Saturday, April 16, 2016

HUY PHƯƠNG * TRẦN VĂN HƯƠNG




Những ngày cuối cùng 
của Tổng Thống Trần Văn Hương 

Huy Phương




Nhân cuộc phỏng vấn tác giả Trần Văn nhân cuốn sách viết về cựu Trung Tướng Ðặng Văn Quang trên đài SBTN, chúng tôi đã nhận được điện thoại của ông Trần Văn Ðính, thứ nam của Cựu Tổng Thống Trần văn Hương, nhờ chúng tôi viết lại nhiều thông tin trên báo chí chưa rõ hay nói sai, kể lại những ngày cuối cùng của Cụ Trần Văn Hương tại Saigon cũng như câu chuyện liên quan đến Tướng Ðặng Văn Quang. Ông Trần Văn Ðính năm nay đã 87 tuổi, hiện sống tại Nam California, đã là phụ tá đặc biệt cho thân phụ ông trong nhiều năm, từ 1965-1975.





Cụ Trần văn Hương và cháu nội Trần Thủy Vân (1967- 1997)
con gái ông bà Trần Văn Ðính. (Hình gia đình chụp năm 1968)


Hai người con, hai chí hướng
Theo sự trình bày của ông Trần Văn Ðính, ông bà Trần Văn Hương chỉ có hai người con trai.

Người con lớn là Trần Văn Dõi, sinh năm 1924 (nhiều người như các ông Hứa Hoành, Huỳnh Văn Lang đã ghi lầm là Trần văn Giỏi - vì Cụ Hương đã có một người em ruột tên Giỏi (1), và nhiều bài khảo cứu dựa theo tài liệu của Mỹ lại không bỏ dấu, mà chỉ ghi là Doi). Khi phong trào kháng chiến nổi lên, đang theo học tại trường “College de Can Tho.” ông Dõi bỏ học theo Việt Minh. Khi phái đoàn Hồ Chí Minh qua Pháp dự Hội Nghị Fontainebleau trở về tới Vũng Tàu, ông Dõi theo ra Bắc. Năm 1948, ông được gửi theo học trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn và đổi tên là Lưu Vĩnh Châu (lấy họ mẹ), sau này tham gia trận Ðiện Biên Phủ với cấp bậc đại úy Công Binh, là đảng viên cộng sản.

Theo tài liệu, ông Dõi sau khi biết thân phụ mình là phó tổng thống VNCH, đã trình sự việc lên ông Ung Văn Khiêm là tổng trưởng Nội Vụ miền Bắc thời đó. Về phần Cụ Hương cũng đã xác nhận với tình báo Hoa Kỳ về chuyện cụ có một đứa con trai bên kia giới tuyến.



Một thời gian lâu sau khi CS vào Saigon, ông mới được phép đem gia đình (vợ tập kết và hai con, một trai một gái) vào gặp cha, và ít lâu sau dọn về ở với Cụ Trần Văn Hương tại số nhà 216 Phan Thanh Giản (sau này đổi lại Ðiện Biên Phủ). Con trai ông Dõi hiện làm việc tại Saigon và cô con gái hiện sống ở Hungary.


Sau khi Cụ Trần Văn Hương qua đời năm 1982, ngôi nhà này được chính quyền “cho phép” bán, chia cho gia đình em gái út Cụ Hương và gia đình ông Dõi. Ông Trần Văn Dõi đã qua đời năm 2011 tại quận Tân Bình, Saigon.


2. Người con thứ nhì, là Trần Văn Ðính, sinh năm 1925, chính là người sống với Cụ Trần Văn Hương, làm phụ tá đặc biệt cho Cụ từ năm 1965 cho đến trước ngày bàn giao chức vụ tổng thống cho ông Dương Văn Minh vào ngày 28 tháng 4, 1975.


Thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, năm 1955, trước khi Cụ Trần văn Hương theo lời mời của TT Ngô Ðình Diệm ra làm Ðô Trưởng Saigon-Chợ Lớn thì ông Trần Văn Ðính đã tự túc xuất ngoại sang Anh Quốc. Ông đã học và làm việc tại Londre 3 năm, Paris (Pháp) 2 năm và Francfurt (Tây Ðức) 5 năm. Cuối năm 1964, khi Cụ Trần Văn Hương lên làm thủ tướng lần thứ nhất, ông đã được gọi về, như một người thân tín, sống gần gũi, giúp thân phụ làm phụ tá đặc biệt. Ông lập gia đình tại Saigon với một người mà ông đã từng gặp tại Paris 6 năm về trước, ông bà có hai người con, trai là Trần Bảo Danh hiện sống tại Oregon và gái là Trần Thủy Vân trong tấm hình chụp với ông nội trên trang báo này.


Ngày 21 tháng 4, 1975, sau khi ông Nguyễn Văn Thiệu bàn giao chức vụ tổng thống lại cho Cụ Trần Văn Hương, trước tình hình căng thẳng tại Saigon, Ông Trần Văn Ðính muốn thu xếp cho vợ con rời Việt Nam và ở lại bên cạnh cha, nhưng cuối cùng Cụ Hương không đồng ý đã hối thúc con trai rời Việt Nam cùng với gia đình.


Năm 2005, ông Trần Văn Ðính có về Việt Nam và có gặp anh là Trần Văn Dõi, nhưng ông cho biết anh em xa nhau đã lâu ngày, lại khác chí hướng, không mấy hứng thú để trò chuyện. Hiện nay ông bà Trần Văn Ðính đều đã già, đang sống cô đơn trong một khu mobil home thuộc thành phố Huntington Beach, vì con trai ở xa và cô con gái đã mất năm 1997 vì chứng ung thư máu.






Ông Trần Văn Ðính, 87 tuổi, thứ nam Cụ Trần văn Hương, chụp tại nhà riêng ở Huntington Beach, California. (Hình: Huy Phương)


Túng quẫn nhưng giữ trọn chí khí

Trong tiểu sử của Cựu Tổng Thống Trần văn Hương, không ai nghe nói đến cụ bà đệ nhất phu nhân cũng như trong suốt thời gian Cụ Hương làm việc trong chính phủ VNCH, không ai biết đến bà Trần Văn Hương làm gì ở đâu? Ông Trần Văn Ðính cho chúng tôi biết hai ông bà sống riêng đã nhiều năm một cách tự nhiên, vì không hợp tính, và phần Cựu Tổng Thống Trần Văn Hương không muốn có đàn bà xen vào việc nước. Chỉ trong thời gian cuối cùng ốm đau, bà Trần Văn Hương mới dọn về ở đường Công Lý và mất vào đầu năm 1975.


Chúng ta cũng đã biết trong những ngày cuối cùng của VNCH, trước khi người Mỹ quyết định bỏ mặc cho VNCH tự chiến đấu chống cộng sản, Ðại Sứ Martin của Hoa Kỳ đã chính thức gặp Tổng Thống Trần Văn Hương và mời tổng thống rời khỏi nước, nhưng Tổng Thống Trần Văn Hương đã khẳng khái trả lời: “Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với dân chúng một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước.”


Cụ Trần Văn Hương đã lui về căn nhà 216 đường Phan Thanh Giản, tại đây cụ sống với vợ chồng người em gái út cho đến lúc qua đời. Theo ông Trần Văn Ðính, đây là căn nhà mà năm 1969, khi rời chức thủ tướng để trao chức vụ này cho ông Trần Thiện Khiêm, không có nhà ở, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã cấp cho ông. Tuy mang số 216, đây là một căn nhà nhỏ hẹp, nằm sâu trong hẻm, sau lưng nhà của ông Trần Ngọc Liễng, loại nhà cấp cho các bộ trưởng nhưng vì nhà đã lâu năm, cũ kỹ, xuống cấp, không ở mặt tiền, bị mọi người chê nên mới còn lại. Chính Cụ Hương đã từ chối lời đề nghị cho sửa sang lại vì sợ tốn công quỹ, do đó, ngôi nhà còn yên, sau 1975, không bị CS chiếm như nhưng căn khác, nhưng báo chí CS cho rằng vì lý do nhân đạo nên ngôi nhà này không bị tịch thu.


Theo nguồn tin của CS thì sau năm 1975, Cụ Trần Văn Hương được trợ cấp tem phiếu hạng E dành cho một “cựu tổng thống Ngụy,” nhưng theo lời ông Trần Văn Ðính thì Cụ Hương không có hộ khẩu vì không làm đơn xin “phục hồi” quyền công dân như cụ đã nói: “Chừng nào những người tập trung ‘cải tạo’ được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi!”


Chính vì thái độ này, mà Cụ bị CS quản chế, không hộ khẩu, làm sao có tem phiếu, ông Ðính nói. Cựu Tổng Thống Trần Văn Hương không bao giờ ra khỏi nhà, ốm đau, không những sống đạm bạc mà còn thiếu thốn. Người chăm sóc tận tình cho Cụ chính là người em rể sống với Cụ. Theo lời một người cháu Cụ kể chuyện với nhà văn Hứa Hoành, đã có lúc Cụ giao cho bà em ra chợ bán một củ sâm Ðại Hàn Cụ còn cất giữ và những bộ đồ vest để lấy tiền mua thức ăn cho cả gia đình. Cụ qua đời vào ngày 27 tháng 1, 1982 (nhằm ngày mồng Ba Tết), hưởng thọ 80 tuổi, hài cốt được hỏa thiêu.


Cụ Trần Văn Hương và một con người khí tiết, yêu nước đã hai lần làm Thủ tướng, phó tổng rồi tổng thống VNCH, đã mất đi trong một hoàn cảnh, gần như bị quên lãng.


Cựu Tướng Trần Thiệm Khiêm nên đọc bài này
Mời cựu Đại Tướng /T.T. Khiêm nên đọc bài viết này và suy ngẫm so sánh với cựu TT Trần văn Hương và Thủ Tướng Siril Matak

From: Tinh Hoang

Cựu Tổng Thống Trần Văn Hương không chịu di tản

Trong ngày 29 tháng 4, dù rất bận rộn trong việc di tản hàng chục ngàn người Mỹ và người tị nạn VN. Đại sứ Martin cũng đã tìm cách đến gặp cụ Trần Văn Hương, cựu Tổng Thống VNCH tại phủ Phó Tổng Thống trên đường Công Lý lần chót.

Theo GS Nguyễn ngọc An, bạn thâm giao của cụ Hương thì cuộc gặp gỡ nầy đã diễn ra như sau :



« Cũng ngày đó, 29 tháng 4 năm 1975, đại sứ Hoa Kỳ, ông Martin đến tư dinh đường Công Lý với một tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp. Đại khái đại sứ nói :



« Thưa Tổng Thống, tình trạng hiện nay rất nguy hiểm. Nhơn danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng Thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà Tổng Thống muốn. Chính phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng Thống cho đến ngày TT trăm tuổi già»



Tổng Thống Trần Văn Hương mĩm cười trả lời :



«Thưa Ngài đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn Ông đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết Cộng Sản vào được Saigon, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.»



Khi nghe câu «Les États-Unis ont aussi leur part de responsabilité s (Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó), đại sứ Martin giựt mình nhìn trân trân ông Trần Văn Hương. Năm 1980, ông Hương thuật lại với tôi: Dứt câu chuyện, on se sépare sans même se serrer la main» (GS Nguyễn Ngọc An. Cụ Trần Văn Hương, đăng trên Thời Luận không rõ ngày)



Cựu đại úy Nguyễn Văn Nhựt, sĩ quan tùy viên của phó Tổng Thống Trần Văn Hương cho người viết biết vào những ngày tháng cuối cùng trong tháng 4 ,1975, cụ Trần Văn Hương đã nói với anh em phục vụ tại phủ Phó Tổng Thống rằng:



«Thấy các em còn trẻ tuổi mà phải chịu hy sinh gian khổ vì chiến tranh, qua rất thương, nhưng số phận của đất nước mình là như vậy, mình phải đánh cho tới cùng »



Sau khi bàn giao chức vụ TT cho Dương Văn Minh, tối 28 tháng tư, cụ Trần Văn Hương đã dọn ngay về tư gia ở trong hẻm đường Phan Thanh Giản. Tuy nhiên, sáng hôm sau, ngày 29 tháng tư, cụ phải trở lại dinh Phó Tổng Thống ở đường Công Lý một lần cuối để tiếp kiến đại sứ Martin khi Martin đên từ giã cụ.



Trong một cuộc tiếp xúc với BS Nguyễn Lưu Viên, cựu Phó Thủ Tướng VNCH, tại Westminster vào cuối 2002, BSViên có cho người viết biết rằng vào sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, ông và bà Trần Văn Văn có đến thăm cụ Trần Văn Hương một lần cuối và cụ Hương đã nói với hai người rằng hai vị đại sứ Pháp và Hoa Kỳ có đến mời ông đi tị nạn, nhưng ông đã từ chối lời mời của họ.



Hứa Hoành


..............


Trước khi chính quyền CS cho tổ chức cuộc bầu cử quốc hội (bịp) đầu tiên, cụ Hương được họ thông báo sẽ có một buổi lễ để chính phủ trả quyền công dân cho cụ. Sau đó, để có buổi lễ được quay phim tuyên truyền, khi một cán bộ thay mặt chính quyền, đọc "chính sách khoan hồng, rộng lượng" của nhà nước đối với những "thành phần" như cụ, cụ dõng dạc nói:



- Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân này. Dù gì tôi cũng là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân trước. Tôi sẽ là người sau cùng nhận cái quyền công dân này, sau khi binh sĩ và nhân viên của chúng tôi đã được nhận.



Ðại diện của chính quyền CS không ngờ sự thể xảy ra như vậy. Tức giận, họ ra lịnh cúp máy thu thanh, thu hình. Vài ngày sau cụ nhận được lịnh quản thúc tại gia 3 năm. Cụ Hương nói với người nhà:
- Bọn nó cũng chẳng cần phải quản thúc tao. Tao già và đau yếu như vầy, có khi nào bước chân ra khỏi nhà đâu mà cần phải quản thúc!

Cụ Trần Văn Hương cũng được CS trả lại quyền công dân, nhưng cụ đã từ chối. Cựu Tổng Thống VNCH Trần Văn Hương đã gởi bức thư sau đây đến cấp lãnh đạo chính quyền CS :


«… Hiện nay vẫn còn có mấy trăm ngàn nhơn viên chế độ cũ, cả văn lẫn võ, từ Phó Thủ tướng đến Tổng bộ trưởng,các tướng lãnh, quân nhân công chức các cấp, các chính trị gia, các vị lãnh đạo tôn giáo, đảng phái, đang bị tập trung cải tạo, rĩ tai thì ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy về. Tôi là người đứng đầu hàng lãnh đạo chánh phủ VNCH, xin lãnh hết trách nhiệm một mình. Tôi xin chánh phủ mới thả họ về hết, vì họ là những người chỉ biết thừa hành mạng lệnh cấp trên, họ không có tội gì cả. Tôi xin chánh phủ mới tha họ về sum họp với vợ con, còn lo làm ăn xây dựng đất nước. Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó, tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi »



Cụ Trần Văn Hương không hề nhận quyền công dân của Cộng Sản và cho đến khi từ trần vào năm 1981 thì cụ vẫn còn là công dân của Việt Nam Cộng Hòa.
(Trần Đông Phong. Việt Nam Cộng Hòa, 10 ngày cuối cùng.-- California )

Cuốn hồi ký "Saigon et moi" của cựu đại sứ Pháp tại Việt Nam, ông Mérillon kể lại: "Mãi tới tối 18 - 4 - 1975, đại sứ Hoa Kỳ Martin mới cho ông (Mérillon) hay rằng Hoa Kỳ sẽ buông VN." Ðại sứ Martin nói:

- Từ giờ phút này nước Pháp sẽ đảm nhận vai trò tái lập hòa bình cho VN.
Mérillon chuyển lời nói nầy cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Ông Hương nói:


- Ông Ðại sứ à! Tui đâu có ngán Việt Cộng. Nó muốn đánh, tui đánh tới cùng. Tui không muốn lưu vong xứ người. Nếu trời hại nước tui, tui xin thề ở lại và mất theo nước này.



Tới đây, tôi lại nhớ đến liêm sỉ và tiết tháo của một người lãnh đạo Cam Bốt, một nước láng giềng mà dân ta thường hay có thái độ coi thường. Ðó là ông hoàng Sirik Matak, Phó Thủ Tướng Cam Bốt. Cũng tháng 4 định mệnh ấy (1975) khi quân Khmer đỏ sắp tràn ngập Phnom Penh, Ðại Sứ Mỹ tại đây là John Gunther Dean đến mời hoàng thân Sirik Matak lưu vong qua Mỹ. ông Sirik Matak từ chối và trả lời bằng thư sau:


"Thưa Ngài và bạn thân (Excellence et Cher Ami)


Tôi rất thành thật cám ơn Ngài về cái thơ và đề nghị giúp đỡ của Ngài đưa chúng tôi đến nơi tự do, nhưng tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế.

Về phần Ngài và quốc gia to lớn của Ngài, tôi không bao giờ ngờ rằng Ngài sẽ bỏ rơi một dân tộc đã chọn tự do. Quý Ngài đã từ chối bảo vệ chúng tôi, chúng tôi không làm sao được. Ngài ra đi và tôi chúc cho Ngài và quốc gia của Ngài tìm được hạnh phúc dưới bầu trời của quý ngài.

Nếu tôi chết ở đây trong nước tôi mà tôi yêu, thì thôi mặc, bởi vì tất cả chúng ta đã được sanh ra để rồi một ngày nào đó thì chết. Tôi chỉ có làm một lỗi lầm là đã tin nơi Ngài và tin nơi những người Hoa Kỳ


Sirik Matak



Theo lời người dịch, thư này sau mấy năm, có lần được đọc trong một phiên họp Quốc hội Hoa Kỳ, và được lưu giữ trong văn khố Quốc Hộị (Trích bài biết của BS Nguyễn Lưu Viên, tập san Y Tế số III, tháng 3 năm 1998).

Cam Bốt -Lá Thư Lịch Sử
của Thủ Tướng Cam Bốt Sirik Matak Gởi 
cho Hoa Kỳ
Lá Thư Lịch Sử của Thủ Tướng Cam Bốt Sirik Matak Gởi cho Hoa Kỳ


Sirik Matak Portrait


Cám ơn bác Van Tran đã gởi lá thư lịch sử của Thủ tướng Cam Bốt, Sirik Matak, cho tôi. Lá thư của TT Sirik Matak viết cảm động, khí khái và hào hùng qúa, xưa tôi đã đọc qua nhưng lâu ngày không nhớ rõ hết nguyên văn, chỉ nhớ man mán đại ý rồi viết ra ..trật lật không đúng chính xác giống như nguyên lá thư dưới đây. Lỗi tại tôi ! Một lần nữa, cám ơn bác Van Tran đã gởi lá thư này đến tôi. Xin chuyển đến qúy vị để tường lãm..
Dưới đây là lá thơ của ông thủ tướng Miên Sirik Matak gởi cho đại sứ Mỹ tại Nam Vang là John Gunther Dean
Vào tháng 4 năm 1975, khi quân đội Cộng sản đang trên đường tiến vào Nam vang. Thì người Mỹ đã mời thủ tướng Sirik Matak và toàn bộ chính phủ Miên nên ra đi, vì ở lại thì sẽ bị Khờ Me Đỏ giết hết .
Ngày 12 tháng 4 năm 1975, thủ tướng Sirik Matak đã viết một lá thơ vô cùng cảm động gởi cho đại sứ Mỹ tại Nam Vang là John Gunther Dean . Lá thơ đầy nghĩa khí tiết tháo của một người anh hùng “sinh vi tướng tử vi thần” như sau :
Nam Vang ngày 12 tháng 4 năm 1975
Thưa Ngài và Bạn,
Tôi thành thật cảm tạ ngài đã viết thư và còn đề nghị giúp tôi phương tiện đi tìm tự do . Than ôi ! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn nhát như vậy !
Với Ngài (đại sứ John Gunther Dean) và nhất là với xứ sở vĩ đại của Ngài , không lúc nào tôi lại tin rằng ví vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do . Quý vị từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể làm được gì hết . Ngài ra đi tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài được hạnh phúc dưới bầu trời này ..
Nhưng xin Ngài nhớ rõ rằng nếu tôi phải chết ở đây và ở lại đất nước tôi yêu dấu thì tuy đó là điều tệ hại , nhưng tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó . Tôi chỉ mắc phải lỗi lầm là: Tôi đã chót tin nơi quý vị người Mỹ !
Xin Ngài nhận những cảm nghĩ chân thành và thân hữu của tôi
Sirik Matak
Sau ngày 17 tháng 4 tổng cộng 150 người trong chính phủ Miên đã di tản theo ngưỡi Mỹ . Còn lại toàn bộ chính phủ Miên đều bị giết hết . Riêng gia đình ông Sirik Matak từ con cháu đến người quét dọn lau chùi trong nhà ông Matak đều bị Cộng sản giết vì họ không chấp nhận ra đi . Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Giáo sư Nguyễn Văn Canh, Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh ... v.v... quý vị đọc lá thư ngắn của ông Matak trên đây quý vị nghĩ gì ???.
Van Tran
http://www.vnafmamn.com/fighting/farewell_letter2.jpg

PHỤ LỤC CỦA BKBĐD


Toàn bộ bức thư của Tướng Dương văn Minh viết cho Tướng Nguyễn chánh Thi có nội dung như sau :

15-4-87

“Thi,
Ðược tin Thi tôi rất mừng. Lúc nào tôi cũng nhớ anh em thuở xưa, mà tôi còn lưu lại rất nhiều kỷ niệm.

Từ khi tôi đến nước Pháp tới nay, lật bật đã gần sáu năm rồi, sống với một cuộc đời réfugié tuy có thong thả nhưng lúc nào cũng bận tâm. Thoát được chế độ Cộng sản với hai bàn tay không – Pháp chẳng giúp đỡ gì – mình sống ẩn thân trong một đô thị thật nhỏ, kể ra cũng tạm yên.

Nghe Thi kể chuyện các anh em quân nhân, tôi rất khổ tâm. Lúc đó tôi bị đày ở Bangkok cho nên có nhiều việc tôi không được rõ hết.

Anh em có đọc sách của anh Ðỗ Mậu kể chuyện lại cho tôi nghe; tôi phải công nhận anh Ðỗ Mậu kể chuyện như vậy là rất can đảm. Lên án Cần-lao và Công-giáo đến mức đó là cùng. Ngoài ra, anh Ðỗ Mậu có trách tôi không biết tự tử như các bực tiền bối, cũng có phần đúng. Nhưng đây chỉ là một vấn đề quan niệm mà thôi.

Theo tôi, tự tử không phải lúc nào cũng là đúng. Ðôi khi mình phải dám sống để hứng nhận những hậu quả cho sự quyết định của mình gây ra. Có lẽ anh Ðỗ Mậu (cũng như nhiều người) không rõ là tôi lấy quyết định cuối cùng sau khi đã tham khảo ý kiến với một số những vị dân biểu và nghị sĩ còn lại, với những anh em quân nhân đến gặp tôi vào giờ chót, với các thầy mà trong đó thầy Trí Quang và Trí Thủ đã nói và đã nhắn nhủ để cứu dân.

Riêng tôi, tôi không tự tử không phải vì thiếu can đảm, nhưng vì những lý do rất đơn sơ :

- Tôi không tự sát vì thân thể mình do Trời Ðất (Ân trên) kết tạo, cha mẹ sanh dưỡng, mình không có quyền hy sinh.
- Mình có quyền hy sinh : tên tuổi, uy tín, tài sản, công nghiệp v…v Tóm tắt mình chỉ có quyền hy sinh những gì mình tạo ra mà thôi.

Ðây là một lý thuyết tôi đã hấp thụ từ khi biết khôn và áp dụng suốt đời, đối với tôi cũng như đối với tất cả người khác. Hôm nay tôi nói ra để cho Thi hiểu, vì lúc nào tôi cũng xem Thi như một người em trên mọi mặt, chớ không phải nói ra để phân trần chi chi. Tôi đã dám làm thì tôi cũng dám chấp nhận những búa rìu bất cứ từ đâu tới. Không có gì thắc mắc cả, và tôi coi đây chỉ là một giai đoạn thôi. Cầu xin dân ta và anh em giữ vững tinh thần thì có ngày xum họp trên quê cha đất tổ.

Tôi đã nói nhiều quá ! Lúc nào tôi cũng nhớ anh em, nhờ Thi gởi lời thăm tất cả. Tôi không mong gì hơn được gặp lại các bạn.

Thân mến
Dương văn Minh”



Trần Văn Hương và Sirik Matak có cái dũng của thánh nhân. Nhưng nguời Cambodge kiêu hùmng nhất vì Sirik Matak còn trẻ và toàn gia cam tâm tuẩn tiết chứ không di tản.
Lúc bấy giờ đi hay ở de9ều có lý do, nhưng cam tâm ở lại chịu chết là tấm gương cao cả của dũng sĩ.Dương Văn Minh bị nyhiều người kết tội. Thứ nhất là đã guiết Ngô Tổng Thống của họ, hai là đầu hàng cộng sản.
TRước tiên, ta phải có cái nhìn sâu xa. Hai miền Nam Bắc đều đi theo hai phía đối nghịch nhau và bị cường quốc chi phối. Phe Cộng sản có Nga Tàu thì phía Quốc gia phải nhờ cậy Mỹ. Những ai nói tự cường là khoác lác, là không hiểu vị trí của nước ta và bản thân họ ở đâu. Tôi thấy mấy giáo sư, luật sư nói tự quyết nhưng rồi chỉ là xách dép cho cộng sản.

Nếu nhìn xa hơn,  tàn cuộc 1975 không phải Mỹ thua, mà Mỹ thi hành kế hoạch "con ngựa thành Troy", không thành kế, đà đao kế. Mỹ không những triệt thoái khỏi Việt Nam mà triệt thoái phần lớn Thái Bình Dương để cho Trung Cộng nhảy vào lưới như ta đã thấy hiện nay, chỉ trừ Việt Nam, Campuchia, các nước Biển Đông đều theo Mỹ chóng Trung Cộng xâm lược. Thế là Mỹ thắng về chính trị , sau đó sẽ dại thắng quân sự... 


Dù sao đi nữa, trận mậu tyhân 1968 cũng cho Mỹ thấy rõ kế hoạch thâm độc của Trung Cộng. Cuộc tấn công mau thân của cộng sản đã nướng mấy trăm ngàn lính, nhưng sau đó như Phạm Nhan,. chặt đầu này sinh ra đầu khác. Quân líbh ở đâu nhiều thế? Củng như Điện Biên Phủ, pần chính là hàng triệu quân Trung CỘng mặc cquânphục Việt cộng, nói tiếng Việt. Quân Việt cộng chỉ là cha hờ. Mỹ thấy rõ TRung Cộng muốn người Việt chết hết để cho Trung Cộng di dân sang Việt Nam rồi biến Việt Nasm thành châu quận của Trung Quốc. Hồ Chí Minh là người Tàu, phục vụ quyền lợi Tàu, thực hiện kế hoqạch tận diệt Việt Nam cho nên ông  ra lệnh  "đốt cháy Trường Sơn", chiến đấu đến thế hệ thứ tư". Nguyễn Thi, tay văn nô cũng theo chủ mà viét  " "Còn cái lai quần cũng đánh". 
Nếu đánh  hoài thì Mỹ cũng như Việt Cộng  chỉ làm tay sai cho Trung Cộng. Đặng Chí Hùng, Trần Đĩnh,  Hoàng Minh Chánh và nhiều người khác nữa đã thấy dã tâm của Trung Cộng. 

Đặng Chí Hùng ăn nói thẳng thắn.. Ông nhận định rằng Trung Cộng viện trợ cho Việt Cộng và dùng ông Hồ với mục đich lấy được đất đai, biển đảo và đồng hóa nhân dân Việt Nam dưới sự đồng tình từ phía cộng sản Việt Nam mà đại diện là ông Hồ. ..Chính câu nói “Trung quốc muốn đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” đã nói lên âm mưu của Trung cộng muốn bản thân người Việt chúng ta đánh nhau, suy yếu cả nhân lực và tài nguyên (ĐẶNG CHÍ HÙNG * HCM TRIỆT TIÊU NỘI LỰC DÂN TỘ...).

 Trần Đĩnh nhận định rất sâu sắc. Ông và Hoàng Minh Chính cùng chung trận tuyến và cùng mang một bầu máu nóng chống Trung Cộng xâm lược.  Ông nhận định rằng khi Trung Cộng viện trợ quân đội, vũ khí, lương thực cho Hà Nội và xúi Hà Nội đánh đuổi Mỹ, là có mục tiêu chiếm Biển Đông (ĐC,259, 559). Đi xa hơn, Trần Đĩnh cho thấy mánh lới của Mao Trạch Đông là nhằm tiêu diệt Việt Nam để Trung Cộng dễ dàng chiếm cứ rồi thẳng đường Nam tiến về Thái Lan, Mã Lai, Singapore. Đó là cái thuật " xui trẻ ăn cứt gà ", và " xút chó vào bụi rậm ". Trung Cộng chỉ chống Mỹ bằng mồm. Mao Trạch Đông không muốn dân Trung Cộng chết và nước Trung Hoa điêu tàn vì chiến tranh.

Trong khi đó Trung Cộng xúi Viêt Cộng chống Mỹ, trao tận tay vũ khi cho Việt Cộng để cho người Việt giết người Việt cho đến người Việt cuối cùng trong màn giải phóng miền Nam. Theo Marx, Mao tỏ ra căm thù tư bản tại sao Mao không diệt Mỹ giải phóng Đài Loan? Dân Trung Cộng  lúc ấy gần một tỷ , chết vài chục triệu thì đỡ tốn cơm, tại sao ông không  đánh Mỹ? Hơn nữa, Mỹ là cọp giấy, đâu có sợ Mỹ mà ngần ngại? Lại nữa, Mao tỏ ra yêu nước. đề cao tinh thần dân tộc, luôn nhắc nhở dân Trung Quốc đừng quên quốc nhục,  thế sao ông không tiến công thu hồi Thượng Hải, Macao, Hồng Kông rửa cái nhục  của thời  Từ Hy thái hậu cúi mình khom lưng trước bọn Tây dương mắt xanh, mũi lõ? Tại sao Mao không xúi bẩy Bắc Hàn giải phóng Nam Hàn? Trần Đĩnh rất thông minh khi đặt ra câu hỏi :" Sao không học Bắc Kinh nán chờ để thu hồi hòa bình Hồng Kông, Macao và cả Đài Loan? Hay sao không như Nam Hàn nhìn các đồng bào suy nghĩ khác mình, yêu nước khác mình là anh em cốt nhục để cùng bàn bạc và cứu mang cứu đói chứ không là kẻ thù phải diệt? Hay, ừ nhỉ, sao không nghĩ được như Đặng Tiểu Bình: một quốc gia hai chế độ?...Mãi tôi mới thấy trong canh bạc với Mỹ, người ta toàn xì tố bằng máu Việt. (Nhắc lại: máu Việt Nam có sức dịch chuyển quý giá) (ĐC, 459-462 ).

Ông kể lại lời Hoàng Minh Chính:" Mao bảo toàn thế giới căng đế quốc Mỹ ra mà đánh nhưng Mao cấm dân Trung Quốc đổ máu, người ta khôn thế chứ đâu dại như… ta...Và ông nhận định:" Mao rất giỏi dụ âm binh. Lò gang thép này, làm công xã này, diệt chim sẻ này, đều cả nước rầm rộ làm… Nhưng đánh Mỹ thì bảo đứa khác. ( ĐC, 230 )

 Đó là kế hoạch của Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương.  Phải áp dụng chiến thuật, chiến lược khác.Mỹ đi rồi Mỹ lại về. Khoảng năm 2000 Mỹ tuyên bố chuyển trục về châu Á. Trong kế hoạch không thành, toàn quân phải rút hết, không được ai chống lại lệnh. Mỹ đã có kế hoạch này khi bảo Nguyễn Văn Thiệu tịch thu vũ khí của Hòa Hảo, cắt viện trợ, cắt vũ khí và xăng dầu. Xe tăng, phi cơ chỉ dùng đượcv vài ngày. Mỹ cũng đưa các tướng tá ra hạm đội Mỹ.... Thế là những thế lực chống cộng bị triệt tiêu. Trong kế hoạch đó, Mỹ cũng muốn sau Saigon thất thủ, đời sống dân chúng vẫn bình an,  như là Mỹ bỏ chạy mà không kịp phá cầu đường, đốt nhà cửa, giết hại nhân dân như cộng sản. Mỹ muốn cho nhẹ gánh tang thương nên bố trí một cuộc trao chính quyền êm thấm, tránh việcc cộng sản tắm máu, cho nên phải có ngưoời ở lại với con ngựa thành Troy. Người chịu khổ nhục kế đó là Dương Văn Minh.
 Dương Văn Minh đã tâm sự với Nguyễn Chánh Thi nhưng có điều không thể nói hết.



No comments: