Saturday, April 30, 2016

NGUYỄN THIÊN-THỤ * PHAN LẠC PHUC






PHAN LẠC PHÚC 
NGUYỄN THIÊN -THỤ

Phan Lạc Phúc sinh năm 1928 ở làng Hữu Bằng , huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt. Ông có 5 anh em, nhưng chỉ có hai anh em, là ông và Phan Lạc Tiếp, vào nam di cư năm 1954. Sau ông học đại học Văn Khoa Sài Gòn, rồi nhập ngũ sĩ quan trừ bị Thủ Đức khóa 2, và trường Thông Tin Báo Chí Hoa Kỳ (F.Slocum-NewRochellle-NY).Ông làm chủ bút nhật báo Tiền Tuyến, cơ quan ngôn luận của quân đội Việt Nam cộng hòa; cộng tác với Chỉ Đạo, Tiền Phong, Nghệ Thuật.. . Sau 1975, ông bị giam tại các trại Liên trại 2 Sơn La, Yên Hạ (Sơn La), Tân Lập ( Vĩnh Phú). Năm 1985, ông được trả tự do, và định cư tại Sydney (Úc) năm 1991. Từ năm này, ông cộng tác
với các báo Triêu Dương (Úc), Ngày Nay (Texas)- Minesota- Arizona), Khởi Hành (California), Thời Báo (Toroto, Canada), Quê Mẹ (Pháp). Ông dùng nhiều bút hiệu: Ký giả Lô Răng, Thiên Khải,v.v... Các bài ký của ông được xuất bản thành hai tập: Bè Bạn Gần Xa , Văn Nghệ, Cali, 2000 và Tuyển Tập Tạp Ghi, Văn Nghệ, Cali, 2002.


Hai tác phẩm trên đều là bút ký và mang chung hai chủ đề: tù đày và bạn bè. Riêng ''Tuyển Tập Tạp Ghi'' còn mang thêm một chủ đề nữa, đó là quê hương. Ông đã bị cộng sản giam giữ mười năm trời, các bút ký của ông là những hình ảnh của những cuộc đời tù đày dưới ách cộng sản nhưng vô hình chúng nối kết lại trong một không gian và thời gian của lịch sử dân tộc cho nên cũng giống như một trường thiên tiểu thuyết. 

Trong Bè Bạn Gần Xa, trước tiên, ông đã nói lên tội ác của cộng sản trong việc đưa người ra Bắc. Họ nhốt các sĩ quan và nhân viên cộng hòa trong những hầm tàu thủy và những khoang tàu lửa chật chội, bẩn thỉu : Sau ba ngày đem lênh đênh trên biển, trong một hầm tàu chạng vạng tối tăm, chúng tôi như mê muội đi với phân và nước tiểu lênh láng ở sàn tàu, với sự đói không dám ăn, khát không dám uống. Càng đại tiểu tiện nhiều thì chúng tôi càng chịu đựng thêm mùi hôi thối, càng ngất ngư vì thiếu khí trời. Rời tàu ở Bến Thủy, Vinh, chúng tôi đợi qua đêm. Sáng mai từ 5 giờ sáng lên tàu lửa. [. . .]. Toa xe lửa chở súc vật được đóng chặt, chỉ có hai cái cửa bằng cuốn sách ở trên cao. Trời mùa nóng, cái nắng ở ngoài, hơi người, hơi phân súc vật bốc lên, khí trời như đặc lại.. .( Hoàn toàn là sự thật, 51). 

Cộng sản những tù nhân như súc vật, bắt nhốt trong những toa xe lửa chật chội, hôi thối: Hằng trăm người tống lên một toa xe chật cứng, hơi người hơi phân súc vật bốc lên không lối thoát. [. ]. Như một lũ côn trùng, mọi người ngổn ngang, bò lăn trên sàn, dùng hết khả năng còn lại của giác quan đi tìm một nơi nào có một cái khe nhỏ, một vết nứt hay một cái lỗ ở sân tàu tranh nhau để mũi, để mồm vào đó hít lấy một chút dưỡng khí (Chuyến tàu định mệnh, 55-56)




Phan Lạc Phúc đã nói đến cảm giác của ông trong những giây phút địa ngục đó: Con người như mê đi, không biết rằng mình đang sống hay mình đang chết. Người ta phản ứng theo bản năng. Từ sáng tới giờ không được nghỉ, không được xuống xe, bọng dái vừa tức vừa căng phồng mà không được đái. Đái vào đâu bây giờ, cứ nhịn. Nhưng đến lúc nhịn không được, ý thức tê liệt đi, tôi đang nằm như tỉnh như mê bỗng thấy bất thần khoan khoái và nóng lên ở hạ thể. Tôi đang nằm trên sàn xe, đang đái ra quần. Tôi đang đái và được đái. Sự bài tiết chờ đợi từ sáng tới giờ bỗng chốc được khai thông, sung sướng quá. Nhưng sự sung sướng không được lâu. Cái dấp dính của nước tiểu hòa lẫn phân bò lại làm cho cái không khí quánh đặc thêm khai nồng. ( Chuyến tàu định mệnh, 56). Kết quả cuả chính sách vô nhân đạo đó, một số sĩ quan Việt Nam đã chết trên đường ra Băc. Đó là trung tá Ngô Văn Hùng (50) và trung tá Lan. Phan Lạc Phúc đã kể khá tường tận về giờ phút cuối của trung tá Lan: người nằm đó trung tá Lan, không bao giờ dậy nữa. Chết rồi. Không biết chết lúc nào. Người cúi xuống ôm cái xác bất động ấy lên là một người bạn tù tôi mới quen đêm qua ở Bến Thủy, Vinh, khi ngồi qua đêm đợi giờ lên tàu lửa. Đó là thượng tọa Thích Thanh Long, nguyên trung tá Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật giáo..(58). 

Người cộng sản rất độc ác. Họ đem các tù nhân ra Bắc vì nhiều lý do. Thứ nhất, họ muốn dùng sức lao động của tù nhân để khai phá núi rừng miền sơn cước. Thứ hai, họ muốn dùng nhân dân của họ bao vây tù, và muốn dùng địa thế xa lạ và hiểm trở để ngăn tù trốn, và cuối cùng là họ muốn dùng khí hậu khắc nghiệt của miền sơn cước Bắc Việt để hành hạ các tù nhân. Phan Lạc Phúc đã viết nhiều về cái lạnh của miền Bắc: Nhà tù đã đổ bây giờ được che tạm bằng ni lông, hoặc lợp bằng tranh mỏng. Sơn La là miền cao nên lạnh sớm. Mới tháng 11, gió bấc đã lồng lộng thổi về. Đến cuối tháng 12, lạnh vào cao điểm. .[ ..]. Mà xưa nay cái lạnh và cái đói nó có liên hệ ''hữu cơ'' với nhau. Càng đói thì càng rét- mà càng rét thì càng đói. Anh em ta đã có người '' nằm xuống'' vì đói lạnh. Vũ Văn Sâm (viết văn, làm nhạc) chết đêm 16 rạng 17 tháng 11 năm 1976 bên bệnh xá, sau cơn gió mùa đông bắc đầu tiên. Đến đầu tháng giêng 1977( không rõ là ngày 3 hay 13 tháng giêng , tôi nhớ không được kỹ lắm), Ngô Quý Thuyết toà án quân sự vùng 4 cũng đi luôn, đi rất êm đềm, rất lặng lẽ ( Bạn tù Sơn La, 59, 67 ).
Người cộng sản đã dùng cái đói để hành hạ các chiến sĩ ta. Trong các chế độ, tù nhân được phát lương thực. Trong chế độ cộng sản, tù nhân phãi sản xuất lấy lương thực mà sống, it khi được cấp lương thực. Dù sản xuất được nhiều, người tù cũng chỉ được hưởng rất ít. Lúc nào, người từ cũng bị cái đói hành hạ. Phan Lạc Phúc viết: Từ sáng đến giờ, mỗi đứa chúng tôi xách it ra cũng hàng trăm đôi nước, chân tay, mình mẫy rã rời, bởi vì buổi sáng có cái gì vào bụng đâu. Dạo này hết bột mì cứu trợ rồi. Cái gọi là ''bữa sáng'' chỉ là một chén nước cháo bột khoai mì loãng đày mùi hôi mốc. Không ra đâu vào đâu. (Bạn tù Sơn La, 70).
Phan Lạc Phúc đã nhấn mạnh về cái đói thường xuyên ở trong tù:
Lũ tù cải tạo chúng tôi ra Bắc nếm mùi xã hội chủ nghĩa, đói quanh năm suốt tháng, đói triền miên, đói dài dài, miếng sắn, miếng khoai là ước mơ to lớn nhất. Từ sự kiện này, tôi mới nhận ra rằng cái nghệ thuật cao tay của người Bôn sê vich trong việc quản trị là nghệ thuật nắm cái dạ dày. Ngày ấy, ngoài Băc chế độ tem, phiếu còn đang thịnh hành, lương thực còn do tay nhà nước quản lý. Anh em tù lên huyện Phù Yên lĩnh gạo về cho hay rằng nhân dân không ai có quyền được có quá 5 ký gạo trong nhà (78). 

Người tù phải chịu bao nỗi đắng cay của phận mình và của cả một dân tộc. Người tù còn phải chịu những đau khổ cho thân nhân họ. Đa số gia đình bị cộng sản tịch thu gia sản, và đuổi đi kinh tế mới như chính gia đình Phan Lạc Phúc (124); Trung tá L. râu đau khổ vì con trai tử trận tại Cam pu chia (121). Đau đớn nhất là thân nhân người tù bị cướp bóc, hãm hiếp trên đường vào trại thăm nuôi chồng, cha (178-179). Ngoài bọn công an tàn ác, tù nhân còn bị ba kẻ thù hành hạ, đó là ăng-ten, chuột và rệp (117). Có một nhân vật rất đặc biệt là một công an già, là cụ Việt rất tử tế đối với tù nhân ( Tết trong trại tù Yên Hạ, 83- 107). Và trong số những tù nhân hèn hạ, làm ăn ten cho cộng sản, chúng ta thấy hiện lên những khuôn mặt rạng rỡ của can đảm và nhân hậu. Đó là thượng tọa Thích Thanh Long, thể hiện tinh thần bi, trí dũng của nhà Phật. Đó là Nguyễn Hữu Luyện, một biệt kích can trường bất khuất của tinh thần uy vũ bất khuất. Và đó là bác sĩ VN , và ông A ở trại K2 (155-160).

Trích NGUYỄN THIỆN THỤ -VĂN HỌC HIỆN ĐẠI 2006 )

No comments: