Tuesday, March 29, 2016

LÊ QUANG VINH * THĂM THẦY GIÁO CŨ

QTXM: Nhà báo đẹp trai Lê Quang Vinh thời sinh viên.

Một ông giáo đã tốt nghiệp khoa Ngữ văn - Đại học Sư phạm mà thế, chứng tỏ trình độ văn hóa - chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của ông ta quá thấp kém; nên dạy dỗ ngu dốt, hoàn toàn "võ đoán", không hề biết tâm lý cũng như nguyện vọng - thẩm mỹ trong mỗi người học trò muốn hướng tới là gì; đã hành xử rất phản giáo dục, làm hại tâm hồn thế hệ trẻ, đáng lẽ ra phải nâng đỡ và bồi bổ cái đẹp cho họ mới phải...Đó là tình hình chung về chất lượng giáo dục, chất lượng đội ngũ giáo viên của nền giáo dục XHCN Việt Nam suốt bao năm qua chứ không phải là trường hợp cá biệt chỉ ở Trường cấp 3 nam Quảng Trạch và cá nhân ông thầy giáo trong bài báo.



THĂM THẦY GIÁO CŨ CÁCH NAY 50 NĂM – NHỚ VỀ LỚP 10 THUỞ ẤY...
LÊ QUANG VINH


QTXM: Nhà báo Lê Quang Vinh vừa gửi cho QTXM một ghi chép cảm động. Anh với Cố nhạc sĩ Dương Mạnh Đạt – người Ba Đồn, là bạn cùng học, rất thân với nhau; lại cùng làm “diễn viên” trong đội kich nói của Trường cấp 3 Quảng Trạch những năm 1964 – 1965. Cả hai đều mê say thơ – nhạc tiền chiến (1930 – 1945); nên suýt gây nên vụ án “tàng trữ, truyền bá văn hóa đồi trụy, phản động” trong nhà trường. Hậu quả, Lê Quang Vinh bị ghi vào học bạ và lý lịch đoàn viên: “ăn cắp”, “yêu đương lãng mạn”...


Dù vậy, với lòng yêu kính thầy Chủ nhiệm, vừa là Bí thư Đoàn trường nay suýt soát 80 tuổi; sau gần 50 năm, là người học trò duy nhất của lớp, đã tìm thăm lại thầy giáo mình. Bài viết kể lại những kỷ niệm một lớp 10 “vô tiền khoáng hậu” của Trường cấp 3 Nam Quảng Trạch năm học 1966 – 1967, thời điểm chiến tranh ác liệt nhất tại Quảng Bình mà thầy cô giáo, anh và bạn bè gồng mình, chung sức xây dựng ngôi trường vừa mới được thành lập; cùng vượt lên bao gian lao vất vả để giảng dạy, học tập tốt.


Kỷ niệm 40 năm thành lập Trường  cấp 3 nam Quảng Trạch (29/4/2007),Thầy Nguyễn Quang Đăng mặc veston ngồi giữa, cùng thầy cô và học sinh các khóa đầu tiên.


Kỷ niệm 40 năm thành lập Trường cấp 3 nam Quảng Trạch (29/4/2007),

Thầy Nguyễn Quang Đăng mặc veston ngồi giữa, cùng thầy cô và học sinh các khóa đầu tiên.

Hôm 5/1/2016, từ Hà Nội vào TP. Thanh Hóa thăm thầy giáo cũ hồi học lớp 10 (bây giờ là lớp 12) CÁCH NAY ĐÃ GẦN 50 NĂM. Thầy tên là Lê Doãn Cần – dạy Văn lớp 10 đầu tiên của Trường cấp 3 Nam Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình vừa thành lập (năm 1966).


Đấy là tên "chữ", còn tên dân dã trên cửa miệng bao thế hệ học sinh, giáo viên và người dân vùng này là "Trường Nam". "Trường Nam" – Thời chiến trang, suốt mấy chục năm đầu, cái tên “Nôm” (dân dã) này đã đi vào lòng người, vào ký ức; vào thơ, nhạc (“Khúc hát Trường Nam” – từ bao lâu nay, thành “thông lệ” (nếp) là “trường ca” của mỗi mùa tựu trường, hoặc các dịp lễ lạt cho riêng ngôi trường này)... Thế nên sau này trường “bị” đổi sang tên "Trường THPT số 2 Quảng Trạch" (thị xã Ba Đồn) – thì nghe nó “hành chÍnh” quá, khiến ta cảm thấy hơi thiếu đi chút ..."mến thương" thế nào ấy(?). Rồi ngày “nâng cấp” thị trấn Ba Đồn lên “thị xã” (đô thị loại IV), theo Nghị quyết số 125/NQ-CP của Chính phủ - ngày 20 tháng 12 năm 2013, tách ra từ huyện Quảng Trạch; huyện nhà bị chia cắt làm đôi, 9 xã vùng Nam Rào Nậy – Sông Gianh (Nam QT) vẫn được ở lại đô thị này, nằm “thẹo lẻo” mé Tây - Nam “Thị xã Ba Đồn”. Tên Trường THPT số 2 Quảng Trạch, lại mang tên mới thành “Trường THPT Lê Hồng Phong” - Tên này dường như chưa ‘ĐẮC ĐẠO” lắm (?). Bởi theo nhiều người (giới học thức đang sống tại địa phương – trong số này có không ít thầy cô giáo, học sinh từng giảng dạy, học tập tại trường ta): quê hương mình có cụ Nguyễn Hàm Ninh, một Nho sĩ nổi tiếng, lại là Nhà Văn hóa lớn thế kỷ 19. Dưới triều Vua Thiệu Trị, Cụ được giữ chức “Hành tẩu Nội các”, rồi “Viên ngoại lang Bộ Hình”. Năm Bính Ngọ (1846), chuyển sang làm “Lang trung Bộ Lễ”. Ngôi trường này có nên mang luôn tên danh sĩ này - một người con ưu tú của chính quê hương mình - cho thực sự có ý nghĩa về truyền thống, cũng như niềm tự hào đối với các thế hệ con em (cùng nhiều điều khác nữa), liệu có hay hơn không? Cụ Lê Hồng Phong là một lãnh tụ Cộng sản – sức sống sẽ thế nào trong lịch sử VN?


***
Thầy giáo Cần thời đó có vóc dáng người cao, nhẳng (tóm), trông lúc nào cũng “khô khốc” (khắc khổ); khuôn mặt nổi rõ hai hốc xương khiến cồn má như “có cạnh”, cùng đôi mắt hơi lồi. Ông luôn kiệm lời – dầu là “thầy văn” (hào hoa phong nhã) thứ thiệt. Thầy quê ở xóm Bàu, làng Quân Phúc, tổng Nam Dương (sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, đổi là xã Lê Hồng Phong) - nay là xã Hạnh Phúc, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Còn nhớ ông giáo đang thì tuổi “thanh niên” thế, mà cứ giản dị hoài trong bộ đồ “dã chiến” tứ thời: áo sơ mi vải màu “bộ đội” (sẫm hơn tấm màn sô nhuộm lá mướp màu “cỏ úa” thầy trò luôn đeo bên mình để “ngụy trang” mỗi khi đến lớp thời đó), quần Tây vải ka ki xanh “lơ-mơ-rin” (màu nước biển đậm), dép cao su 4 quai, mũ rộng vành bằng lá cọ từ quê thầy đưa vô...Chắc chắn ông giáo trẻ này phải là “đối tượng Đảng”, hoặc cũng là một giáo viên “cứng cựa” số 1 trong dàn 12 cán bộ - giáo viên của trường, mới được giao cho trọng trách vừa là “Bí thư Đoàn trường”, vừa làm “chủ nghiệm” lớp 10 chúng tôi. Sau này có thời gian làm giáo viên cấp 3 Ninh Giang – Hải Dương, tôi mới “đoán” ra như vậy; chứ học trò vào những năm tháng ấy, không ai nghĩ suy gì tới “vai vế” của các thầy cô trong trường đâu. Các vị thực sự như là quý bậc ông bà, cha mẹ trong mỗi gia đình – “kính nhi viễn chi” (敬而遠之) – được kính nể, tôn trọng lắm!
Trước khi đi Thanh Hóa mấy ngày, tôi gọi điện cho các bạn cùng lớp: O Nguyễn Thị Di (người Hòa Ninh, xã Quảng Hòa), anh Nguyễn Văn Nam (người thôn Thọng Thóng, xã Quảng Minh) đang nghỉ hưu tại TP. Vinh – Nghệ An, anh Nguyễn Thế Đạt (đen, lùn người làng Lâm Xuân, xã Quảng Thủy – Biệt danh do bạn bè đặt hồi ấy là “Gia Nã Đại”) ở đâu quanh Hà Nội; đến nhà riêng O Hoàng Thị Lý, O Đoàn Thị Vân (đều người Hòa Ninh, xã Quảng Hòa) và anh Trần Đình Quang (người xóm Đình Sơn, thôn Thọ Linh, xã Quảng Sơn) cũng nghỉ hưu tại Hà Nội…để rủ các anh chị này cùng đi (xe pháo đã chuẩn bị sẵn sàng cỗ Hyundai santa fe 7 chỗ nhập khẩu đen tuyền). O Đoàn Thị Vân ốm nặng đang nằm một chỗ, còn tất cả mọi người đều…“lơ đãng”, bởi mỗi lý do khác nhau, nên không một ai cùng đi. Buồn quá chừng.


Khoảng 9 giờ 30′ sáng, tới được nhà thầy giáo ở phường Đông Sơn – TP. Thanh Hóa, thì ông đang đi khám bệnh trong bệnh viện cách mấy cây số. Nửa giờ sau, thầy về và hai thầy trò gặp nhau. Ông giáo đã cận kề 80 tuổi, nhưng vóc dạc và trí não còn khá lắm. Thật mừng cho ông giáo quá.
Sau dăm ba phút hàn huyên, ông giáo khoe: tối hôm qua, dầu đã muộn, em Bảy gọi điện ra thăm thầy cả tiếng đồng hồ. Là người Nam Quảng Trạch (Quảng Bình) thứ 3 đấy. Nó nói là lấy số điện thoại từ Lê Quang Vinh. Giọng ông giáo biểu lộ khá phấn chấn. Được thể, tôi đế luôn vào câu chuyện: nguyên do em tìm được thầy là từ việc viết bài báo cho Nguyễn Quang Lập. Bài báo ấy tên là “Thầy Nguyễn Quang Đạng trong tôi” – Cụ Đạng là thân phụ Nhà văn Nguyễn Quang Lập. (Một số báo, trang mạng khi đăng lấy tít “Dạy và học – thuở ấy…bây giờ”). Trong tập sách “Một thời để nhớ” của thầy giáo Phạm Ngọc Căng – nguyên dạy tại Trường cấp 3 Quảng Trạch từ những năm đầu thập niên 1960, bài báo được thầy tuyển đăng. Qua thầy Căng, em mò ra số máy, địa chỉ của ông giáo…Từ em, ít thông tin về thầy, đã tới được mấy bạn. Trước Bảy, thì Suê – người Minh Lệ, nhân gặp bạn đó tai quê nhà, được Lê Quang Vinh bấm máy để nói chuyện với thầy. Hôm đó nói qua điện thoại cũng cỡ nửa tiếng, thầy trò sau 50 năm nghe lại tiếng nói của nhau vui lắm.
Về Nguyễn Thị Bảy, người Cồn Nâm – xã Quảng Minh, tôi đã cùng học từ lớp 5 đến lớp 10. Trên Facebook của O ấy, hôm qua 10/2/2016 – lúc 0:14, LQV đã có mấy dòng chia sẻ:


“LỚP 10 HỒI ĐÓ, BẢY NHỎ BÉ NHẤT; TÓC VÀNG NHƯ CÁC CÔ GÁI HÀN BÂY GIỜ.

Bọn con trai tụi tui lúc mô cũng chiều chuộng, trân quý Bảy. Nhưng răng bạn ít nói vậy? Nguyễn Hữu Trường người làng Phù Trịch (tên chuẩn là “Phú Trịch”, xã Quảng Lộc) học giỏi cả văn lẫn toán, được “Cháu ngoan Bác Hồ”; lại đồng “giải Nhất thi học sinh giỏi Văn 10 tỉnh Quảng Bình” cùng Lê Đình Thám (người Chợ Sải – xã Quảng Trung – quê hương Tướng Đồng Sĩ Nguyên)…khoe là đắm say Bảy mà cứ câm trong bụng, chả thưa thốt gì. Nó quá giỏi rứa, nhưng khoản ni hắn lại ngu…nhất lớp; nên trượt Bảy trọn đời là phải!
Cuối tháng giêng ni, về giỗ chị Cả tôi tại Vĩnh Lộc (xã Quảng Lộc); sẽ rủ Trường từ Ba Đồn vô Lệ Thủy “áp chế” Bảy để rửa hận cho nó nha!”.
Đúng là “Nhất quỷ, nhì ma; thứ ba…học trò” – Nửa thế kỷ rồi, vẫn còn nguyên trong bọn tui 100%. Phải “cẩn thận”, không là “tai nạn” đấy nghe…!
Tụi tui chắc chắn vô, vì đã có giấy “thông hành” (vi sa) do Nhà giáo Trần Văn Khởi (tran khoi ) – Bạn thân Thi sĩ Ngô Minh, lại là chồng Bảy; cấp cho: “Hôm nay 11/2/2016 vào lúc 12:31 PM – Mình đã đọc. Thật một thời đáng nhớ, một tình yêu khó quên. Chúc mừng bạn, có điều kiện ghé chơi nhé Lê Quanh Vinh”.
(Anh Khởi đọc hai tác phẩm của tôi: THƠ LÊ QUANG VINH
ngominh | 30 Mar, 2015, 08:12 | THƠ | (653 Reads) và CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT
ngominh | 03 Apr, 2015, 07:51 | THƠ | (875 Reads)).


***

Lớp 10 tôi hồi này là lớp của các “anh chị hai”, vốn được học 2 năm tại Trường PT cấp 3 Quảng Trạch (nay là “Trường THPT Lương Thế Vinh” bên Ba Đồn) chuyển về, nên nhà trường đặt “đại” lên là...“mẻ thép” đầu tiên. Bọn tôi không cảm thấy “vinh hạnh” gì với cái tên sáo rỗng đó. Cũng không phải vì cái tên đó mà chúng tôi chăm chỉ học hành hơn. Nhưng phải nói thực thà là, “bộ thầy” hồi đó mới là “thép thật”. Thầy hiệu trưởng Nguyễn Quang Đăng (người xã Sơn Trạch, Bố Trạch, QB - kiêm luôn dạy Trung văn), thầy Nguyễn Văn An (người xã Hiền Ninh, Quảng Ninh, QB là Bí thư Chi bộ – dạy Chính trị), thầy Lê Doãn Cần (người Thọ Xuân, Thanh Hóa - dạy Văn), thầy Hoàng Hiếu Nghĩa (người Thanh Khê, Bố Trạch, QB - dạy Toán), cô giáo Lê Thị Hường (người Hòa Ninh - dạy Hóa học), thầy Trần Văn Dũng (người Lệ Thủy, QB - dạy Vật Lý), thầy Mai Xuân Trang (người Nghệ An dạy Địa lý và Sinh vật), thầy Văn Hà Đa (người miền Nam – dạy Lịch sử)...là những thầy cô “truyền lửa” kiến thức cực kỳ bén nhạy, hiệu quả tới trí não – tâm hồn 32 cô cậu tuổi xuân xanh chúng tôi. Tình cảm của các thầy cô dành cho chúng tôi vô tư, trong sáng – đương nhiên cũng có vài thầy “phải lòng” học trò, nhưng không một ai...thành công! Làm sao mà “thành công” được, khi trước mắt chúng tôi là “thiên đường” của các trường đại học trong và ngoài nước từ Châu Á, Đông Âu tới Cu Ba bên kia bán cầu...nhưng chả ai phải thi cử; chỉ cần “lý lịch “tốt ”, hoặc “không có vấn đề gì” (đương nhiên là phải “đỗ tốt nghiệp” phổ thông hoặc BTVH trình độ lớp 10) - nghiễm nhiên sẽ được Nhà nước “ban cho” một ghế - kèm theo cả “cơm áo gạo tiền”, rồi ung dung “mài đũng quần” mà thành các “cử nhân”, “bác sĩ”, “dược sĩ”, “kỹ sư” thôi...(chuyện “nhập ngũ” là không dành cho bọn tôi, nhưng trong năm cũng có vài ba lần phải theo "phong trào" làm đơn tình nguyện “ba sẵn sàng”!).



Cái “mẻ thép” đầu tiên này “tôi luyện” thế nhưng ít người thành đạt – thua hẳn các lớp “đàn em” sau này. Nguyên nhân sâu xa là do cơ chế “tuyển sinh” của Ngành Giáo dục “thời chiến”. Những học sinh xuất sắc, gỏi và khá như Nguyễn Hữu Trường (người Phú Trịch – Quảng Lộc), Lê Quế (người Lâm Xuân – Quảng Thủy), Lê Đình Thám và Lê Văn Dần (người Quảng Trung), Lê Hồng Sơn (người Hòa Ninh – xã Quảng Hòa); nữ thì Nguyễn Thị Di (rất giỏi Lý, o người Hòa Ninh – xã Quảng Hòa); Trần Đình Quang (thôn Đình Sơn) và Nguyễn Thị Nậy (có tên “đẹp” nữa là Hương – “con cấy” (con gái) thôn Minh Sơn), cả hai cùng xã Quảng Sơn; Nguyễn Tường (người Vĩnh Phước, xã Quảng Lộc)...đều phải đi trung cấp hoặc đại học sư phạm ("chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm”)...là tốp trường thấp cấp và rẻ rúng nhất. Sang hơn (“may” và “hên”) là Trần Đình Quang, được tuyển vào Đại học Bưu Điện và Lê Hồng Sơn trường Đại học Mỏ - địa chất. Trong khi, “dàn” các anh chị được tuyển đi học nước ngoài; các trường đại học “đầu vị” như Đại học Bách khoa, Đại học Tổng hợp, Đại học Y – Dược, Kinh tế – kế hoạch, Ngoại thương, Thương nghiệp, Công nghiệp nhẹ (đều ở Hà Nội)...đa phần không học giỏi, thậm chí rất dốt nữa (!), bởi có cha chú đang làm cán bộ cốt cán xã, trên huyện trên tỉnh, hoặc con em “bần cố nông”...Trong số này, người học giỏi duy nhất được đi Liên Xô là Đặng Văn Cường (lớp trưởng); nhưng nếu mà học dốt, dứt khoát cũng được “xuất ngoại” đàng hoàng, vì có chú ruột là ông Đặng Chú - đương kim Bí tư Đảng ủy xã Quảng Hòa. Anh Nguyễn Văn Nam, học khá toán lý hóa, có cha làm “cán bộ” (chắc chắn là “Đảng viên”), nhà riêng ở phố hàng Bột – Hà Nội, được vào Đại học Bách khoa (hình như Khoa “Vô tuyến - điện tử” ?).



Nói là ít “thành đạt” nhưng cũng có “thành đạt”...khiêm tốn; như anh Đinh Xuân Hướng (người thôn Hợp Hòa, xã Quảng Hòa) - Cục phó Cục Hàng không dân dụng Việt Nam, anh Đặng Đức Dục (người Hòa ninh, xã Quảng Hòa) - Giám đốc Sở Xây dựng Quảng Bình. Nghe đâu là có mấy “tiến sĩ mồm” nữa, nhưng tôi không tường lắm nên chưa “vinh danh” được dịp này. Anh Đặng Đức Dục học ngành Kiến trúc – xây dựng bên Cu Ba, về nước vẽ vời được mấy công trình cho thị xã Đồng Hới – có công trình hình thù kỳ dị như “Hội trường tỉnh QB”; rất may, nay đập bỏ...gần hết rồi, chả còn dấu ấn gì nữa của tài năng anh để lại. Anh Nguyễn Hữu Trường (người Phú Trịch – Quảng Lộc) là “ông nghị” huyện nhà mấy khóa; từng nắm giữ chức “Thư ký HĐND”, “Trưởng phòng Văn hóa – thông tin” huyện Quảng Trạch – thời được “lên voi” này, anh thật sự là là người “không biết uống rựơu” nhưng lại "hay uống” nên “say khướt”. Cũng nhờ “say khướt’ nên mới viết được mấy bài báo và thơ “con cóc” rất hay. Anh có làm văn, hiện là Hội viên “Hội văn học – nghệ thuật tỉnh QB” vĩnh viễn; vô cùng oách! Trên đời, ít ai tốt và thương bạn như Nuyễn Hữu Trường. Đãi đằng bạn bè đến “cháy túi mình”, có khi (suýt) cháy lây sang ...quỹ cơ quan (Nguyễn Tiến Vinh – cán bộ thuộc cấp ở Phòng Văn hóa – thông tin huyện Quảng Trạch, khoe từng đi "chữa cháy" cho “Sếp” như vậy).

Ngày hội trường

Tôi vốn được gọi vô học tại Khoa Toán – ĐH Sư phạm Hà Nội II, sơ tán ở thôn Kim Bài, huyện Thạch Thất, Hà Tây. Một lần sang chỗ Trường đang học là Khoa Văn – ĐH Sư phạm Hà Nội I, sơ tán tại thôn Thượng Bùi, xã Cộng Hòa, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên để nhởi (chơi) với hắn; được ăn bánh bao luộc (thực ra là bột mỳ nhào nước lã, vắt ra luộc chứ không phải “bánh bao” có ủ men chua (bột nở) cho phốp pháp lên cùng đường pha ngọt thoáng qua). Được ăn của rứa mà tôi đã quá “khoái khẩu”, vì suốt mấy tháng liền nhai sạu Ấn Độ (ngô bung) hạt to bằng đốt ngón tay, do vỏ quá cứng nên nhiều hôm ngỡ “sái quai hàm”.


Tôi giải bày sự khổ ải bên khoa Toán, Trường liền rủ tôi ở lại, rồi “tự tiện” chui vô học cùng lớp Văn 1D với anh ta. Hộ khẩu và mọi giấy tờ đã nộp ở “trường bộ” tại Khu ĐH Sư phạm Cầu Giấy để có tiêu chuẩn lương thực – thực phẩm, là những thứ “sát sườn”, “sống chết” của người sinh viên. Trong người tôi chỉ còn mỗi “Lý lịch Đoàn viên”.


Có lẽ là “học sinh cá biệt” thế nào ấy, nên lời phê của thầy trong cuốn “lý lịch Đoàn” cực kỳ xấu, tôi quá sợ đành không nộp. Đến buổi chi đoàn lớp Văn 1D sinh hoạt, tôi trốn ở nhà, không thèm đi và nói dối “chưa vào Đoàn”. Nguễn Hữu Trường đã phải mấy lần vất vả mới lôi bằng được tôi ra lớp để sinh hoạt với nó. Nó “uy tín” đến mức “khẳng định mồm”: tui (LQV) là “Đoàn viên” mà thằng Bí thư vẫn tin. Thế là tôi nghiễm nhiên “Đoàn viên” chính thức của chi đoàn như ai. Đoàn viên thời này quan trọng gấp mấy trăm lầm “Đảng viên” bây giờ.


Tôi thực sự là “may hơn khun” (khôn). Vốn trong nhà có anh ruột (đương kim) “trung tá” Quân chủng Phòng không – Không quân, đóng quân ở đường Trường Chinh bây giờ; chị gái thứ 3 là Quận ủy viên – Trưởng phòng Văn hóa – thông tin Khu (quận) Hoàn Kiếm – đều là “Đảng viên” thời chống Pháp. Mự tôi và các anh chị góp tiền mua cho chiếc xe đạp Fa vô rít “mới coong”. Trong lớp Văn1D, chỉ vài cán bộ là giáo viên cấp 2 đi học là có lương và thường cũng có cả xe đạp, sinh viên “phổ thông” không ai có. Thế nên, bạn bè coi chiếc xe này của tôi là “xe công” của lớp, vì đứa mô cũng mượn được. Nguyễn Hữu Trường chưa biết đi, nên chỉ hay ngồi nhờ sau “bác ba ga” thôi. Thằng “bí thư” mượn nhiều nhất. Thằng ni vô Đảng lúc đang lớp 10, người Nghệ An, hiền lắm – tên là Luyến. Khi “kiện toàn” hồ sơ, hắn nói với tôi: “Mi phải nộp lý lịch”. Tui nói: “Tau xé rồi, vì trong đó thầy phê “quan hệ trai gái không lành mạnh”, “yêu đương lãng mạn”; có hành vi “ăn cắp”...nộp vô để “tàn đời” à?”. Thằng Bí thư hỏi lại thằng Trường, Trường quả quyết: “Thằng Vinh hắn nói thàm thàm, thẹ thẹ rứa chơ có chuyện chi mô”! Có lẽ sau đó mấy đứa trong BCH chi đoàn, vì tin thằng Trường, nên trao đổi thế nào mà tôi chỉ “khai lại” lý lịch như “Đòan viên” mới. Án “tại hồ sơ” coi như sạch bong...


Thực ra, tôi có “ăn cắp” cuốn “sổ tay văn học” của Dương Mạnh Đạt thật, khi lộ ra thầy Chủ nhiệm vừa là Bí thư Đoàn trường, hỏi tới là tôi nhận liền, nên mới thành “án” rất nặng. Dương Mạnh Đạt vốn là người bạn rất thân thiết khi hai đứa cùng đóng chung 3 vở kịch ở Trường cấp 3 Quảng Trạch với nhau. Tôi hỏi mượn cuốn sổ, hắn sợ thế nào nên cứ làm khó, thế là tôi lấy luôn. Tôi lấy để chép lại, xong rồi sẽ trả - định bụng thế. Sổ thằng này dày tới nửa gang, chép rặt thơ “lãng mạn” 1930 – 1945 cùng những bản “nhạc vàng” tiền chiến, khiến tôi rất thích, mê li vì nó quá “độc” và “quý” đối với tuổi “đang tìm hiểu” (đang yêu) của tôi – Đó chẳng khác nào là ngọn gió mới mát lành; nguồn sáng lung linh - kỳ ảo, đầy nhân văn đã lập tức lay động trái tim, khối óc, tâm hồn tôi. Nó chép liền tù tì cả cuốn, chả lẫn bài mô là thơ văn, bài hát “Cách mạng” cả. Cuốn sổ ni nếu lọt ra, có khi thằng Đạt bị đuổi học, đi tù nên càng không thể cho ai mượn là thế. Theo quan niệm thời đó – kéo dài tới sau 1975 vài chục năm nữa, thứ thơ – nhạc yêu đương sướt mướt; chỉ “anh” và “em” thôi; là "đồi trụy và phản động"; là "100% tiểu tư sản”, hẳn là "thơ văn của địch"...nên bị cấm tiệt.


Cái dại của tôi là đưa cuốn sổ cho thầy Trần Văn Dũng đọc, thế là thầy cầm luôn đưa về nhà trọ của thầy. Thằng Đạt rất thân với thầy Dũng, vì có “máu” hát hò như nhau. Một hôm, hắn sang nhởi (chơi) thầy, thế là nhận ra cuốn sổ của mình rồi vồ luôn đem về. Cũng ngay hôm đó, Đạt gặp tôi, hắn chả trách cứ gì, còn nhả nhặn nói: “Thông cảm, không thể cho mi mượn được. Vì cuốn sổ ni mà ba mạ tau (ông bà Dương Mạnh Tuyển) điên dại, khổ sở cả mấy tháng vì quá lo cho tau Vinh ạ”. Những điều ni, hồi đó, sao mà tôi hiểu được...Thật buồn bởi từ những người lớn cả thôi. Sau này, biết “ăn cắp sách” là “không có tội” (Trong dân gian vẫn có câu: “Nếu vì mê đọc mà ăn cắp sách thì nên...tặng thêm sách). Tôi mới đỡ xót xa, tủi hổ.


Năm 2002, tôi vô công tác Đà Lạt. Dương Mạnh Đạt vừa qua cơn bạo bệnh (tai biến mạch máu não), tôi đến nhà thăm bạn. Không biết ai kể lại đầu đuôi “hậu quả” của vụ “ăn cắp” này cho hắn biết, nên khi vừa bắt tay nhau xong, anh liền ôm lấy tôi rất lâu và nói: “Tụi mình hồi đó vì quá thơ dại, “bản năng” nên thật sự ngu Vinh à. “Điếc không sợ súng” là rứa, thật may cho cả hai đứa đó”.


Không biết đứa mô mách với thầy Chủ nhiệm về vụ “ăn cắp” này của tôi, thầy Trần Văn Dũng tuyệt nhiên không nói với ai cả. Nếu nói ra, có khi họa cho thầy. Tàng trữ, lưu hành thứ ni (văn hóa phẩm đồi trụy, phản động) thời đó nguy hiểm hơn ma túy bây giờ. Rồi chuyện “yêu đương” nữa. Tôi làm được bài thơ mô là tụi nó chép chuyền tay nhau, ghi luôn tên mình rồi gửi cho đứa đã phải lòng. Nhí nhố “thơ tình học trò” rứa.


(Xin mọi người đọc: “THƠ LÊ QUANG VINH ngominh | 30 Mar, 2015, 08:12 | THƠ | (653 Reads)” và “CẢM THỨC 42 NĂM TÌNH ĐOẠN TUYỆT ngominh | 03 Apr, 2015, 07:51 | THƠ | (875 Reads)” để hiểu thêm).


Thầy xử tôi như vậy là quá nhẹ; nó chỉ nằm im, lưu mãi trong học bạ, lý lịch và ký ức thôi...


***

Có lẽ Lớp 10 tôi là lớp học “vô tiền, khoáng hậu” của ngôi trường này, vì không phiên số hiệu A,B,C...gì cả. Sự “khổ’ cũng là “vô tiền, khoáng hậu” trong “thế giới học đường” của những năm tháng chiến tranh (vào kỳ) ác liệt nhất bởi sự đánh phá dữ dội (điêng cuồng) của máy bay Mỹ - Ngụy. Do đó, suốt mấy tháng hè năm 1966, chúng tôi phải vào rừng đốn cây, vác bộ trên đôi vai trần, chân trần những cây gỗ to, dài nặng gấp 2 trọng lượng cơ thể mình. Suốt mấy chục cấy số đường sông dày đặc thủy lôi và đường bộ, trên đầu máy bay quần thảo liên hồi kỳ trận vô cùng nguy hiểm, vẫn quyết tha được gỗ về để đóng góp cho trường (làm nghĩa vụ) dựng trường lớp, làm trụ - kèo hầm kiểu hình “chữ A” (nghe nói là du nhập bên Triều Tiên, từ kinh nghiệm trong chiến tranh “Trung – Triều kháng Mỹ 1950”). Bàn ghế là ghép từng ống tre nứa; lớp học phải đào đất hạ nền sâu xuống phía “âm ty”, cách “cốt 0” (bình địa) trên nửa thước Tây cho an toàn; rồi (thầy trò) kỳ công xây đắp nên hệ thống “tường thành” - chính là hầm trú ẩn chắc chắn chạy quanh 4 phía lớp học như “đê bao”; cốt sao chống được bom tấn, đạn rốc két (tên lửa không đối đất từ trên máy bay Mỹ bắn xuống) và ngăn mưa gió bão bùng bởi khí hậu khắc nghiệt miền Trung (lắm bão, nhiều mưa nhất nước).


Những cô gái chàng trai bụng luôn đói, mặc rách mà chèo nôốc giỏi dang, đẵn gỗ ngã cây sắc lẹm như “lâm tặc” (thợ rừng); đào đất, ke vác - sương gánh dẻo dai trăm ki lô gam có dư - quả là “nhất thổ - nhì mộc”! Càng không thua kém nông phu (“lực điền”) vì đang sức ăn sức lớn... Đó là Hoàng Thị Suê, Huỳnh Đặng Phằng, Hoàng Văn Duy (cả 3 ở xóm Nam, làng Minh Lệ) và Nguyễn Văn Nam (người thôn Thọng Thóng) 4 bạn ni đều cùng xã Quảng Minh; Mai Thị Nậy (xóm Minh Sơn, thôn Thọ Linh, xã Quảng Sơn), Phan Văn Khiêng (xóm Đình Sơn, thôn Thọ Linh, xã Quảng Sơn); Lê Quế, Nguyễn Thế Đạt - biệt danh “Gia Nã Đại” (thôn Lâm Xuân, xã Quảng Thủy) – cả hai đều đen trũi; riêng Quế thì cao vời vợi, còn Đạt lại lùn tịt như không có cổ, nhưng khỏe như...“lực sĩ”. Đặng Văn Cường (người Hòa Ninh, xã Quảng Hòa) to cao, vạm vỡ; bạn bè ví là “B52”! (thành biệt danh của anh ta). Cường được “chuyên môn hóa” làm lớp trưởng từ hồi còn học cấp 2; lên cấp 3 thêm chức “Bí thư Chi đoàn” nữa từ lớp 8 đến hết lớp 10. Chàng trai này luôn phải gắng “gương mẫu” cho kỳ được trong mọi hoạt động; nên Chi bộ nhà trường sớm kết nạp “Đảng” trước khi ra trường rất lâu (có lẽ cũng có thêm “yếu tố” chú ruột là “Bí thư Đảng ủy xã Quảng Hòa", nên trong máu giàu "truyền thống Cách mạng”, mới “vinh quang” và “đặc biệt” như vậy). Rất tiếc người bạn tốt này đã qua đời cách nay hơn chục năm, do bị suy thận nặng tại Khoa Thận – tiết niệu, Bệnh viện Bach Mai – Hà Nội. Vợ tôi là Thầy thuốc ưu tú – Bác sĩ chuyên khoa II Phan Thị Xuân Hương, là “nòng cốt” trong hội đồng chuyên môn của khoa, đã cùng các bác sĩ có tay nghề vững, chữa chạy cho ca bệnh này. Nơi đây là tuyến y tế cao nhất - tuyến cuối cùng của Ngành Y về chuyên môn, nên anh được điều trị, chăm sóc đúng cách đúng hướng và đặc biệt rồi mà vẫn không qua được. Tôi vô cùng thương bạn.


Lớp 10 năm học đầu tiên này, còn có thêm “sự đặc biệt” về khỏan “văn nghệ”. Nguyên do là tôi từng làm “diễn viên chuyên nghiệp” trong các vở kịch “Nổi gió” của Đào Hồng Cẩm, “Chiếc va ly khủng khiếp” và “Câu chuyện bang Tếch-dát” (Mỹ) của hai năm học bên Trường cấp 3 Quảng Trạch (khi chưa chia tách). Rất tiếc, giờ tôi không còn nhớ nổi tác giả của hai vở kịch sau. Ban kịch Trường cấp 3 Quảng Trạch hai năm học này gồm những anh chị vô cùng tài năng như: Mai Thị Len (người Quảng Thuận), Nguyễn Thị Tòng (người Quảng Liên); các anh Nguyễn Tri Nguyên (người Ba Đồn), Nguyễn Quang Vinh (người đâu Ngoại Hải thì phải?), Cao Xuân Phách (người Quảng Hải)... Thầy Dinh – giáo viên Văn, là đạo diễn. Những năm tháng này, kịch diễn mà có nhân vật nữ mặc váy ngắn (được khâu từ hai chiếc khăn vuông đội đầu của phụ nữ), không hay cũng thành “hay” ai ai cũng muốn xem, chứ chưa nói tới diễn xuất của anh chị em chúng tôi phải nói là rất...“xuất sắc” khi trình diễn 3 vở kịch này! Không những diễn nhiều suất phục vụ tại trường, chúng tôi mấy lần vào trong tỉnh, xuống doanh trại hải quân ở Cửa Gianh để biểu diễn, giao lưu và...”thi thố” nữa! Đội đã gặt hái được vô vàn lời khen ngợi, giải thưởng của huyện, Ty Giáo dục và UBHC tỉnh QB.


Về Trường Nam, thầy giáo trẻ Trần Văn Dũng tài năng, vẹn toàn cả chuyên môn lẫn hoạt động văn thể; thầy trực tiếp tham gia mọi khâu, chung tay dàn dựng lại hai vở kịch “Chiếc va ly khủng khiếp” và “Câu chuyện bang Tếch-dát”. Tôi và Lê Đình Thám là hai diễn viên chính; hình như còn có thêm bạn Lê Văn Dần, Nguyễn Đình Huyền (cả ba anh này đều người Quảng Trung). Ông giáo Trần Văn Dũng thực sự có năng khiếu âm nhạc, đã cùng học trò là Nguyễn Ngọc Khương (người làng Vĩnh Phước, xã Quảng Lộc – học sau tôi 1 năm) sáng tác nên bài hát “Trường ca Nam Quảng Trạch”. Bài hát đã thành bài ca truyền thống của trường cấp 3 Nam Quảng Trạch – THPT số 2 Quảng Trạch – nay là Trường THPT Lê Hồng Phong, tỉnh Quảng Bình (tên lúc đầu là “Khúc hát Trường Nam” và vị trí đặc biệt của nó như đã nói ở trên). Đội văn nghệ Trường Nam hồi này có những nữ “danh ca” đẹp gái hát hay, lại học giỏi như Hoàng Bích Huyền (người xóm Nam, làng Minh Lệ), Nguyễn Thị Diệu (thôn Hợp Hòa – Quảng Hòa). Rồi mấy nàng tươi xinh nữa như: Đoàn Thị Thơ, Nguyễn Thị Ngọc và Nguyễn Thị Thanh – tục danh là “Coóc” (cả 3 O đều người Hòa Ninh) – những thiếu nữ này vừa thi được vào học khối lớp 8.


Lớp 10 có nam “danh ca” Phan Văn Khiêng (người xóm Đình Sơn, thôn Thọ Linh, xã Quảng Sơn) với giọng cao vút, dày hơi và “chảnh” như “Doãn Tần” ngày nay; lớp 9B có “nhạc sĩ sáng tác” đồng thời là “nam ca sĩ” Nguyễn Ngọc Khương. Nghe đồn Khương giỏi thơ nhạc vì trong ban “Thánh ca” của Nhà thờ Vĩnh Phước (Công giáo).
Khi sang giao lưu và thi thố tài năng tại huyện (đóng trụ sở ở làng Pháp Kệ, xã Quảng Phương) thì Hoàng Bích Huyền được cử làm “người dẫn chương trình” (giới thiệu) cho tiết mục kịch. Giọng nói vùng nam nhẹ và trong trẻo, đôi mắt hình “lá răm” xa xăm sáng như vì sao, dáng người cùng nét mặt thanh tú cùng mái tóc dài thướt tha như “chị Sứ” trong sách "Người mẹ cầm súng" của Nguyễn Thi; khiêm nhường, độc đáo trong bộ đồ ba ba đen giản dị...đã đốn tim cả mấy ngàn “nam thanh nữ tú” học sinh, thầy cô giáo các trường và bà con địa phương cùng dân Ba Đồn sơ tán về đây. Chưa xem kịch, họ đã vỗ tay rầm rầm...
Chỉ một năm học tại Trường Nam, sau bao biến cố đất nước cùng tình riêng; biền biệt nơi xa xứ mà nhớ thương về cố hương – người cũ, trường xưa; tôi có chùm thơ trĩu nặng ưu tư, nay xin chép lại như là “hồi niệm” của một thời đạn bom đã sống, học tập ...hết mình.


NGÀY XƯA
Ngày xưa tóc tết hai bên
Long lanh ánh mắt, nghiêng nghiêng nụ cười
Má hồng tự nó hồng thôi
Trái tim tinh nghịch trêu người sông trăng…
Ngày xưa áo tím hoa xoan
Nhà em cây thị hương lan ngát trời
Ngày xưa trường nhỏ bên ngòi
Cho ai đến học, thành người hôm nay…
Ngày xưa thật lạ lùng thay
Vài giờ lên lớp mà say trọn đời
Ngày xưa câu hát, tiếng cười
Tan theo điệu múa, lòng người đuốc reo
Đường làng cũng tập “qua đèo”
Bước chân cắm trại, ta trèo lên mây…
“Chàng” – “nàng” không đắm mà say
Không thương mà nhớ, ngất ngây đến giờ
Bóng hình xa lắc xa lơ
Biết đâu “Hợp Phố”(*), nào ngờ hôm nay…
-----------------
(**)Nguyễn Du: “Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về”.



MẮT ƠI

Mắt ơi, sao mắt long lanh ?
Xa xăm giọt ngọc, mong manh nét ngài.
Mắt ơi, mắt sáng sao mai,
Mắt là “sợi nhớ” buộc ai trọn đời…




XÓM NHỎ CHIỀU NAY

Muốn gửi cho em những gì có thể
Con đường xưa xóm nhỏ chiều nay
Câu hát của em thời tuổi trẻ
Vẫn còn đây vang vọng từng ngày
Muốn gửi cho em những gì tất cả
Tất cả một thời áo cánh màu quê
Ngôi trường cũ tuyềnh toàng tre lá
Mà hồn ta rực nắng trư hè…


LQV(20 giờ 39′ ngày 11/2/2016 (Mồng 4 Tết Bính Thân) - 20 GIỜ 34' - 15/2/2016)



No comments: