Saturday, March 26, 2016

BÀN CỜ BIỂN ĐÔNG

 


Bàn cờ chiến lược tại Biển Đông

  • 25 tháng 3 2016



 

Image copyright Google

Trong vùng Biển Đông tranh chấp, Trung Quốc thời gian qua sử dụng biện pháp bồi đắp đảo đá nhân tạo và quân sự hóa như triển khai tàu chiến, tên lửa đất đối không và radar tần số cao.
Viễn cảnh tương lai gần, liệu Trung Quốc sẽ ngưng chiến lược quân sự hóa để mặc cả và thương lượng với các nước láng giềng? Hay Bắc Kinh sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền trên các hòn đảo đã bồi đắp với tham vọng kiểm soát Biển Đông.
Trong bối cảnh đó, hoạt động bảo vệ tự do hàng hải của hải quân Mỹ có được các nước trong khu vực chào đón> Đâu là chiến lược tốt nhất cho các nước ASEAN trước khả năng đối đầu giữa hai siêu cường Mỹ và Trung Quốc?

Trung Quốc thắng chiến thuật, thua chiến lược?

Theo ông Richard J. Heydarian, đang dạy Chính trị học tại Đại học De La Salle, Philippines, việc Trung Quốc quân sự hóa các hòn đảo tại Biển Đông bao gồm cả hai mục đích dân sự và quân sự.
“Trung Quốc liên tục khẳng định mục đích dân sự của mình trong việc bồi đắp đảo nhân tạo ở Biển Đông. Nhưng các quốc gia khác đều lo ngại rằng Trung Quốc đang dần thiết lập chủ quyền trên thực tế một cách không chính thức trên những hòn đảo này,” ông nói.
Ông Heydarian nói với BBC rằng những đụng độ đẫm máu tại Biển Đông như trận Gạc Ma năm 1988 hiếm có cơ hội lặp lại. Mục tiêu hiện tại của Trung Quốc là gián đoạn khai thác năng lượng, hoạt động tuần tra trên biển, hay hoạt động đánh bắt của ngư dân các nước lân cận như Philippines, Việt Nam và Malaysia.
Là tác giả cuốn sách Mặt trận mới ở Châu Á: Mỹ, Trung Quốc và xung đột tại Tây Thái Bình Dương, ông này cảnh báo “không thể phủ nhận so sánh lực lượng giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Đông Nam Á hiện tại là rất chênh lệch”.
Theo ông, các nước trong khu vực hoan nghênh sự hiện diện và chương trình bảo vệ tự do hàng hải (FONON) của hải quân Hoa Kỳ để đối trọng với Trung Quốc.
“Mặc dù Trung Quốc đang có lợi thế về mặt chiến thuật, nhưng lại đang thua về mặt chiến lược,” theo lời ông Richard J. Heydarian.

Nguyên nhân là do rất nhiều nước trong khu vực, e ngại sự hung hăng của Trung Quốc tại Biển Đông nên xoay trục gần hơn với Hoa Kỳ.
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cam kết thúc đẩy việc ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Sáng kiến Kết nối Hoa Kỳ-ASEAN, còn Nhật Bản cam kết cung cấp thêm 100 tỷ đô la cho những dự án phát triển tại Đông Nam Á.
Những động thái của các nước này, theo ông Haydrian, được coi là chính sách “chế ngự”, là sự kết hợp giữa “ngăn chặn” và “giao thiệp”.
Trong khi đó, ông Anders Corr, giám đốc Công ty tư vấn chính phủ Corr Analytics, nhận xét với BBC chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông là sự tiếp nối chủ nghĩa bành trướng của nước này.
“Trong lịch sử, Trung Quốc đã làm điều tương tự với Tân Cương và Tây Tạng; và nay tiếp tục chính sách này tại vùng Biển Hoa Đông, Biển Đông, và khu vực Himalaya”.
Theo ông, công bằng mà nói hiện tại Biển Đông đang bị quân sự hóa bởi tất cả các bên, không chỉ có Trung Quốc, bởi vì chủ quyền của những hòn đảo này vẫn đang bị tranh chấp.
Ông cũng cho rằng hoạt động hải quân Hoa Kỳ ở Biển Đông sẽ có lợi cho các nước ASEAN đang tranh chấp với Trung Quốc.
“Hoạt động này cho thấy Hoa Kỳ không chấp nhận hay ủng hộ lập trường của Trung Quốc về chủ quyền đường chín đoạn”, ông nói.
Bình luận về chiều hướng giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, ông Corr nói “Tranh chấp này đã kéo dài nhiều thập niên và khó có thể có bước tiến đột phá trong thời gian tới. Nguyên nhân là do vẫn còn bế tắc trong cách giải quyết hợp lý cho tất cả các bên”.
Trong khi đó, nữ tiến sĩ Elena Atanassova-Cornelis, giảng viên chính trị Đông Á tại Bỉ, lo ngại về tính diễn biến trong ván bài quân sự ở biển Đông.
Bà đưa ra dẫn chứng: “Trung Quốc đã chỉnh sửa Sách trắng nước này vào năm 2015, trong đó cho phép tăng cường đầu tư quân sự mở rộng khả năng phòng thủ kiểm soát cả vùng thềm lục địa (biển gần) và ngoài khơi (biển xa)”.



Image copyright IEAS
Mục tiêu được cho là nhằm thiết lập các vùng cấm bay, cũng như củng cố chính sách “chống xâm nhập, chống tiếp cận”.
Về chính sách hiệu quả nhất cho các nước Đông Nam Á vào thời điểm này, bà Elena Atanassova-Cornelis gói gọn trong thuật ngữ “rào giậu kép”.
“Phần lớn các nước ASEAN muốn thi hành chính sách cân bằng và rào giậu với cả hai siêu cường Trung Quốc và Mỹ. Đây là điều dễ hiểu.”
“Một mặt, ASEAN muốn hạn chế sự phụ thuộc và tính dễ bị tổn thương trong trường hợp Hoa Kỳ bỏ rơi hoặc quan hệ Hoa Kỳ và Trung Quốc ấm lên. Mặt khác, các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á cũng cần ngăn ngừa ưu thế vượt trội và các động thái không mong muốn của Trung Quốc,” bà giải thích.

Chiến lược lâu dài

Theo ông Anders Corr, chiến lược tốt nhất đối với các nước vừa và nhỏ ở Đông Nam Á là phát triển kinh tế và dân chủ hóa từng bước. Những hình mẫu tốt là Nhật Bản và Hàn Quốc, vì những quốc gia này là dân chủ và có nền kinh tế khá phát triển có thể hỗ trợ được cho lực lượng quân sự quốc gia.
Về việc liệu Trung Quốc có đưa ra các biện pháp cứng rắn hơn , ông Corr nói Trung Quốc sẽ không muốn ảnh hưởng xấu tới quan hệ kinh tế với các quốc gia ASEAN do Trung Quốc cũng phụ thuộc nhiều và các mặt hàng xuất và nhập khẩu với các quốc gia này.

“Nền kinh tế của Trung Quốc có tăng trưởng nhưng với tốc độ chậm hơn so với nhiều nước Đông Nam Á. Trong khi đó, Mỹ cũng không muốn leo thang căng thẳng với Trung Quốc vì hệ quả tốn kém và khả năng đứt quãng thương mại quốc tế.”
Các biện pháp cụ thể cho các nước Đông Nam Á, theo tiến sĩ Elena Atanassova-Cornelis, nhận định có thể chia thành ba hướng cơ bản.
Một là tăng cường khả năng tự vệ, đối thoại với Trung Quốc và sự cam kết của Hoa Kỳ tại khu vực.
Hai là đa dạng hóa chiến lược thể hiện ở chỗ thiết lập và củng cố các hiệp ước đối tác nâng cao khả năng thích nghi với biến đổi chiến lược.
Ba là củng cố các tổ chức đa phương và vai trò trung tâm của ASEAN.
Còn ông Anders Corr nhấn mạnh đến khả năng Trung Quốc thỏa hiệp được với tầng lớp tinh hoa và doanh nghiệp tại Hoa Kỳ quay sang ủng hộ Trung Quốc.
Ông nói: “Những nhà tài phiệt và tập đoàn kinh doanh lớn của Hoa Kỳ không muốn hy sinh lợi ích kinh tế với Trung Quốc, và họ có thể gây ảnh hưởng với chính phủ Mỹ thông qua bầu cử dân chủ”.
Năm 2015, thương mại hai chiều giữa Mỹ và Trung Quốc đạt mức kỷ lục là 590 tỷ đô la. Trung Quốc cũng có quan hệ thương mại rất tốt với các nước Châu Âu như Anh và Pháp.
“Như vậy, đến một thời điểm nào đó, Hoa Kỳ có thể không còn khả năng bảo vệ các quốc gia đồng minh thân cận nhất của mình tại châu Á”, ông này dự đoán. Đến lúc đó, Trung Quốc có thể sẽ đưa ra những động thái mạnh mẽ hơn về quân sự tại Biển Đông.
Sắp tới Hoa Kỳ chuẩn bị bước vào chuyển giao quyền lực thông qua kỳ bầu cử Tổng thống.
“Chính quyền Obama có chính sách tương đối mềm mỏng với Trung Quốc và Nga, vì thế hai nước này gần đây có được lợi thế trong các tranh chấp lãnh thổ. Tổng thống kế nhiệm có thể sẽ có đường lối cứng rắn hơn đối với Trung Quốc,” theo lời ông Corr.


Điểm mới trong tranh chấp Biển Đông?

  • 3 tháng 3 2016


 
Image copyright AFP
Image caption Giới chức địa phương của Philippines theo dõi bản đồ về địa điểm mà Philippines nói Trung Quốc điều tàu vào.
Bàn tròn Thứ Năm của BBC và các khách mời bình luận những điểm mới trong tranh chấp Biển Đông năm 2016 nhân việc tàu Trung Quốc vừa rút khỏi bãi Hải Sâm thuộc quần đảo Trường Sa mà cả Việt Nam, Philippines cùng tuyên bố chủ quyền.
Tọa đàm của BBC được phát vào lúc 19h15-20h00 giờ Việt Nam, ngày thứ Năm, 03/3 trên kênh Youtube của BBC Việt ngữ tại đây.
Ngoại trưởng Philippines cho hay hôm 2/3 khi kiểm tra thì tàu Trung Quốc đã không còn ở bãi Hải Sâm thuộc Trường Sa.
Thông tin về hiện diện của nhiều tàu Trung Quốc tại nơi mà Philippines gọi là Đá Quirino đã làm dấy lên quan ngại rằng Trung Quốc đã chiếm kiểm soát bãi san hô này.
Tuy nhiên, Ngoại trưởng Albert del Rosario nói khi điều người ra kiểm tra thì không còn thấy tàu Trung Quốc nữa.
Ông del Rosario cũng nói thêm không rõ tàu nước láng giềng khổng lồ có quay trở lại hay không.
"Chúng có thể trở lại vào ngày mai, có thể không."
Tại Bắc Kinh, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi giải thích rằng Bộ Giao thông Trung Quốc đã điều tàu ra Trường Sa, mà nước này gọi là Nam Sa,để cứu một tàu cá mắc cạn gần bãi Hải Sâm từ cuối năm 2015, gây cản trở lưu thông.
Ông Hồng nói với các phóng viên rằng trong chiến dịch này, tàu Trung Quốc đã "thuyết phục các tàu cá [Philippines] rút lui để bảo đàm an toàn lưu thông hàng hải".
Ông cũng nói tàu Trung Quốc đã rút đi sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Gây chú ý và quan ngại



 
Image copyright AMTI
Image caption Trung Quốc đã triển khai hệ thống Radar ở khu vực tranh chấp trên Biển Đông.
Từ đầu năm 2016 tới nay, Trung Quốc gây chú ‎ý và quan ngại ở Biển Đông với một số các quốc gia có lợi ích liên quan, sau khi có một loạt động thái như cho phi cơ hạ cánh thử nghiệm ở quần đảo Trường Sa, tiến hành nhiều chục chuyến phi cơ dân sự hạ cánh, triển khai dàn tên lửa đất đối không và Radar ở khu vực, trong khi được cho là vẫn tiếp tục củng cố các khu đảo nhân tạo gây tranh cãi.
Trước đó, ngư dân Việt Nam cũng đưa ra cáo buộc là nhiều tàu cá của họ tiếp tục bị các tàu của Trung Quốc đe dọa, tấn công thậm chí bắn phá, mặc dù truyền thông chính thức của Việt Nam trong nhiều vụ chỉ gọi đây là ‘tàu lạ’.
Liên quan tranh chấp giữa Trung Quốc với Philippines tại bãi Hải Sâm, hồi năm 2011, tàu chiến Trung Quốc từng nổ súng gây hấn với ba tàu cá của Philippines cũng tại bãi Hải Sâm khiến các tàu này phải cắt neo chạy trốn.
Manila đang kiện tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông của Bắc Kinh ra tòa trọng tài quốc tế và phán quyết được trông đợi vào tháng Năm tới.
Hôm thứ Ba 1/3, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter lặp lại yêu cầu Trung Quốc không có hành động "hung hăng" trong khu vực và cảnh báo "hậu quả" nếu tiến trình quân sự hóa Biển Đông tiếp diễn.



 
Image copyright EPA
Image caption Người dân Philippines biểu tình phản đối các động thái của Trung Quốc trên Biển Đông.
Về phần mình, Bắc Kinh hết sức giận dữ trước các chuyến tuần tra "bảo vệ tự do lưu thông" của hải quân Mỹ ở Biển Đông trong thời gian gần đây.
Bàn tròn Thứ Năm tuần này của BBC Việt ngữ và các vị khách mời cùng nhìn lại các diễn biến và sự kiện ở Biển Đông, cũng như các động thái, phản ứng của các bên liên quan, và thử dự đoán xem ít nhất từ nay tới cuối năm 2016, Trung Quốc và các bên liên quan sẽ có những bước đi, động thái nào khác đáng chú ý.
Tham gia Bàn tròn, có Đại sứ, Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Trường, Chủ tịch Viện Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển Ngoại giao, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, nhà nghiên cứu bang giao Quốc tế từ Đại học George Mason, Hoa Kỳ, nhà báo Đỗ Thông Minh từ Tokyo Nhật Bản và nhà báo Vincent Ni, từ Ban BBC Tiếng Trung.
Mời quý vị theo dõi Tọa đàm tại đây: http://www.youtube.com/watch?v=IQholJOECzo
 http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2016/03/160303_hangout_southchinasea_2016

 



Biển Đông : Mỹ đối mặt với nguy cơ bị Trung Quốc chọc mù


media 

Ảnh minh họa - Vệ tinh SMOS.AFP/ESA/AOES Medialab
Cho đến nay, uy lực quân sự của Mỹ được cho là chủ yếu dựa trên các loại công nghệ và vũ khí, kết nối với nhau qua màng lưới vệ tinh. Thế nhưng, đây chính là « tử huyệt » mà các đối thủ của Mỹ, cụ thể là Trung Quốc và Nga, có thể đánh vào.
 Trong một bài viết ngày 07/02/2016, nhà báo Dan Lamothe, chuyên trách vấn đề quân sự và quốc phòng của nhật báo Mỹ The Washington Post, đã nêu bật nguy cơ này trong bài « Giới phân tích hối thúc Hoa Kỳ chuẩn bị cho chiến tranh không gian với Nga, Trung Quốc ».
Bài báo mở đầu bằng một kịch bản thảm họa đối với Hải Quân Mỹ trên Biển Đông : Một chiến đấu cơ Trung Quốc vô tình đâm vào một máy bay trinh sát P-8 Poseidon của Hải Quân Mỹ khi đang tuần tra trên Biển Đông, làm phi hành đoàn của cả hai bên thiệt mạng. Lo sợ sự trả đũa của Hoa Kỳ, Trung Quốc đã dùng biện pháp khá bất ngờ : Sử dụng tên lửa địa đối không để liên tiếp bắn hạ nhiều vệ tinh của Hoa Kỳ trên không trung.
Hậu quả rất tức thời : Hải Quân Mỹ trên Thái Bình Dương bị buộc phải tự mình di chuyển mà không còn được hệ thống định vị GPS trợ giúp, trong lúc thông tin liên lạc bị xuống cấp nghiêm trọng, gây nên tình thế hỗn loạn và bất ổn. Các cuộc tấn công của Trung Quốc cũng đã triệt hạ một số khả năng điều khiển kho vũ khí dẫn đường chính xác của Lầu Năm Góc.
Kịch bản này chưa hề xảy ra, nhưng cho thấy rõ sự lệ thuộc của Lầu Năm Góc vào không gian và vào công nghệ quân sự gắn với không gian. Trong nhiều thập kỷ qua, số lượng vệ tinh được phóng lên khí quyển của trái đất đã tăng vọt, cung cấp cho Hoa Kỳ một lợi thế rất lớn về mặt quân sự, ngay cả khi kho vũ khí thông thường mà các đối thủ của Mỹ có trong tay rất ghê gớm.
Theo nhà báo Dan Lamothe, một báo cáo mới đây của Trung Tâm An Ninh Mới của Mỹ (Center for a New American Security) đã nhấn mạnh đến các lỗ hổng mà Lầu Năm Góc để lộ trong không gian, và kêu gọi Mỹ thay đổi chiến lược để bảo vệ và chuẩn bị đối phó với một cuộc chiến tranh không gian.
Tác giả bản phúc trình là ông Elbridge Colby, chuyên gia nghiên cứu cao cấp của Trung Tâm, nguyên là thành viên trong ban vận động tranh cử của ứng viên tổng thống đảng Cộng Hòa Mitt Romney. Theo bản báo cáo, các đối thủ tiềm tàng của Mỹ như Trung Quốc và Nga đã nhận thấy rõ mức độ lệ thuộc nặng nề của Hoa Kỳ vào « kiến trúc không gian » - tức là các hệ thống vệ tinh quân sự - và đã bắt đầu tìm cách chống phá.
Đối với ông Colby, các mối đe dọa nhắm vào các vệ tinh không chỉ đến từ các tên lửa, mà còn đến từ không gian mạng với các cuộc tấn công tin học và điện tử có tác dụng vô hiệu hóa các vệ tinh. Báo cáo ghi rõ : « Không gian đang trở thành một địa bàn giống như bất kỳ một địa bàn nào khác - không trung, đất liền, biển khơi, và điện từ - nơi mà Hoa Kỳ sẽ phải nỗ lực chống lại các mưu toan truy cập và khai thác, chứ không chỉ là bảo đảm quyền sử dụng và tự do qua lại an toàn ».
Tuy nhiên, theo tác giả bài báo, Lầu Năm Góc đã bắt đầu chuẩn bị đối phó.
Vào năm ngoái chẳng hạn, bộ trưởng Quốc Phòng Ashton B. Carter đã chỉ đạo cho quân đội Mỹ là phải bắt đầu xem xét việc giảm sự lệ thuộc vào các vệ tinh GPS, và đã gợi lên trong một podcast (tức là bài ghi âm truyền qua internet) rằng Bộ Quốc Phòng có thể sẽ không còn đặt mua vệ tinh GPS trong vòng 20 năm nữa.
Ông nói : « Đây là một suy nghĩ đồng thời là một đề xuất cho quý vị : Tôi ghét GPS... Ý tưởng theo đó chúng ta đều phải bám víu vào một cái vệ tinh – từng được tôi miễn cưỡng đặt mua – quay trong một quỹ đạo bán đồng bộ, nhưng lại không vận hành được trong những hoàn cảnh nhất định, trong nhà hoặc trong các thung lũng ở Afghanistan, ý tưởng đó thật là lố bịch ».
Theo ông Colby, dù có làm gì đi nữa, thì Mỹ không bao giờ có lại ưu thế tuyệt đối trong không gian. Vì vậy, Hoa Kỳ cần phải xem xét vấn đề là phải làm gì khi một vệ tinh của mình bị tấn công.
Theo nhà nghiên cứu này, thì trong Chiến Tranh Lạnh, Hoa Kỳ từng đe dọa là sẽ đáp trả bất kỳ một cuộc tấn công nào trong không gian bằng một đòn hủy diệt. Do vậy, ông Colby cho rằng Mỹ nên áp dụng một quy định mới, theo đó các cuộc tấn công trong không gian có thể dẫn đến những biện pháp trả đũa ngoài không gian, chẳng hạn như các cuộc không kích vào các mục tiêu trên bộ...
Trong một cuộc phỏng vấn điện thoại, ông Colby nhận xét rằng không gian là một ví dụ hoàn hảo về các thách thức nhắm vào ưu thế quân sự của Mỹ. Không có lý do để nghĩ rằng Trung Quốc và Nga sẽ tự kiềm chế trong không gian, và điều đó đã khiến ông nêu lên các câu hỏi về việc Lầu Năm Góc làm thế nào để tránh chiến tranh trong không gian trong tương lai...
Theo ông Colby, ngay cả khi Trung Quốc hay Nga không bắn hạ vệ tinh Mỹ, họ cũng sẽ tìm cách gây nhiễu và ngăn chặn việc sử dụng : « Không gian sẽ là một địa bàn dễ bị tổn thương, vì vậy chúng ta sẽ phải nghĩ ra cách để giảm thiểu nguy cơ và giảm thiểu những mối đe dọa đó ».

No comments: