị bóp nghẹt, Bắc Kinh sẽ phải lùi bước.

\


Tuyến đường vận tải thương mại của Trung Quốc
Một trong những quan điểm như vậy chính là Air-Sea Battle Concept (Khái niệm tác chiến không-hải), nhất thể hóa sức mạnh của không quân hải quân nhằm bảo vệ những căn cứ quân sự Mỹ trong khu vực trước các mối đe dọa tên lửa đạn đạo, thay đổi cán cân lực lượng trong lĩnh vực vũ khí tấn công thông thường, tăng cường hiệu quả các chiến dịch dưới biển, hoàn thiện hệ thống C4I2 (Chỉ huy, kiểm soát, truyền thông, máy tính, tình báo, liên kết thông tin), hoàn thiện khả năng tác chiến điện tử và khả năng tác chiến không gian ảo.
Giải pháp then chốt để triển khai một thế trận tiến công – phòng ngự không biển và hình thành khả năng phong tỏa khu vực là phương pháp hiệp đồng lực lượng Không quân – Hải quân Mỹ và lực lượng đồng minh để có thể phong tỏa các khu vực biển khi cần thiết và có khả năng chọc thủng thế trận A2/AD của đối phương.  
Nghiên cứu này dẫn đến việc quân đội Mỹ phải gia tăng các loại vũ khí hiện đại như hệ thống phòng không, phòng thủ tên lửa, hệ thống tên lửa chống tàu trên các căn cứ, các đảo quan trọng, triển khai thêm các căn cứ hậu cần kỹ thuật và tăng cường lực lượng tàu sân bay, khu trục hạm Aegis trên biển Đông và biển Hoa Đông. Chưa có những tính toán cụ thể về binh lực, nhưng rõ ràng số lượng thực sự rất lớn.
Sức mạnh hải quân Trung Quốc gia tăng hàng năm
Theo bản báo cáo do Ủy ban Mỹ- Trung về kinh tế và an ninh (US-China Economic and Security Review Commission), tên lửa đạn đạo nhiên liệu rắn JL-2 đã đạt cấp độ sẵn sàng chiến đấu cuối năm 2013. Tầm bắn 4.000 hải lý (7.408 km). Trang bị cho tàu ngầm nguyên tử Type 094 (định danh Jin), tên lửa JL-2 sẽ đe dọa trực tiếp lãnh thổ Mỹ. Hiện nay hải quân PLA có 3 tàu ngầm hạt nhân trang bị tên lửa đạn đạo loại này, 2 chiếc nữa dự kiến sẽ được đưa vào trang bị trước năm 2020.
Trung Quốc hiện đang đóng 2 nguyên mẫu tàu ngầm nguyên tử trang bị tên lửa-ngư lôi mẫu Type 095 và tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo Type 096. Type 096 dự kiến sẽ trang bị tới 24 tên lửa SLBM JL-3, với tầm bắn 10.000km. Bất cứ chiếc tàu nào cũng có thể tấn công Mỹ từ các vị trí an toàn thuộc Trung Quốc. Như vậy, rõ ràng căn cứ quân sự trên đảo Guam cũng không an toàn.
Mặc dù hiện tại Trung Quốc không sử dụng tên lửa hành trình trên đất liền, nhưng hải quân PLA có khả năng tiến công các mục tiêu trên bộ bằng tên lửa hành trình phóng đi từ các chiến hạm. Tàu ngầm nguyên tử trang bị tên lửa-ngư lôi Type 095 và khu trục hạm Type 052D (mật danh Luyang III) sẽ được trang bị các tên lửa hành trình. Với các chiến hạm này, PLA có thể tiến công tất cả các mục tiêu bố trí ở phần Tây Thái Bình Dương, gồm cả đảo Guam.
Hiện nay, không quân hải quân PLA sở hữu 15 máy bay ném bom, đó là các máy bay H-6K mới mang tên lửa hành trình để tiêu diệt những mục tiêu mặt đất và có tầm hoạt động xa hơn so với phiên bản tên lửa hành trình trước đó.
PLA đưa vào biên chế phiên bản cải tiến của tên lửa đạn đạo DF-21 là DF-21D. Tầm bay đạt khoảng 810 hải lý (1.500 km). Ngoài ra còn có tên lửa đạn đạo DF – 26 có tầm bắn 4000 km, có thể tiêu diệt những mục tiêu trên đảo Guam, nằm cách lãnh thổ Trung Quốc 1.600 hải lý (3.000 km). Tên lửa DF – 41 có tầm bắn đến 14.500 km, bao trùm toàn bộ lãnh thổ Mỹ.
Hải quân PLA vào năm 2012 đã biên chế thêm 2 lớp chiến hạm mới: khu trục hạm trang bị tên lửa có điều khiển Luyang III và khinh hạm Thanh Đảo (mẫu thiết kế 056). Trung Quốc cũng đang đóng khu trục hạm mang tên lửa điều khiển Luyang II. Tiếp tục đóng hàng loạt khinh hạm Jiangkai-2 (mẫu thiết kế 054A). Tới năm 2020, dù hải quân Mỹ có gia tăng tốc độ đóng tàu thì Trung Quốc vẫn sẽ là nước có nhiều tàu chiến nhất thế giới và con số hàng năm hoàn thiện các chiến hạm nổi và tàu ngầm nhiều nhất.
Việc gia tăng binh lực ở khu vực biển Đông, Hoa Đông làm gia tăng ngân sách quân sự, quân đội Mỹ sẽ phải giảm bớt sự hiện diện ở các khu vực chiến lược khác. Vấn đề kiềm chế Trung Quốc không thể có giới hạn thời gian, do đó sẽ gặp sự phản kháng dữ dội của Lưỡng viện và hoàn toàn không khả thi bằng lực lượng Hải quân Mỹ.
Một phương pháp khả thi khác là thúc đẩy sự hình thành các hệ thống vũ khí phong tỏa các khu vực chiến lược, không làm gia tăng ngân sách quân sự Mỹ nhưng làm gia tăng đáng kể chi phí quân sự của Bắc Kinh, đẩy Trung Quốc vào cuộc chạy đua vũ trang tương tự như Liên xô trước đây. Hơn thế nữa, ngay cả khi hệ thống kiềm chế và làm suy sụp Trung Quốc thất bại, cuộc xung đột chuyển sang giai đoạn công khai, Trung Quốc cũng không thể gây thiệt hại quá lớn cho đồng minh châu Á và biến xung đột trên biển thành chiến tranh hạt nhân.
Tính hiệu quả của việc sử dụng tên lửa đối hạm tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương
Tình thế địa chính trị trên khu vực biển Đông, Hoa Đông đã có những thay đổi rất lớn, Washington phải tính đến sự tham gia của các đồng minh khu vực nhằm gia tăng sức ép lên Trung Quốc, xây dựng một hệ thống vành đai phong tỏa khu vực đồng thời không gia tăng binh lực Hải quân Mỹ, có nghĩa là không tăng ngân sách quốc phòng.
Từ khái niệm phong tỏa khu vực vận tải thương mại và năng lượng, vấn đề sử dụng tên lửa đối hạm trên đất liền càng trở nên cấp thiết. Nếu lực lượng quân đội Mỹ bố trí các tên lửa chống hạm trong khu vực chiến thuật, tên lửa có thể được sử dụng để bảo vệ lợi ích của các quốc gia đồng minh và đối minh, đồng thời có thể thực hiện nhiệm vụ phong tỏa đường biển của kẻ thù tiềm năng trong điều kiện căng thẳng gia tăng và xung đột có giới hạn.


Tuyến phòng thủ của Không quân - Hải quân Mỹ vùng Tây Thái Bình Dương

Điều này có thể được hiểu như một liên minh quân sự trong khái niệm tác chiến “Không – Biển” mở rộng.
Hiện nay trong khu vực biển Đông và biển Hoa Đông có đến 45 loại tên lửa chống tàu khác nhau, có trong trang bị của quân đội các nước như Indonesia, Malaisia, Việt Nam, Bruney và tất nhiên là cả Trung Quốc. Tính năng kỹ-chiến thuật của những loại phổ biến nhất trong số đó và dự kiến đưa vào trang bị được giới thiệu trong bảng dưới đây.
Các nhà phân tích của hãng RAND đã đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng các tên lửa đối hạm dựa trên những khả năng về kỹ thuật của chúng và vị thế của tên lửa đối hạm trong chiến lược mà Mỹ đang tích cực tiến hành nhằm phong tỏa sự tiếp cận của hải quân PLA, trong trường hợp PLA tiến hành các hoạt động quân sự chống lại đồng minh và đối tác của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Quan điểm tiếp cận là luận điểm phải kiềm chế tối đa lực lượng hải quân PLA trong lãnh hải Trung Quốc, không cho phép các phương tiện mang tên lửa đối hạm vượt ra ngoài vùng nước quốc tế để tiến hành các hoạt động tác chiến.



Vành đai phong tỏa chống các hoạt động vận tải thương mai và triển khai lực lượng của PLA
Tất nhiên kiềm chế hải quân PLA bằng tên lửa đối hạm bố trí trên đất liền không là không thể, cần phải có sự phối hợp của không quân và hải quân Mỹ, vai trò của loại vũ khí này chỉ có thể có hiệu quả trong chiến lược kiềm chế tổng thể.
Ưu điểm của loại vũ khí chống hạm trên đất liền, theo hãng RAND nhận định, gây khó khăn đáng kể cho hoạt động của quân đội và hải quân PLA khi xuất hiện nguy cơ xung đột công khai với đồng minh và đối tác của Mỹ.
Tên lửa chống hạm – tên lửa phòng thủ bờ biển có tính cơ động cao và rất thuận tiện cho khai thác sử dụng. Nếu các tên lửa này được bố trí dọc theo hành lang vận tải và tuyến đường cơ động của Trung Quốc sẽ tạo ra áp lực rất lớn, buộc hải quân PLA phải sử dụng các nguồn dự trữ chiến tranh lớn hơn nhiều để chế tạo các phương tiện phát hiện và đánh chặn tên lửa đối hạm. Phối hợp với lực lượng khu trục hạm, tàu ngầm tấn công và không quân Mỹ, việc phong tỏa đường biển đối với Trung Quốc sẽ có hiệu quả cao nhất.

Tính năng kỹ-chiến thuật của các loại tên lửa đối hạm bố trí trên đất liền phổ biến nhất ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương
 Các chuyên gia RAND đã phân tích vai trò của các hệ thống tên lửa đối hạm của các nước trong chiến lược kiềm chế Trung Quốc. Khi lực lượng của Mỹ bố trí tại khu vực này tương đối hạn chế tại các nước đồng minh và đối tác ở Đông Á, phát huy năng lực của lực lượng tên lửa đối hạm không đòi hỏi những chi phí quá tốn kém cho quân đội Mỹ.
Quân đội các nước sở tại đã đảm bảo các tổ hợp vũ khí này hoạt động bình thường, điều quan trọng cần thiết là các những quân nhân Mỹ có thể tham gia vào các hoạt động  của quân đội nước sở tại, đang những tên lửa đối hạm này trong quá trình diễn tập chung nhằm đưa tất cả các lực lượng tên lửa phục vụ cho mục đích kiềm chế hải quân Trung Quốc.
Hơn thế nữa, trong điều kiện thuận lợi, lực lượng hải quân các nước khu vực Đông Nam Á có thể tiếp cận hệ thống thông tin tình báo, xác định và định vị các mục tiêu quan trọng trong các vùng nước cần thiết, cũng cấp dịch vụ dẫn đường vệ tinh, định vị mục tiêu, đây là vấn đề quan trong và thực sự cần thiết. Những cơ sở dữ liệu này sẽ khiến lực lượng Hải quân Trung Quốc rơi vào tình trạng bị đe dọa tấn công trên mọi vùng nước biển Đông và Hoa Đông.
 http://www.biendong.net/xung-dot-chien-tranh/6475-my-bop-nghet-tq-voi-lien-hoan-tran-ten-lua.html



Mỹ “ra tay không thương tiếc” nếu Trung Quốc khai chiến Biển Đông

VietTimes -- Theo trang tin tiếng Trung Worldjournal ngày 11/5, Đô đốc Harry Harris trả lời phỏng vấn tờ Thời báo New York cho hay, lực lượng dưới quyền ông đã làm tốt chuẩn bị để có thể sẵn sàng “ngày đêm khai chiến”.
Lê Việt Dũng - /
Hải quân Mỹ và Nhật Bản tập trận trên biển gần Philippines. 
Hải quân Mỹ và Nhật Bản tập trận trên biển gần Philippines.
Theo Worldjournal, phát biểu này của Đô đốc Harry Harris được chuyên gia cho là đã tiết lộ kế hoạch sử dụng vũ lực tiềm tàng của Quân đội Mỹ tại khu vực Biển Đông.

Vào tháng trước, Trung tâm nghiên cứu Toàn cầu hóa Canada công bố một báo cáo cho rằng, hiện nay, Mỹ triển khai hành động tự do đi lại thực chất là để bảo đảm cho các tàu chiến Mỹ có thể tự do ra vào Biển Đông. Đây là một phần trong kế hoạch sẵn sàng chiến đấu với Trung Quốc của Lầu Năm Góc.

Chiến lược tác chiến hợp nhất không-hải quân của Mỹ cho thấy, nếu xảy ra một cuộc chiến tranh với Trung Quốc, một là Mỹ sẽ tiến hành ném bom quy mô lớn đối với Trung Quốc, hai là Mỹ sẽ ngăn chặn tàu thuyền Trung Quốc vận chuyển năng lượng và nguyên vật liệu trên Biển Đông.

Dự kiến, Toà trọng tài thường trực Liên hợp quốc sẽ nhanh chóng đưa ra phán quyết về vụ kiện Biển Đông của Philippines. Dư luận quốc tế phổ biến cho rằng, tòa sẽ đưa ra phán quyết bất lợi cho Bắc Kinh, điều này sẽ làm cho quan hệ Trung-Mỹ đang ngày càng yếu ớt có sự thay đổi đột ngột.

 
Đô đốc Harry Harris, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương.
Theo trang thông tin tiếng Trung Quốc này, tổng chỉ huy của Quân đội Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Đô đốc Harry Harris sẽ "ra tay không thương tiếc" đối với Trung Quốc. Các phát biểu cứng rắn của ông không chỉ đã chọc giận Bắc Kinh, mà còn khiến cho Washington khó xử.

Khi được hỏi về khả năng khai chiến vì bãi cạn Scarborough, Đô đốc Harry Harris cho hay, để bảo vệ lợi ích của Mỹ, "tôi không thể không sử dụng công cụ mà mình có, đó là công cụ quân sự, là công cụ rất tuyệt vời".

Tướng Harry Harris cho rằng, ông hoàn toàn không lo ngại giữa Quân đội Trung Quốc và quân đội các nước khác ở Biển Đông sẽ xảy ra hiểu lầm. "Tôi cho rằng, họ là quân đội chuyên nghiệp".

Rủi ro lớn hơn ở chỗ, các cuộc xung đột do tàu bán quân sự của Trung Quốc gây ra có thể sẽ buộc lực lượng Mỹ phải triển khai công tác phòng thủ của đồng minh Mỹ.

Hiện nay, Tòa trọng tài thường trực Liên hợp quốc sắp đưa ra phán quyết về vụ kiện Biển Đông của Philippines. Việc Trung Quốc một mực từ chối tham gia, chấp nhận vụ kiện này được nhiều học giả dự báo là, 99% Trung Quốc sẽ thua kiện Philippines.

Các học giả cho rằng, một khi Trung Quốc thua kiện, các nước xung quanh Biển Đông như Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia sẽ đi theo Philippines, khởi kiện Trung Quốc ra tòa, khiến cho Trung Quốc phải mệt mỏi ứng phó. Đồng thời, các nước như Mỹ, Nhật Bản đã sẵn sàng cho một cuộc bao vây toàn diện đối với Trung Quốc, ngoại giao Trung Quốc sẽ rơi vào cục diện bất lợi.

 

Tàu khu trục USS William P. Lawrence Hải quân Mỹ. Nguồn ảnh: Rappler.com.
Vấn đề chủ yếu mà Đô đốc Harry Harris quan tâm là, Trung quốc sẽ đưa ra phản ứng cứng rắn thế nào đối với phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế. Nếu Trung Quốc tiếp tục thúc đẩy hoạt động kiểm soát tuyến đường hàng hải Biển Đông, bất kể là ngắn hạn hay dài hạn, Mỹ đều phải áp dụng đáp trả quân sự nhất định.

Gần đây, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel cũng cảnh báo, nếu bất cứ bên nào liên quan đến vụ kiện Biển Đông không tuân thủ phán quyết của Tòa trọng tài sẽ tạo ra tiền lệ nguy hiểm cho trật tự quốc tế và biện pháp giải quyết hòa bình tranh chấp được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

Bốn năm trước, Trung Quốc cướp đi bãi cạn Scarborough từ tay Philippines. Một quan chức Mỹ cho rằng, sự lợi hại có liên quan là cực kỳ lớn. Bởi vì, khi gặp gỡ nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình ở Washington gần đây, Tổng thống Mỹ Barack Obama từng cảnh báo, Trung Quốc không được có hành động ở bãi cạn Scarborough hoặc lập ra cái gọi là "vùng nhận dạng phòng không" (ADIZ).

Bất kỳ bên nào đều không hy vọng để xảy ra xung đột vì những đảo đá bé nhỏ trên Biển Đông. Nhưng, khả năng này cần phải cân nhắc. Quan chức Lầu Năm Góc cho rằng, Mỹ có thể sẽ làm rõ lập trường đối với bãi cạn Scarborough.

Điều cần lưu ý là, hiện nay, Mỹ đã tăng cường hiện diện quân sự ở Philippines. Philippines đã mở cửa 5 căn cứ quân sự cho Quân đội Mỹ triển khai luân phiên, tạo khả năng cho Mỹ triển khai các hành động phản ứng nhanh khi Biển Đông xảy ra xung đột.

Trong các cuộc tập trận thường niên giữa Mỹ-Philippines như Balikatan, hai nước đã tổ chức diễn tập nhiều khoa mục, trong đó có tập đổ bộ đánh chiếm đảo. Ngoài ra, vào tháng 4 vừa qua, Mỹ đã phô trương sức mạnh quân sự răn đe Trung Quốc bằng cách điều 6 máy bay tấn công A-10C và 2 máy bay trực thăng Pave Hawk bay trên bầu trời bãi cạn Scarborough, khu vực Trung Quốc cưỡng đoạt của Philippines từ năm 2012.

Lê Việt Dũng
 gioi/my-ra-tay-khong-thuong-tiec-neu-trung-quoc-khai-chien-bien-dong-55463.html

No comments: