Saturday, October 31, 2015

TÙY NGHI TIẾN * NUÔI CỘNG SẢN

Tại sao chúng ta phải nuôi báo cô bè lũ cs?

Tùy Nghi Tiến (Danlambao) - Mở đầu bài viết này tôi xin được chửi nhà cầm quyền cs VN một phát cho hả cơn “bức xúc”. Đúng là một lũ “làm như con..., mà gặp mặt thì đòi tiền”! 

Như quý vị cũng biết đó, mỗi năm cứ độ thu về, khi Quốc hội cs VN họp, thảo luận tổng kết ngân sách năm nay và làm dự toán cho ngân sách năm sau, thì những ai quan tâm tới tình hình kinh tế Việt Nam đều phải hoa cả mắt, chóng cả đầu với những số liệu bất bình thường mà chúng phổ biến. Chúng ta có thể bị các triệu chứng lâm sàng này không phải là vì dữ liệu ấy khó hiểu mà chỉ vì chúng cực kỳ phi lý.

Chỉ bị xây xẩm là còn đỡ đấy, chứ tôi nghĩ là những người bị bệnh cao huyết áp thì không nên xem, đọc, nghe những báo cáo kinh tế, tài chánh của nhà nước báo cô này bởi vì chúng ta có thể bị lên tăng xông hoặc bị tai biến mạch máu mà chớ. 

Mấy hôm nay có lẽ chúng ta ít nhiều đều có nghe tới vụ thâm thủng ngân sách của nhà nước cs VN. Theo thông tin, Việt Nam có thể lâm vào một cuộc khủng hoảng ngân sách vì tình trạng bội chi triền miên. Chính quyền Hà Nội hiện không có đủ tiền chi tiêu chớ chưa nói tới trả nợ nước ngoài và đầu tư vào phương tiện cơ sở hạ tầng. Theo số liệu chính thức của Bộ Tài chánh do bọn đại biểu Quốc hội cs VN trích dẫn, thì trong năm 2015 nhà cầm quyền đã trả nợ được 155 ngàn tỷ đồng nhưng lại vay để giải quyết bội chi ngân sách tới 226 ngàn tỷ đồng và vay trái phiếu chính phủ 85 ngàn tỷ đồng. 

Ngoài ra, trong thời gian gần đây chúng còn vay cái gọi là Ngân hàng Nhà nước 30 ngàn tỷ đồng và 1 tỷ Mỹ kim từ ngân hàng Vietcombank để chi tiêu. Các số liệu này cho thấy tổng các khoản vay lớn hơn gấp đôi tổng các khoản nợ trả, hoặc nói cách khác là trong năm 2015 nhà cầm quyền cs đã vay rất nhiều để chỉ trả một phần rất nhỏ nợ và phần lớn là để chi tiêu.

Trước sự sa lầy thâm thủng ngân sách này, Tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ Thống kê Liên Hiệp Quốc nhận định: “Tôi có cảm tưởng chính phủ (VN) càng ngày càng mất khả năng kiểm soát chi tiêu của mình, hoặc nói ngược là chính phủ rất muốn chi tiêu. Chính phủ Trung ương đồng ý với các địa phương, xây nhà, xây đường xá, ông nào cũng đòi xây cái này cái kia. Và nhiều khi họ chưa có ngân sách mà đã bắt đầu xây rồi. Do làm việc thiếu hiệu quả nên hầu như công trình nào chi phí cũng vượt dự toán ban đầu, Công trình nào cũng vậy cả. Thành ra, với tình trạng này tôi thấy rất là khó, khả năng nợ càng ngày càng nhanh và hiệu quả thì thấp. Khả năng trả nợ chắc chắn là sẽ khó khăn”. (1)

Còn chuyên gia tài chánh Bùi Kiến Thành, trả lời phỏng vấn của Ban Việt ngữ đài BBC, nhận xét: “Tình hình tài chánh của VN đang rất khẩn trương với đầy những vấn đề không được giải quyết: ngân sách cạn kiệt, chi tiêu không được quản lý chặt chẽ, lãng phí đầu tư công và rút ruột công trình; và nợ công không được xử lý ổn thỏa”. (2)

Tại kỳ họp cuối cùng Quốc hội cs VN Khóa XIII mới vừa qua, nhiều số liệu về những thành quả kinh tế trong năm 2015 đã được công bố và khiến không ít người sững sờ. Theo nhà cầm quyền cs, sở dĩ tình hình ngân sách năm 2015, cụ thể là tổng thu nhập, u ám như thế là vì hai nguyên nhân chủ yếu. Một là giá dầu thô trên thế giới giảm mạnh và ảnh hưởng lên giá dầu thô xuất khẩu của Việt Nam. Thu nhập từ xuất khẩu dầu thô đã bị giảm mất một nửa, tương đương khoảng 63 ngàn tỷ đồng. Lý do thứ hai là việc cắt giảm thuế quan với hàng hóa từ các quốc gia ASEAN và một số quốc gia khác trong các hiệp định kinh tế-mậu dịch mà Việt Nam gia nhập. 

Tên Phó Thủ tướng Vũ văn Ninh được đài BBC trích dẫn cho biết rằng: “Theo kế hoạch, trong giai đoạn 2015-2020 thuế suất giảm từ 25% xuống 20%, nhưng vì khó khăn nên phải hạ nhanh hơn”.

Đối với ngân sách 2016, các báo cáo tại Quốc hội cs VN cho thấy còn nguy cấp hơn nữa. Theo đó trả nợ theo kế hoạch năm 2016 là 155 ngàn tỷ đồng, nhưng trong đó đáo nợ hay vay nợ mới để trả nợ cũ lên tới 95 ngàn tỷ đồng và bội chi ngân sách tới 254 ngàn tỷ đồng. Theo dự toán của nhà cầm quyền cs, chi đầu tư phát triển trong năm 2016 sẽ tăng cao hơn dự toán năm 2015 gần 61 ngàn tỷ đồng, nhưng con số mà chúng có thể phân bố trong điều kiện eo hẹp hiện nay chỉ là 45 ngàn tỷ đồng. Nếu số tiền phân bố này được dùng để trả nợ thì sẽ không còn tiền để đầu tư.

Giải thích về ngân sách năm 2016, tên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ, Nguyễn văn Nên cho biết: “Về thu Ngân sách Nhà nước (NSNN), chính phủ đã báo cáo Quốc hội dự kiến tổng thu năm 2016 là 1.014 ngàn tỷ đồng, tăng 103 ngàn tỷ đồng so với dự toán năm 2015”. (3).

“Về dự toán chi đầu tư phát triển nguồn NSNN năm 2016 là 255,75 ngàn tỷ đồng, cao hơn mức bội chi NSNN (254 ngàn tỷ đồng). Tính cả chi đầu tư từ nguồn trái phiếu chính phủ 60 ngàn tỷ đồng, từ nguồn thu xổ số kiến thiết 26 ngàn tỷ đồng thì tổng chi đầu tư phát triển năm 2016 là 341,75 ngàn tỷ đồng, chiếm 25.1 phần trăm tổng chi của NSNN”.

“Con số mà Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (BKH-ĐT) đề cập (45 ngàn tỷ đồng) là vốn ngân sách trung ương trong nước và chỉ là một phần trong tổng chi đầu tư phát triển nêu trên”.

Với tình trạng bội chi như vậy mà nhà cầm quyền cs lại tính làm một chuyện hết sức tào lao và phí phạm. Dĩ nhiên, là tào lao và phí phạm trong mắt của người dân chớ đối với chúng thì là cơ hội. Đó là chúng đề nghị Quốc hội của chúng cho phép xóa nợ các công ty quốc doanh làm ăn thua lỗ. 

Thật vậy, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội Khóa XIII như đã nêu ở trên về các vấn đề sửa đổi, bổ sung Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế, tên Bộ trưởng Tài chánh Đinh Tiến Dũng đã đại diện tên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới tham dự và đưa ra đề nghị xóa các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thuộc danh sách cổ phần hóa, giao, bán, sáp nhập và sắp xếp lại.

Thẩm tra đề xuất này, tên Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm cái gọi là Ủy ban Tài chánh Ngân sách Quốc hội cho biết đa số ý kiến trong ủy ban nhất trí với phương án này. Tuy nhiên, theo Hiển, một số ý kiến cho rằng việc quy định như đề nghị sẽ dẫn đến trường hợp các DNNN hiện nay chưa đến thời điểm thực hiện cổ phần hóa, cố tình chây ì, chậm nộp tiền thuế để tăng số nợ thuế lớn hơn số lỗ lũy kế của DN hoặc cố tình không khai số thuế nợ trong giá trị của DN để được hưởng chính sách xóa nợ của Nhà nước cs VN.

Vì vậy, đại diện ủy ban này đề nghị chỉ xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp đối với DNNN trong khoảng thời gian được giới hạn trước 31/12/2015, không nên quy định trong luật thành một chính sách thường xuyên. Theo đó, đây là nội dung mang tính cá biệt, nên đề nghị Quốc hội ban hành nghị quyết về xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp của DNNN và bổ sung vào nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nuớc năm 2016. 

Hiển còn biện hộ rằng: “Luật DN năm 2014 quy định nguyên tắc khi cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu như sau: “Công ty chuyển đổi đương nhiên kế thừa toàn bộ quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gồm cả nợ thuế, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ khác của công ty được chuyển đổi”. Vì vậy, quy định về xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt chậm nộp đối với DNNN đã thực hiện cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu và pháp nhân mới không chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ tiền thuế, tiền phạt là không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành”. (4) 

Như vậy, kể ra chính quyền chxhcn VN chơi sang thật! Trong khi ngân sách bị thâm thủng khủng khiếp mà lại hào phóng xóa nợ cho các doanh nghiệp đang thiếu mình và đi mượn nợ người khác để chi tiêu! Làm ăn kiểu này thì chúng ta cũng đủ hiểu tại sao tài nguyên quốc gia ngày càng cạn kiệt và người dân ngày càng nghèo túng, mà các quan chức trong chính quyền csVN hay trong các doanh nghiệp nhà nước ngày càng phát đạt.

Các doanh nghiệp nhà nước cứ làm ăn thua lỗ từ năm này qua năm khác và suốt mấy chục năm nay, vậy mà có người vẫn còn bênh vực chúng.

Thật vậy, theo Trần Vinh Dự, một Tiến sĩ được đào tạo ở Hoa Kỳ nhưng về VN làm việc, thì không nhất thiết hễ là doanh nghiệp nhà nước là làm ăn thua lỗ. Trong một bài viết có nhan đề “Khi doanh nghiệp nhà nước thua lỗ”, anh ta đã lấy một số công ty ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường để dẫn chứng về sự thành công của doanh nghiệp nhà nước, chẳng hạn như hãng hàng không Singapore, công ty Bombay Transport Authority của Ấn Độ, công ty sản xuất máy bay Embraer của Brazil, công ty sản xuất xe ô tô Renault của Pháp, công ty sản xuất thép POSCO của Đại Hàn v.v…

Ngoài lãnh vực hàng không, hắn còn trình bày sự thành công của các doanh nghiệp nhà nước trong các lãnh vực khác ở Singapore, chẳng hạn như: viễn thông (điện và xăng dầu), giao thông (đường sắt, xe buýt), cảng, điện toán, đóng tàu, cơ khi, vận tải biển, ngân hàng…. Theo Trần Vinh Dự, sở dĩ các doanh nghiệp nhà nước cần thiết là vì chúng hội được các yếu tố như: độc quyền tự nhiên, năng lực huy động vốn, ngoại trợ (mà anh ta gọi là ngoại ứng) và phổ cập. (5)

Hắn cũng vạch ra các điểm yếu của các doanh nghiệp nhà nước. Đó là vô trách nhiệm, thiếu động cơ làm việc, thái độ ăn theo, thiếu giám sát, thiếu tinh thần cạnh tranh. Theo anh ta, các yếu tố này thường là nguyên do gây ra sự yếu kém và không hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước. (6). Tuy nhiên, tôi xin bổ sung thêm một số yếu điểm hiển nhiên khác của các doanh nghiệp nhà nước, đó là thiếu tôn trọng tài năng, lãng phí và bè phái.

Tôi tạm tán thành những lý luận của anh ta về vai trò và ưu khuyết điểm của các doanh nghiệp tư và quốc doanh. Tuy nhiên, tôi không đồng ý với mục đích bênh vực cho các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam của bài viết. Những điển hình thành công mà hắn trưng dẫn chỉ là những hoa thơm, quả ngọt. Nhưng hắn đã cố tình bỏ sót một yếu tố rất quan trọng cho các sự thành công đó, và nó lại nắm giữ một vai trò nền tảng và then chốt. Nếu không có nó, tôi có thể đoan chắc là sẽ không có những hoa thơm, quả ngọt đó. Đó chính là thổ nhưỡng sinh học và phân bón. Việt Nam trong mấy chục năm qua đã khiếm khuyết yếu tố này. Thổ nhưỡng đó chính là thể chế chính trị, và phân bón chính là tính nhân bản, sự khai phóng, khả năng sáng tạo và kỹ năng chấp nhận rủi ro để khởi nghiệp (entrepreneurial skill).

Dự có viện dẫn công ty viễn thông quân đội Viettel và xem đây là một điển hình thành công của doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, tôi chỉ xem đây là một hiện tượng khác thường trong cái môi trường hoạt động kinh doanh thiếu khích lệ và thiếu công bằng. Viettel chỉ là một anh mèo mù ăn phải cá rán. 

Theo nhận xét tổng quát của tôi, tình trạng các doanh nghiệp nhà nước hoạt động ỷ lại, không hiệu quả và lãng phí, và lâm vào tình trạng thua lỗ như ngày hôm nay là một hậu quả “tất yếu” từ sự dung túng của nhà cầm quyền. Những yếu điểm của các doanh nghiệp nhà nước cũng chính là những điểm đặc trưng của nhà cầm quyền cs VN và hậu quả làm việc của hai đám thế lực này đã chẳng hề khác nhau. 

Vậy thì tại sao chúng ta cứ phải nuôi báo cô bè lũ cầm quyền bất tài, vô dụng?

31/10/2015


______________________________________

Tham khảo:

LÊ XUÂN NHUẬN * THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VỂ NƯỚC NGÀY NÀO ?



THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VỂ NƯỚC NGÀY NÀO ?



1/ Đoàn Thêm, “Hai Mươi Năm Qua – Việc từng ngày – 1945-1964”, Xuân Thu, Los Alamitos, CA, USA (không ghi năm xuất bản), trang 148:


25-6-1954.- Thủ Tướng chỉ định Ngô đình Diệm về nước.”



2/ Chính Đạo, “Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 (Tập B: 1947-1954)”, Văn Hóa, Houston, TX, USA, 1997, trang 392:

14/6/1954: PARIS: Diệm gặp Đại sứ Mỹ Douglas Dillon, báo tin sắp được làm Thủ Tướng... Diệm muốn Mỹ viện trợ nhiều hơn để bảo vệ châu thổ sông Hồng (FRUS, 1952-1954, XIII:2:1695-6).”

trang 397:

Thứ Sáu, 25/6/1954:
Sài Gòn: Diệm về nước.”


3/ Phạm Văn Lưu, “Biến Cố Chính Trị Việt Nam Hiện Đại – Ngô Đình Diệm và Bang Giao Việt-Mỹ 1954-1963”, Centre for Vietnamese Studies, Melbourne, Vic, Australia, 1994, trang 50:

“Sau khi thảo luận với Ông Foster Dulles, để ông ta biết ý định ấy, tôi cho vời Ngô Đình Diệm và bảo ông ta: ... Ông cần phải lãnh đạo Chính Phủ... Sau một hồi yên lặng, cuối cùng ông đáp: Thưa Hoàng Thượng... tôi xin nhận sứ mạng mà Ngài trao phó...” và (sau khi ông Diệm “xin thề”) “Bốn mưoi tám giờ sau (tức 2 ngày sau), Ông Diệm về Sàigòn cùng với Hoàng Thân Bửu Lộc để bàn giao quyền hành.” (trích hồi ký “Con Rồng Việt Nam” của Bảo Đại).


Trang 57:


“Đến ngày 24 và 25 tháng 5 (1954), theo chỉ thị của Hoa Thịnh Đốn, Đại Sứ Mỹ tại Ba Lê là Dillon và một số viên chức khác đã đến gặp Ông Diệm để bàn về việc ông nhận chức vụ Thủ Tướng. Nhưng sự việc đã xảy ra ngoài sự dự đoán của Hoa Thịnh Đốn và các viên chức Mỹ tại Ba Lê: Ngô Đình Diệm đã nhận lời mời của Quốc Trưởng Bảo Đại để làm Thủ Tướng,...”


Trang 59:


Ngày 19.6.1954, ông Diệm chính thức chấp nhận sự ủy nhiệm của Quốc Trưởng Bảo Đại vào chức vụ Thủ Tướng Chính Phủ về nước thành lập nội các. Trong dịp này, Quốc Trưởng cũng trao cho Ông Diệm một đạo dụ ủy cho toàn quyền...”



Trang 59:


“Ngày 24.6.1954 Thủ Tướng Diệm rời Ba Lê lên đường về Sàigòn.”


4/ Nguyễn Đình Tuyến, "Những Biến Cố Lớn trong 30 Năm Chiến Tranh tại Việt Nam 1945-1975", Đại Học Đông Nam, Houston, TX, USA, 1995, trang 25:



"Ông Ngô Đình Diệm bay về Saigon ngày 26 tháng 6 năm 1954."



5/ Hoàng Ngọc Thành, “Những Ngày Cuối Cùng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm”, Quang Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu, San Jose, CA, USA, 1994, trang 58:


“Thủ tướng Ngô Đình Diệm đáp phi cơ về Sàigòn ngày 21-6-1954,”


Trang 71:


“Ông Ngô Đình Diệm được Bảo Đại mời làm thủ tướng... ngày 16-6-1954. Ba ngày sau (tức ngày 19-6-1954), ông nhận lời. Độ 5 ngày nữa, tức là ngày 24-6-1954, ông đáp phi cơ hãng Air France rời Ba Lê và hai ngày sau đến Sàigòn. Cùng đi với ông, có người em trai là Ngô Đình Luyện, ông Trần Chánh Thành, ông Nguyễn Văn Thoại, một giáo sư đại học tại Pháp, hình như là em chồng bà... em ruột ông Diệm... Ngày 26-6-1954, phi cơ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất.”



6/ Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam Cận và Hiện Đại, “Việt Nam – Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia – Cộng Sản”. Santa Clara, CA, USA, 2002, trang 485:


Ngày 18.6.1954, Quốc Trưởng Bảo Đại ký một đạo dụ trao cho ông Diệm, nội dung “ủy nhiệm Ngô Đình Diệm lập Chính Phủ với toàn quyền dân sự và quân sự.” (Sắc lệnh số 38 QT).


Nhận Xét: Đã gọi là đạo dụ rồi, sao lại còn có Sắc Lệnh nữa?


Trang 485:


“Ngày 25.6.1954, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cùng Hoàng thân Bửu Lộc về nước để bàn giao quyền hành và lập chính phủ mới.”



7/ Văn Bia, “Đời Một Phóng Viên và Những Ngày Chung Sống với Chí Sĩ Ngô Đình Diệm”, Lê Hồng, Methuen, MA, USA, trang 273:

“Lần đầu lưa thưa đi rước hụt đã là một thí nghiệm cho thấy sự hưởng ứng bi đát. Chiếc phi cơ Air France đáp xuống rồi mới được thông báo là không có mặt ông Diệm trên đó... Lần sau hy vọng Ủy Ban Tiếp Đón cố vận động mạnh hơn.”



NHẬN XÉT:


I- Ông Ngô Đình DiỆm nhẬn lỜi (làm ThỦ TưỚng) vào ngày nào ?


a) Ông Chính Đạo (xem Đoạn 2 trên kia), đã viết ở trang 392 là ông Ngô Đình Diệm báo tin cho Đại Sứ Mỹ biết rằng mình “sắp được làm Thủ Tướng” (tức là đã đồng ý với việc đó rồi) từ ngày 14/6/1954.

b) Ông Phạm Văn Lưu (xem Đoạn 3 trên kia) đã viết ở trang 57 là ông Ngô Đình Diệm đã nhận lời làm Thủ Tướng trước (hoặc vào) ngày 24 và 25.5.1954 rồi; tuy nhiên ở trang 59 lại viết là đến ngày 19.6.1954 (hơn 3 tuần sau) ông Diệm mới nhận lời .

c) Ông Hoàng Ngọc Thành (xem Đoạn 5 trên kia) cũng viết là đến ngày 19/6/1954 ông Diệm mới nhận lời.

d) Cựu Hoàng Bảo Đại, trong hồi ký “Con Rồng Việt Nam”, thì xác nhận rằng Quốc Trưởng thuyết phục một hồi là ông Ngô Đình Diệm xin nhận lời mời, ngay trong một buổi (xem Đoạn 3 trên kia, về Phạm Văn Lưu) trong lúc ông Hoàng Ngọc Thành (xem Đoạn 5 trên kia) lại viết là ba ngày sau ông Diệm mới nhận lời .


II- NHỮNG AI CÙNG VỀ CHUNG MỘT CHUYẾN BAY VỚI ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM?


Các ông Phạm Văn Lưu (xem Đoạn 3 trên kia) và Hoàng Ngọc Thành (xem Đoạn 5 trên kia) có kể tên một số nhân vật cùng đi với ông Ngô Đình Diệm trên chuyến bay từ Pháp về nước, nhưng không có tác giả nào đề cập đến Hoàng thân Bửu Lộc, như ông Phạm Văn Lưu (xem Đoạn 3 trên kia) đã trich dẫn lời của Cựu Hoàng Bảo Đại, và như Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử (xem Đoạn 6 trên kia) đã ghi, trong lúc Hoàng Thân Bửu Lộc là một Thủ Tướng đương nhiệm (vì chưa bàn giao), chứ đâu phải chỉ là một hành khách vô danh.



III- ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM THƯC SỰ VỀ NƯỚC VÀO NGÀY NÀO ?


a) Các ông Đoàn Thêm (xem Đoạn 1 trên kia) và Chính Đạo (xem Đoạn 2 trên kia) viết là TT Ngô Đình Diệm về nước ngày 25-6-1954.

b) Ông Phạm Văn Lưu (xem Đoạn 3 trên kia) ghi ngày rời Ba Lê là 24-6-1954 nhưng không ghi ngày về đến sân bay Tân Sơn Nhất.

c) Các ông Nguyễn Đình Tuyến (xem Đoạn 4 trên kia) và Hoàng Ngọc Thành (xem Đoạn 5 trên kia) ghi ngày về nước của Thủ Tướng Diệm là 26-6-1954.


d) Ông Hoàng Ngọc Thành (xem Đoạn 5 trên kia) đã viết ở trang 58 là TT Diệm đáp phi cơ về Sàigòn ngày 21-6, nhưng ở trang 71 lại viết là đáp phi cơ rời Ba Lê ngày 24-6-1954.


e) Nhóm Nghiên Cúu Lịch Sử thì ghi ngày 25-6-1954 nhưng không nói rõ ngày ấy là ngày rời Ba Lê hay ngày đáp xuống Tân Sơn Nhất.


f) Cựu Hoàng Bảo Đại thì viết: (sau khi ông Diệm “xin thề”) “Bốn mươi tám giờ sau (tức 2 ngày sau), Ông Diệm về Sàigòn cùng với Hoàng Thân Bửu Lộc để bàn giao quyền hành.” Nếu, theo các tác giả Phạm Văn Lưu (xem Đoạn 3 trên kia) và Hoàng Ngọc Thành (xem Đoạn 5 trên kia), ông Ngô Đình Diệm đã nhận lời mời vào ngày 19-6-1954, thì ông Diệm phải rời Ba Lê vào ngày 21, nhưng ông Hoàng Ngọc Thành lại viết là rời Ba Lê vào ngày 24-6-1954.


g) Ký giả Văn Bia (xem Đoạn 7 trên kia) có viết là có một lần rước hụt, nghĩa là có 2 chuyến bay đã được loan tin là đưa Thủ Tướng Diệm về nước, chuyến trước không có TT Diệm trên đó, chuyến sau mới có. Như thế, có thể là có vài nhà viết sử đã dựa vào tin loan báo về chuyến bay trước mà chép về ngày về nước của Thủ Tướng Diệm chăng?


Vậy thì Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã thật sự về nước vào ngày nào?


LÊ XUÂN NHUẬN

BÙI TÍN * LỜI TRẦN TÌNH CUỐI

Nhà báo Bùi Tín và những lời trần tình cuối đời


Tôi từng ở trong Đảng CS từ tuổi 20, ở trong Đảng 44 năm, 65 tuổi mới thoát Đảng, trở thành người tự do 25 năm nay. Có người bảo là quá chậm, còn chê vui là “sao mà ngu lâu thế!”, nhưng tôi chỉ mỉm cười, tự nhủ mình ngu lâu thật, nhưng vẫn còn sớm hơn hàng triệu đảng viên hiện còn mang thẻ đảng viên CS cuối mùa. Nghĩ mà tội nghiệp cho các đồng chí cũ của tôi quá, sao lại có thể ngu mê, ngủ mê lâu đến vậy.
<!->

Năm nay tôi tự làm “cuộc kỷ niệm” độc đáo, về thời điểm cuộc đời tôi, đến năm nay 2015, tính ra đã đạt một nửa đời (20 năm đầu đời cộng với 25 năm ở nước ngoài) là 45 năm không có dính dáng gì đến đảng CS. Tôi đã lãng phí gần nửa đời người –
gần 45 năm cho những hoạt động lầm lỡ, sai trái, tệ hại vì hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử, cũng do sự u mê, ngu lâu của bản thân mình.

Nhân kỷ niệm riêng độc đáo này, tôi nghĩ đến vô vàn đồng chí CS cũ của tôi, và viết bài này gửi đến các bạn như một buổi nói chuyện cởi mở, tâm huyết, mong được trao đổi rộng rãi với các bạn cũng như với các bạn trẻ trong Đoàn Thanh niên CS mang tên ông Hồ Chí Minh.

Câu chuyện sẽ xoay quanh hai chữ: Giác ngộ.

Giác ngộ là hai chữ tôi nghe rất nhiều lần khi được tuyên truyền về Đảng CS, về chủ nghĩa CS. Các vị đàn anh giải thích con người tốt phải là con người giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là nhận ra lý tưởng cho cuộc đời minh. Tuổi trẻ cần có lý tưởng, hiểu rõ con đường cần chọn, hiểu rõ tổ chức cần tham gia, không bỏ phí cuộc đời minh. Đó là con đường Cộng Sản, dẫn đến độc lập cho đất nước, hạnh phúc cho toàn dân, họ rao giảng triền miên như thế, chúng tôi cũng cả tin là thế thật.

Theo học các chương trinh và lớp học cho đảng viên mới, cho cán bộ sơ cấp, trung cấp, cao cấp của đảng, bao giờ giảng viên cũng nhắc đến hai chữ giác ngộ. Học, học nữa, học mãi để nâng cao không ngừng trình độ giác ngộ của mỗi người. Đảng viên phải có trình độ giác ngộ cao hơn quần chúng ngoài đảng. Đảng viên mới luôn được học kỹ tấm gương của anh thanh niên Lý Tự Trọng, với nét nổi bật nhất là giác ngộ CS từ tuổi thiếu niên, rồi biết bao tấm gương của những chiến sỹ CS ưu tú, bất khuất trong các nhà tù thực dân ở Côn Đảo, Sơn La, Lao Bảo, Kon Tum…giác ngộ cách mang cao, nhà tù, máy chém không nao núng, biến nhà tù thành trường học nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bất khuất, kiên cường.

Trong các bản khai lý lịch cá nhân, mỗi đảng viên thường kể lại bản thân mình được giác ngộ ra sao, được ai giác ngộ, giác ngộ đến mức nào, và luôn kết luận với lời hứa không ngừng học tập, tu luyện, tự phê bình và phê bình để không ngừng nâng cao trinh độ giác ngộ của bản thân.

Tôi kể ra như thế để thấy hai chữ giác ngộ có tác dụng sâu sắc ra sao đối với mỗi đảng viên CS. Hai mươi nhăm năm nay, tôi hồi tưởng lại quãng đời 44 năm là đảng viên CS, theo dõi chặt chẽ thời cuộc hằng ngày trong nước và thế giới, tôi không khỏi cảm thấy chua chát và cay đắng về hai chữ giác ngộ.

Giác ngộ hình như là một chữ Đảng CS mượn của Đạo Phật. “Giác” là nhận thấy, cảm nhận, thấy rõ, “ngộ” là tỉnh ra, nhận ra lẽ phải, chân lý để làm theo.

Sau khi là con người tự do, là nhà báo tự do, kết thân với nhiều nhà báo tự do của thế giới, các nhà báo tự do Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Hoa, Ba Lan, Tiệp…, tôi tìm đọc các kho tư liệu lưu trữ quý ở Paris, Moscow, London, Washington… rồi suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của mình, của riêng mình, không sùng bái bất cứ một người hay một học thuyết nào. Từ đó tôi giác ngộ không biết bao nhiêu điều mới mẻ, và lần này tôi thật sự có cảm giác sâu sắc về hạnh phúc tinh thần tiếp cận được ngày càng nhiều sự thật, lẽ phải, chân lý. Tôi đã tự giác ngộ mình.

Nhìn lại 44 năm quá khứ CS của mình, tôi nhận rõ có không ít điều tôi giác ngộ, cho là đúng, thì khốn thay, hầu hết đều là lầm lẫn, ngộ nhận, ảo tưởng, sai lầm và cả tội ác.

Như chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản kiểu mác-xít đều là những học thuyết chủ quan, lầm lẫn, hoàn toàn nguy hại trong thực tế, cổ xuý đấu tranh giai cấp cực đoan và bạo lực, đi đến chiến tranh, khủng bố, đổ máu, hận thù. Giữa thủ đô Washington, tôi cùng anh Cù Huy Hà Vũ đã viếng Tượng đài Kỷ niệm hơn 100 triệu nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa CS hiện thực, trong đó có hàng triệu nạn nhân đồng bào Việt ta. Tượng đài nhắn nhủ toàn nhân loại hay cảnh giác với chủ nghĩa CS, tai họa của toàn thế giới.

Tháng 5/2015, Tổng thống Ukraine, một nước cộng sản cũ, đã ký Luật cấm tuyên truyền về chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản như trong thời kỳ trong Liên bang Xô Viết từ 1917 đến 1991, coi đó là thời kỳ bi thảm, sai lầm và Tội Ác. Các tượng đài, di tích thời kỳ ấy đều bị phá bỏ. Các sự kiện ấy giúp tôi khẳng định việc thoát đảng CS của tôi là chuẩn xác và giúp tôi thấy Dự thảo văn kiện sẽ đưa ra Đại hội XII sắp đến là lạc hậu, lẩm cẩm và cực kỳ nguy hại cho đất nước, cho nhân dân, cho chính Đảng CS ra sao.

Tôi không thể hiểu vì sao, sau khi Giáo sư Trần Phương, từng là Phó Thủ tướng, là uỷ viên Trung ương Đảng, đã chứng minh rành mạch rằng chủ nghĩa Mác, Lênin, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa CS đều là ảo tưởng sai lầm, nguy hại, hay vì sao sau khi đương kim Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã công khai cho rằng: “Cái chủ nghĩa Xã hội và cái định hướng Xã hội chủ nghĩa làm gì có trong thực tế mà đi tim cho mất công! “, vậy mà Bộ Chính trị vẫn cứ khẳng định trong văn kiện Đại hội XII rằng “kiên định chủ nghĩa Mác, Lênin, kiên định chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa CS là lập trường không thể thay đổi “, một thái độ ngoan cố, cổ hủ, tối tăm, buộc toàn đảng phải đi theo sự lẩm cẩm dai đẳng nguy hại của minh.

Ngay đối với thần tượng Hồ Chí Minh, tuy tôi biết rằng đây là bình phong cố thủ lợi hại của thế lực bảo thủ trong đảng CS do tệ sùng bái cá nhân ăn quá sâu trong quần chúng, tôi vẫn thấy cần và có thể thuyết phục ngày càng đông đảo bà con ta nhận ra sự thật.
Sự thật là ông HCM không phải là thánh thần. Ông là con người với những tốt xấu, mạnh yếu, đúng sai của minh. Ông đã lầm lẫn khi chọn con đường CS, khi lao quá sâu rồi không dám quay lại nữa. Ông đã xa rời lập trường dân tộc, thực hiện lập trường giai cấp cực đoan, đặt ảo tưởng vào giai cấp vô sản quốc tế, và mù quáng đặt niềm tin ở 2 ông Anh lớn Stalin và Mao, 2 con Quỷ Đỏ mà ông cho là “không bao giờ có thể sai”.

Mới đây, có 2 sự kiện minh họa rõ thêm bản chất con người thật HCM. Nhà báo Trần Đĩnh từng gần gũi ông Hồ kể lại ông từng cho rằng không thể giết bà Năm – Cát Hanh Long để mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất, bà lại là ân nhân của đảng CS, – ông còn văn hoa nói: “Không nên đánh phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa”. Vậy mà theo Trần Đĩnh, chính ông Hồ đã viết bản Cáo trạng kết án Bà Năm: “Địa chủ ác ghê”, ký tên CB (của Bác- Bác Hồ) trên báo Nhân Dân của Đảng. Cũng theo Trần Đĩnh, ông Hồ đã cải trang, mang kính râm đích thân đến dự cuộc xử bắn bà Năm.
Vậy ông Hồ là con người thế nào? Nói một đằng làm một nẻo, lá mặt lá trái, tử tế hay không tử tế? đạo đức hay vô đạo đức?

Nhà triết học uyên bác bậc nhất nước ta Trần Đức Thảo trước khi từ giã cõi trần đã kể trong cuốn Những lời trăng trối (do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê ghi âm) rằng ông đã gặp ông Hồ, quan sát, nghiên cứu sâu về tư tưởng, hành vi, đạo đức của ông Hồ, và đi đến kết luận vững chắc rằng ông Hồ là “con Người muôn mặt, lắm mưu mô, nhiều tham vọng quyền lực, nhiều điều bí hiểm, lắm tên nhiều họ, ẩn hiện khôn lường, lắm vợ, nhiều con, rất phức tạp”, là một “Tào Tháo của muôn đời”.
Ông Trần Đức Thảo cho rằng đảng CS kêu gọi cả nước học tập đạo đức HCM, vậy là muốn biến cả nước thành Tào Tháo hết cả ư!
Thế thật thì nguy cho dân tộc ta quá ! Ý kiến của nhà triết học này thật thỏa đáng.

Tôi có nhiều lý do để quí trọng ông Hồ. Tôi từng gặp ông khá nhiều lần, khi là phóng viên thời sự quốc tế, vào Dinh Chủ tịch dự chiêu đãi ông Lưu Thiếu Kỳ, ông Alexei Kosigyn hay các nhà báo Pháp, Nga, Trung Quốc. Năm 1957 khi ông vào Vinh thăm bộ đội Quân khu IV tôi được giao chuẩn bị bài nói chuyện của ông trước cán bộ quân khu, khen ngợi thành tích giúp dân gặt lúa, chống bão, lụt và diễn tập ở giới tuyến, ông liếc qua bản viết, khen đãi bôi: “Chú văn hay chữ tốt nhỉ!” rồi đút vào túi. Hơn nữa, cha tôi có quan hệ mật thiết với ông Hồ. Ông từng ngỏ lời mời cha tôi ra tham chính từ những ngày đầu Cách mang tháng Tám. Cha tôi lưỡng lự, do quan niệm Nho giáo “Trung thần không theo hai Vua”, nhưng ông Hồ vẫn cử ông Bộ trưởng Tư pháp Vũ Trọng
Khánh, rồi ông Vũ Đình Huỳnh mang thư riêng đến. Chính ông Hồ đề cử cha tôi thay Cụ Nguyễn Văn Tố làm nhiệm vụ Chủ tịch Quốc hội sau khi Cụ Tố bị lính Pháp bắn chết. Nhưng tôi không thể vì những chuyện riêng tư ấy mà làm sai lạc sự đánh giá công bằng, khách quan, chuẩn xác của chính mình.

Không một học thuyết nào, không một cá nhân lãnh tụ nào có thể được đặt trên dân tộc và nhân dân. Do yêu nước thật lòng, thương đồng bào Việt mình thật lòng nên sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi đi đến kết luận dứt khoát, sòng phẳng rằng ông HCM là một nhân vật tiêu cực trong lịch sử VN. Ông có phần trách nhiệm lớn làm cho đất nước lâm vào chiến tranh, do ông chọn con đường CS của Đệ Tam Quốc tế nên mới bị thế giới Dân chủ sớm đặt VN ta trong Chiến lược Be bờ ngăn chặn CNCS (Containment of Communism Strategy). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do ông dựng lên thật ra không phải là chế độ dân chủ, mà còn là chế độ độc đoán toàn trị do đảng CS độc quyền cai trị, đến nay vẫn chưa có tự do ngôn luận, tự do ứng cử và bầu cử, tự do
xuất nhập cảnh, tự do tôn giáo, không thực hiện chế độ pháp quyền nghiêm minh, đảng CS nắm trọn cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, còn thêm quyền thứ tư là ngôn quyền.
Các tổ chức xã hội dân sự tự phát đang lớn mạnh cùng các nhà dân chủ từ lão thành đến trẻ tuổi đang cùng các cựu đảng viên CS đã thoát đảng tự đặt cho mình nghĩa vụ trước Dân tộc và Lịch Sử chung sức mở ra Kỷ Nguyên Dân chủ và Tự Do cho nước Việt Nam ta.

Tôi tha thiết kêu gọi tất cả các đảng viên CS nhân các cuộc họp Đại hội Đảng các cấp từ chi bộ, đảng bộ cơ sở đến Đại Hội toàn quốc hãy thắp sáng lên ngọn đèn Giác ngộ mới mẻ, manh dạn xoá bỏ những điều giác ngộ cũ kỹ, lạc hậu, giáo điều, lẩm cẩm, mê muội rất có hại, như kiên trì chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản mác-xít, sùng bái nhân vật HCM, kiên trì chế độ toàn trị độc đảng lạc lõng, tệ hại.

Đó chính là sự giác ngộ cần thiết cấp bách hiện nay. Trong các cuộc họp bàn, góp ý vào các văn kiện dự thảo, chớ bị lừa dối khi nghe lãnh đạo tuyên truyền rằng các văn kiện đã tiếp thu hàng triệu ý kiến xây dựng, đã được nhất trí cao, không cần bổ sung, sửa chữa gì nhiêu, “do kẻ xấu và bọn phản động xúi giục”. Cần nhận rõ nội dung các văn kiện mới là điều kiện sinh tử của đảng, quan trọng hơn vấn đề nhân sự nhiều, vì vận mệnh đất nước, quyền lợi của toàn dân phụ thuộc vào học thuyết chính trị, vào đường lối đối nội, đối ngoại, vào các quốc sách chính trị, kinh tế tài chính, đối ngoại, xã hội và văn hoá đạo đức. Kiên quyết từ bỏ, gột rửa những điều giác ngộ cũ, nhận rõ đó chỉ là những học thuyết sai
lầm tệ hại trong thực tế cuộc sống, những tà thuyết đã bị thế giới nhận diện, lên án, loại bỏ, ta không có một lý do nào để gắn bó, quyến luyến, tiếc thương.

Xin các bạn chớ sợ mình đơn độc, thiểu số trong các cuộc họp. Chân lý ban đầu bao giờ cũng là thế. Các bạn chính là những hạt kim cương trong khối quặng đen. Hãy dũng cảm thắp lên ngọn đèn giác ngộ mới, tiên tiến. Các bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc sâu lắng khi dần dần chính kiến của bạn được lan tỏa trở thành chân lý, sự giác ngộ của số đông.

Buổi tâm sự về hai chữ giác ngộ xin tạm ngừng ở đây, mong có ích trong khêu gợi những ý kiến mới mẻ trong tư duy của các bạn về hiện tình đất nước, về con đường cần chọn cho dân tộc, cho Quê hương, để đất nước phát triển mạnh mẽ trong cuộc sống tự do, bình đẳng, hạnh phúc cho mỗi công dân, mỗi gia đình chung hưởng.

Bùi Tín, VOAs Blog

Tái bútXin đề nghị các mạng blog tự do, lề trái, và bạn đọc có điều kiện nhân bản bài viết này và gửi cho các đảng viên CS quen biết, nhân Đại hội Đảng các cấp thảo luận các văn kiện dự thảo cho Đại Hội Đảng Toàn quốc lần thứ XII đầu năm 2016. Xin đa tạ. B.T

BÙI TÍN * BAN KI MOON



Ông Ban Ki-moon có gốc gác Việt Nam






http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2015/10/151029_bankimoon_vietnam_visit










2/- VOA






Nhà báo Bùi Tín và những lời trần tình cuối đời tố đảng CSVN mà ông là cựu đại tá bộ độ “Cụ hồ”(Thay một lời trăng trối gửi các đảng viên CS, các đồng chí cũ)
Tác giả: Bùi Tín

Tôi từng ở trong Đảng CS từ tuổi 20, ở trong Đảng 44 năm, 65 tuổi mới thoát Đảng, trở thành người tự do 25 năm nay. Có người bảo là quá chậm, còn chê vui là “sao mà ngu lâu thế!”, nhưng tôi chỉ mỉm cười, tự nhủ mình ngu lâu thật, nhưng vẫn còn sớm hơn hàng triệu đảng viên hiện còn mang thẻ đảng viên CS cuối mùa. Nghĩ mà tội nghiệp cho các đồng chí cũ của tôi quá, sao lại có thể ngu mê, ngủ mê lâu đến vậy.

Năm nay tôi tự làm “cuộc kỷ niệm” độc đáo, về thời điểm cuộc đời tôi, đến năm nay 2015, tính ra đã đạt một nửa đời (20 năm đầu đời cộng với 25 năm ở nước ngoài) là 45 năm không có dính dáng gì đến đảng CS. Tôi đã lãng phí gần nửa đời người –
gần 45 năm cho những hoạt động lầm lỡ, sai trái, tệ hại vì hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử, cũng do sự u mê, ngu lâu của bản thân mình.

Nhân kỷ niệm riêng độc đáo này, tôi nghĩ đến vô vàn đồng chí CS cũ của tôi, và viết bài này gửi đến các bạn như một buổi nói chuyện cởi mở, tâm huyết, mong được trao đổi rộng rãi với các bạn cũng như với các bạn trẻ trong Đoàn Thanh niên CS mang tên ông Hồ Chí Minh.

Câu chuyện sẽ xoay quanh hai chữ: Giác ngộ.

Giác ngộ là hai chữ tôi nghe rất nhiều lần khi được tuyên truyền về Đảng CS, về chủ nghĩa CS. Các vị đàn anh giải thích con người tốt phải là con người giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là nhận ra lý tưởng cho cuộc đời minh. Tuổi trẻ cần có lý tưởng, hiểu rõ con đường cần chọn, hiểu rõ tổ chức cần tham gia, không bỏ phí cuộc đời minh. Đó là con đường Cộng Sản, dẫn đến độc lập cho đất nước, hạnh phúc cho toàn dân, họ rao giảng triền miên như thế, chúng tôi cũng cả tin là thế thật.

Theo học các chương trinh và lớp học cho đảng viên mới, cho cán bộ sơ cấp, trung cấp, cao cấp của đảng, bao giờ giảng viên cũng nhắc đến hai chữ giác ngộ. Học, học nữa, học mãi để nâng cao không ngừng trình độ giác ngộ của mỗi người. Đảng viên phải có trình độ giác ngộ cao hơn quần chúng ngoài đảng. Đảng viên mới luôn được học kỹ tấm gương của anh thanh niên Lý Tự Trọng, với nét nổi bật nhất là giác ngộ CS từ tuổi thiếu niên, rồi biết bao tấm gương của những chiến sỹ CS ưu tú, bất khuất trong các nhà tù thực dân ở Côn Đảo, Sơn La, Lao Bảo, Kon Tum…giác ngộ cách mang cao, nhà tù, máy chém không nao núng, biến nhà tù thành trường học nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bất khuất, kiên cường.

Trong các bản khai lý lịch cá nhân, mỗi đảng viên thường kể lại bản thân mình được giác ngộ ra sao, được ai giác ngộ, giác ngộ đến mức nào, và luôn kết luận với lời hứa không ngừng học tập, tu luyện, tự phê bình và phê bình để không ngừng nâng cao trinh độ giác ngộ của bản thân.

Tôi kể ra như thế để thấy hai chữ giác ngộ có tác dụng sâu sắc ra sao đối với mỗi đảng viên CS. Hai mươi nhăm năm nay, tôi hồi tưởng lại quãng đời 44 năm là đảng viên CS, theo dõi chặt chẽ thời cuộc hằng ngày trong nước và thế giới, tôi không khỏi cảm thấy chua chát và cay đắng về hai chữ giác ngộ.

Giác ngộ hình như là một chữ Đảng CS mượn của Đạo Phật. “Giác” là nhận thấy, cảm nhận, thấy rõ, “ngộ” là tỉnh ra, nhận ra lẽ phải, chân lý để làm theo.

Sau khi là con người tự do, là nhà báo tự do, kết thân với nhiều nhà báo tự do của thế giới, các nhà báo tự do Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Hoa, Ba Lan, Tiệp…, tôi tìm đọc các kho tư liệu lưu trữ quý ở Paris, Moscow, London, Washington… rồi suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của mình, của riêng mình, không sùng bái bất cứ một người hay một học thuyết nào. Từ đó tôi giác ngộ không biết bao nhiêu điều mới mẻ, và lần này tôi thật sự có cảm giác sâu sắc về hạnh phúc tinh thần tiếp cận được ngày càng nhiều sự thật, lẽ phải, chân lý. Tôi đã tự giác ngộ mình.

Nhìn lại 44 năm quá khứ CS của mình, tôi nhận rõ có không ít điều tôi giác ngộ, cho là đúng, thì khốn thay, hầu hết đều là lầm lẫn, ngộ nhận, ảo tưởng, sai lầm và cả tội ác.

Như chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản kiểu mác-xít đều là những học thuyết chủ quan, lầm lẫn, hoàn toàn nguy hại trong thực tế, cổ xuý đấu tranh giai cấp cực đoan và bạo lực, đi đến chiến tranh, khủng bố, đổ máu, hận thù. Giữa thủ đô Washington, tôi cùng anh Cù Huy Hà Vũ đã viếng Tượng đài Kỷ niệm hơn 100 triệu nạn nhân bi thảm của chủ nghĩa CS hiện thực, trong đó có hàng triệu nạn nhân đồng bào Việt ta. Tượng đài nhắn nhủ toàn nhân loại hay cảnh giác với chủ nghĩa CS, tai họa của toàn thế giới.

Tháng 5/2015, Tổng thống Ukraine, một nước cộng sản cũ, đã ký Luật cấm tuyên truyền về chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản như trong thời kỳ trong Liên bang Xô Viết từ 1917 đến 1991, coi đó là thời kỳ bi thảm, sai lầm và Tội Ác. Các tượng đài, di tích thời kỳ ấy đều bị phá bỏ. Các sự kiện ấy giúp tôi khẳng định việc thoát đảng CS của tôi là chuẩn xác và giúp tôi thấy Dự thảo văn kiện sẽ đưa ra Đại hội XII sắp đến là lạc hậu, lẩm cẩm và cực kỳ nguy hại cho đất nước, cho nhân dân, cho chính Đảng CS ra sao.

Tôi không thể hiểu vì sao, sau khi Giáo sư Trần Phương, từng là Phó Thủ tướng, là uỷ viên Trung ương Đảng, đã chứng minh rành mạch rằng chủ nghĩa Mác, Lênin, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa CS đều là ảo tưởng sai lầm, nguy hại, hay vì sao sau khi đương kim Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đã công khai cho rằng: “Cái chủ nghĩa Xã hội và cái định hướng Xã hội chủ nghĩa làm gì có trong thực tế mà đi tim cho mất công! “, vậy mà Bộ Chính trị vẫn cứ khẳng định trong văn kiện Đại hội XII rằng “kiên định chủ nghĩa Mác, Lênin, kiên định chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa CS là lập trường không thể thay đổi “, một thái độ ngoan cố, cổ hủ, tối tăm, buộc toàn đảng phải đi theo sự lẩm cẩm dai đẳng nguy hại của minh.

Ngay đối với thần tượng Hồ Chí Minh, tuy tôi biết rằng đây là bình phong cố thủ lợi hại của thế lực bảo thủ trong đảng CS do tệ sùng bái cá nhân ăn quá sâu trong quần chúng, tôi vẫn thấy cần và có thể thuyết phục ngày càng đông đảo bà con ta nhận ra sự thật.
Sự thật là ông HCM không phải là thánh thần. Ông là con người với những tốt xấu, mạnh yếu, đúng sai của minh. Ông đã lầm lẫn khi chọn con đường CS, khi lao quá sâu rồi không dám quay lại nữa. Ông đã xa rời lập trường dân tộc, thực hiện lập trường giai cấp cực đoan, đặt ảo tưởng vào giai cấp vô sản quốc tế, và mù quáng đặt niềm tin ở 2 ông Anh lớn Stalin và Mao, 2 con Quỷ Đỏ mà ông cho là “không bao giờ có thể sai”.

Mới đây, có 2 sự kiện minh họa rõ thêm bản chất con người thật HCM. Nhà báo Trần Đĩnh từng gần gũi ông Hồ kể lại ông từng cho rằng không thể giết bà Năm – Cát Hanh Long để mở đầu cuộc Cải cách Ruộng đất, bà lại là ân nhân của đảng CS, – ông còn văn hoa nói: “Không nên đánh phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa”. Vậy mà theo Trần Đĩnh, chính ông Hồ đã viết bản Cáo trạng kết án Bà Năm: “Địa chủ ác ghê”, ký tên CB (của Bác- Bác Hồ) trên báo Nhân Dân của Đảng. Cũng theo Trần Đĩnh, ông Hồ đã cải trang, mang kính râm đích thân đến dự cuộc xử bắn bà Năm.
Vậy ông Hồ là con người thế nào? Nói một đằng làm một nẻo, lá mặt lá trái, tử tế hay không tử tế? đạo đức hay vô đạo đức?

Nhà triết học uyên bác bậc nhất nước ta Trần Đức Thảo trước khi từ giã cõi trần đã kể trong cuốn Những lời trăng trối (do nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê ghi âm) rằng ông đã gặp ông Hồ, quan sát, nghiên cứu sâu về tư tưởng, hành vi, đạo đức của ông Hồ, và đi đến kết luận vững chắc rằng ông Hồ là “con Người muôn mặt, lắm mưu mô, nhiều tham vọng quyền lực, nhiều điều bí hiểm, lắm tên nhiều họ, ẩn hiện khôn lường, lắm vợ, nhiều con, rất phức tạp”, là một “Tào Tháo của muôn đời”.
Ông Trần Đức Thảo cho rằng đảng CS kêu gọi cả nước học tập đạo đức HCM, vậy là muốn biến cả nước thành Tào Tháo hết cả ư!
Thế thật thì nguy cho dân tộc ta quá ! Ý kiến của nhà triết học này thật thỏa đáng.

Tôi có nhiều lý do để quí trọng ông Hồ. Tôi từng gặp ông khá nhiều lần, khi là phóng viên thời sự quốc tế, vào Dinh Chủ tịch dự chiêu đãi ông Lưu Thiếu Kỳ, ông Alexei Kosigyn hay các nhà báo Pháp, Nga, Trung Quốc. Năm 1957 khi ông vào Vinh thăm bộ đội Quân khu IV tôi được giao chuẩn bị bài nói chuyện của ông trước cán bộ quân khu, khen ngợi thành tích giúp dân gặt lúa, chống bão, lụt và diễn tập ở giới tuyến, ông liếc qua bản viết, khen đãi bôi: “Chú văn hay chữ tốt nhỉ!” rồi đút vào túi. Hơn nữa, cha tôi có quan hệ mật thiết với ông Hồ. Ông từng ngỏ lời mời cha tôi ra tham chính từ những ngày đầu Cách mang tháng Tám. Cha tôi lưỡng lự, do quan niệm Nho giáo “Trung thần không theo hai Vua”, nhưng ông Hồ vẫn cử ông Bộ trưởng Tư pháp Vũ Trọng
Khánh, rồi ông Vũ Đình Huỳnh mang thư riêng đến. Chính ông Hồ đề cử cha tôi thay Cụ Nguyễn Văn Tố làm nhiệm vụ Chủ tịch Quốc hội sau khi Cụ Tố bị lính Pháp bắn chết. Nhưng tôi không thể vì những chuyện riêng tư ấy mà làm sai lạc sự đánh giá công bằng, khách quan, chuẩn xác của chính mình.

Không một học thuyết nào, không một cá nhân lãnh tụ nào có thể được đặt trên dân tộc và nhân dân. Do yêu nước thật lòng, thương đồng bào Việt mình thật lòng nên sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi đi đến kết luận dứt khoát, sòng phẳng rằng ông HCM là một nhân vật tiêu cực trong lịch sử VN. Ông có phần trách nhiệm lớn làm cho đất nước lâm vào chiến tranh, do ông chọn con đường CS của Đệ Tam Quốc tế nên mới bị thế giới Dân chủ sớm đặt VN ta trong Chiến lược Be bờ ngăn chặn CNCS (Containment of Communism Strategy). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do ông dựng lên thật ra không phải là chế độ dân chủ, mà còn là chế độ độc đoán toàn trị do đảng CS độc quyền cai trị, đến nay vẫn chưa có tự do ngôn luận, tự do ứng cử và bầu cử, tự do
xuất nhập cảnh, tự do tôn giáo, không thực hiện chế độ pháp quyền nghiêm minh, đảng CS nắm trọn cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, còn thêm quyền thứ tư là ngôn quyền.
Các tổ chức xã hội dân sự tự phát đang lớn mạnh cùng các nhà dân chủ từ lão thành đến trẻ tuổi đang cùng các cựu đảng viên CS đã thoát đảng tự đặt cho mình nghĩa vụ trước Dân tộc và Lịch Sử chung sức mở ra Kỷ Nguyên Dân chủ và Tự Do cho nước Việt Nam ta.

Tôi tha thiết kêu gọi tất cả các đảng viên CS nhân các cuộc họp Đại hội Đảng các cấp từ chi bộ, đảng bộ cơ sở đến Đại Hội toàn quốc hãy thắp sáng lên ngọn đèn Giác ngộ mới mẻ, manh dạn xoá bỏ những điều giác ngộ cũ kỹ, lạc hậu, giáo điều, lẩm cẩm, mê muội rất có hại, như kiên trì chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản mác-xít, sùng bái nhân vật HCM, kiên trì chế độ toàn trị độc đảng lạc lõng, tệ hại.

Đó chính là sự giác ngộ cần thiết cấp bách hiện nay. Trong các cuộc họp bàn, góp ý vào các văn kiện dự thảo, chớ bị lừa dối khi nghe lãnh đạo tuyên truyền rằng các văn kiện đã tiếp thu hàng triệu ý kiến xây dựng, đã được nhất trí cao, không cần bổ sung, sửa chữa gì nhiêu, “do kẻ xấu và bọn phản động xúi giục”. Cần nhận rõ nội dung các văn kiện mới là điều kiện sinh tử của đảng, quan trọng hơn vấn đề nhân sự nhiều, vì vận mệnh đất nước, quyền lợi của toàn dân phụ thuộc vào học thuyết chính trị, vào đường lối đối nội, đối ngoại, vào các quốc sách chính trị, kinh tế tài chính, đối ngoại, xã hội và văn hoá đạo đức. Kiên quyết từ bỏ, gột rửa những điều giác ngộ cũ, nhận rõ đó chỉ là những học thuyết sai
lầm tệ hại trong thực tế cuộc sống, những tà thuyết đã bị thế giới nhận diện, lên án, loại bỏ, ta không có một lý do nào để gắn bó, quyến luyến, tiếc thương.

Xin các bạn chớ sợ mình đơn độc, thiểu số trong các cuộc họp. Chân lý ban đầu bao giờ cũng là thế. Các bạn chính là những hạt kim cương trong khối quặng đen. Hãy dũng cảm thắp lên ngọn đèn giác ngộ mới, tiên tiến. Các bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc sâu lắng khi dần dần chính kiến của bạn được lan tỏa trở thành chân lý, sự giác ngộ của số đông.

Buổi tâm sự về hai chữ giác ngộ xin tạm ngừng ở đây, mong có ích trong khêu gợi những ý kiến mới mẻ trong tư duy của các bạn về hiện tình đất nước, về con đường cần chọn cho dân tộc, cho Quê hương, để đất nước phát triển mạnh mẽ trong cuộc sống tự do, bình đẳng, hạnh phúc cho mỗi công dân, mỗi gia đình chung hưởng.

Bùi Tín, VOAs Blog

Tái bút: Xin đề nghị các mạng blog tự do, lề trái, và bạn đọc có điều kiện nhân bản bài viết này và gửi cho các đảng viên CS quen biết, nhân Đại hội Đảng các cấp thảo luận các văn kiện dự thảo cho Đại Hội Đảng Toàn quốc lần thứ XII đầu năm 2016. Xin đa tạ. B.T

(Hết bài của nhà báo Bùi Tín)




BAN KI MOOM

Ông Ban Ki-moon có gốc gác Việt Nam?

  • 30 tháng 10 2015

Image caption Hình ảnh mạng xã hội lan truyền ông Ban Ki-moon thăm nhà thờ họ Phan Huy ở Việt Nam - Ảnh: Facebook Nguyễn Xuân Diện
Sáng ngày 30/10, mạng xã hội tại Việt Nam lan truyền thông tin và bút tích được cho là của ông Ban Ki-moon, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc (LHQ) trong một chuyến ông đến Sài Sơn, xứ Đoài (huyện Quốc Oai, Hà Nội) để thăm nhà thờ họ Phan Huy.

Ngày ông Ban đến đây được cho là 23/5/2015.
Tiến sỹ Diện nói ông được người quen làm quan chức địa phương cho hay ông Ban đã tới "chiêm bái, dâng hương tại nhà thờ dòng họ Phan Huy và nhận mình là hậu duệ của dòng họ".
Ông cũng nói thêm tên Ban Ki-moon theo Hán tự là Phan Cơ Văn.
Trả lời phỏng vấn của BBC từ Hà Nội, tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện – công tác tại viện nghiên cứu Hán Nôm, thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam cho biết: “Vào lúc sáng sớm hôm nay, một Facebooker ở Mỹ có đưa một thông tin là ngài Ban Ki-moon đã về Việt Nam trong một chuyến đi âm thầm, và ngài có đến nhà thờ của dòng họ Phan Huy ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Ngài đến thăm, dâng hương và có để lại lưu bút.”
Ông Nguyễn Xuân Diện cũng cho biết thêm, người chụp bức ảnh có trang lưu bút của ông Ban Ki-moon là học giả Lê Vĩnh Trương. Đồng thời ông nói: “Chúng tôi đã so sánh nét chữ của ngài cùng với chữ ký thì đúng là thủ bút của ngài Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon.”

Quan hệ dòng họ

Ông Diện bình luận chuyến thăm “riêng tư” của tổng thư ký LHQ cho thấy có thể có "gốc tích và mối quan hệ của dòng họ Phan của ngài với dòng họ Phan Huy ở Quốc Oai".
Nội dung của trang lưu bút của ông Ban Ki-moon tại nhà thờ họ Phan Huy tạm dịch: “Tôi tỏ lòng cung kính sâu sắc khi đến thăm và thể hiện sự kính trọng sâu sắc đến Nhà thờ họ Phan Huy Chú và các thành viên khác của gia đình họ Phan. Cảm ơn vì đã gìn giữ ngôi nhà thờ này. Là một thành viên của họ Phan, nay làm chức Tổng thư ký LHQ, tôi cam kết với chính mình sẽ luôn cố gắng đi theo những lời dạy của tổ tiên.
Ban Ki-moon
Tổng Thư ký LHQ"
Nói về dòng họ Phan Huy tại Việt Nam, ông Diện nói "đây là dòng họ rất lớn khởi phát từ làng Thu Hoạch, tỉnh Hà Tĩnh. Sau đó có một chi rời ra đến xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai nằm ngay dưới chân Chùa Thầy".
"Dòng họ này có một số điểm đáng chú ý: Rất nhiều người trong dòng họ đi sứ, như Phan Huy Ích, Phan Huy Chú. Ông Phan Huy Chú đã đi sứ Trung Quốc hai lần với vai trò phó sứ, đi Indonesia một lần.
Dòng họ này nổi bật về văn chương và khảo cứu như TS Phan Huy Ôn, Phan Huy Vịnh, Phan Huy Chú, Phan Huy Sảng đều là nhà thơ, nhà sử học nổi tiếng của Việt Nam.
Đặc biệt là Phan Huy Chú, người cùng với Lê Quý Đôn được gọi là hai nhà bác học trong lịch sử Trung đại Việt Nam".
Trích dẫn tư liệu, TS Diện cho biết: "Theo nghiên cứu của TS Ngữ văn Lý Xuân Chung, nghiên cứu về bang giao Việt - Hàn thời xưa thì đoàn sứ bộ của Việt Nam và Cao Ly khi đến Yên Kinh - Trung Quốc thì được bố trí ở chung một nhà khách, thì họ có giao lưu với nhau và để lại rất nhiều thơ văn hiện có lưu ở viện nghiên cứu Hán Nôm cũng như ở Hàn Quốc".
"Cũng như cuộc xướng họa của sứ thần hai nước. Đặc biệt là chuyến đi sứ cầu phong dưới triều Tây Sơn, một trong những người trong đoàn đi sứ là cụ Phan Huy Ích. Và cụ cũng đã xướng họa thơ văn với các sứ thần Triều Tiên và để lại thơ văn đến tận bây giờ."

BAN KI MOON LÀ NGƯỜI GỐC VIỆT NAM


Ban Ki Moon đương kim Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc là người gốc Việt Nam


30/10/2015


Nam Mô A Di Đà Phật
Thư gửi Qúy Thầy và Qúy Đạo Hữu,

Tôi mới nhận được một tin đáng lưu tâm. Đó là Ông Tổng Thư Ký Liên
Hiệp Quốc Ban Ki Moon(Phan Cơ Văn) là người gốc Việt Nam có dòng dõi
với Phan Huy Chú.

Trước đây tôi có đọc bộ sách lịch sử về VN của Bác Sĩ Trân Đại Sĩ ở
Pháp viết về dòng dõi của Hoàng Tử Lý Long Tường vào giữa thế kỷ thứ
13 tại Bắc Hàn(rất hay), sau đó được biết Ông Lý Thừa Vãng Tổng Thống
Nam Hàn cũng có nguồn gốc từ nhà Lý của VN và Tổng Thống Đài Laon Lý
Kính Huy cũng dòng dõi nhà Lý nầy. Nay được biết thêm Ông Ban Ki Moon
của Nam Hàn cũng gốc gác từ VN. Như vậy cũng là một niềm vui, nhưng
xin kiểm điểm lại việc nầy. Ở Đức, tôi có thể liên lạc với Dr. Phan
Huy Oánh là người nhà với Ông Phan Huy Qúat để dò hỏi thêm việc nầy.
Đây là những chứng nhân của lịch sử cần nên quan tâm.

Trong thư đánh máy(có tính cách cá nhân) có ghi chú Ông Ban Ki Moon là
Phan Cơ Minh, điều nầy không đúng, vì tôi xem chữ Hán của Ông Ban Ki
Moon viết và ghi chú là Phan Cơ Văn(chứ không phải Minh).

Xin gửi đến Qúy Vị để làm tài liệu.

Thích Như Điển

Tôi cảm thấy vinh hạnh viếng thăm và bày tỏ lòng thành kính của tôi đối với Cụ Tổ Phan Huy Chú và những Hương Linh khác của dòng tộc họ Phan.
Chân thành biết ơn quý Bác đã duy trì và gìn giữ Nhà Thờ Họ Phan này, bản thân tôi là một trong những người hậu duệ mang họ Phan, hiện đang giữ chức Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, tôi tự hứa với bản thân rằng tôi sẽ cố gắng làm theo lời dạy của Tổ Tiên Ông Bà.




Nay cung kính,




Ban Ki Moon
Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc
Phan Cơ Văn










Ban Ki-moon (phát âm theo IPA: [pɑn gi mun] tiếng Việt : Phan Cơ Văn ) ; sinh 13 tháng 6 năm 1944 tại Chungju, Hàn Quốc) hiện là Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc thứ 8. Trước khi giữ chức Tổng thư ký, ông từng là Bộ trưởng Ngoại giao của Hàn Quốc, một vị trí ông nắm từ tháng 1 năm 2004. Vào 13 tháng 10 năm 2006, ông được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc bầu làm Tổng Thư kí kế nhiệm ông Kofi Annan.[1]





Có Thông tin cho rằng ông là Hậu duệ của Danh Nhân Phan Huy Chú người Việt Nam [2]Ban nhận bằng cử nhân về ngành quan hệ quốc tế từ Đại học Quốc gia Seoul vào năm 1970 và bằng Thạc sỹ Quản lý công (Master of Public Administration) từ Trường Đào tạo Nhà nước John F. Kennedy tại Đại học Harvard vào năm 1985.

Ban đã lập gia đình và có một con trai và hai con gái.Thêm vào tiếng Hàn là tiếng mẹ đẻ, Ban thông thạo tiếng Anh và tiếng Pháp.




Là một học sinh trung học trong những năm đầu của thập kỉ 1960, Ban gặp Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy ở Washington D.C. sau khi thắng một cuộc thi tiếng Anh tổ chức bởi Hội chữ thập đỏ Mỹ, sau đó ông quyết tâm trở thành một nhà ngoại giao.

Sự nghiệp


Ban Ki-moon với Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Paul Wolfowitz
Vị trí đầu tiên ở nước ngoài của Ban sau khi tham gia ngành ngoại giao Hàn Quốc là đến New Delhi. Sau khi làm việc trong Vụ Liên Hiệp Quốc tại Bộ ngoại giao, ông phục vụ như là Bí thư thứ nhất tại Phái đoàn quan sát thường trực của Hàn Quốc tại Liên hiệp quốc ở New York City. Theo sau đó ông nắm chức Vụ trưởng Vụ Liên hiệp quốc. Ông đã nhận nhiệm vụ hai lần tại tòa Đại sứ Hàn Quốc ở Washington D.C.. Giữa hai nhiệm vụ này ông là Tổng Giám đốc cho Vụ quan hệ Hoa Kỳ trong năm 1990-1992. Ông được thăng lên chức Thứ trưởng về Hoạch định chính sách và các Tổ chức Quốc tế năm 1995. Sau đó ông được bổ nhiệm Cố vấn an ninh quốc gia cho Tổng thống vào năm 1996, và nhận chức Thứ trưởng vào năm 2000. Vị trí gần đây nhất của ông là Cố vấn về các vấn đề ngoại giao cho Tổng thống Roh Moo-hyun.

Trong khi là Đại sứ ở Áo, Ban được bầu là Chủ tịch của Ủy ban trù bị cho Tổ chức Hiệp định cấm thử vũ khí hạt nhân hoàn toàn (Comprehensive Nuclear-Test-Ban Treaty Organization, CTBTO PrepCom) trong năm 1999. Trong quá trình Hàn Quốc chủ tọa phiên họp thứ 56 của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc vào năm 2001, ông là chủ tịch Đoàn chủ tịch Hội đồng.

Ban đã tích cực tham gia các vấn đề liên quan đến quan hện giữa hai miền Triều Tiên. Vào năm 1992, ông là Phó chủ tịch của Ủy ban hỗn hợp về kiểm soát hạt nhân Nam Bắc Triều Tiên, theo sau sự kí kết của Nam và Bắc Triều Tiên về Bản Thông cáo chung của việc Phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên. Vào tháng 9 năm 2005, với nhiệm vụ Bộ trưởng ngoại giao, ông giữ vai trò lãnh đạo trong những cố gắng về ngoại giao để kí kết bản thỏa thuận chung giải quyết các vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên tại Vòng thứ nhất Đàm phán 6 bên tổ chức ở Bắc Kinh.

Ứng cử viên Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc[sửa | sửa mã nguồn]
Vào tháng 2 năm 2006, Ban tuyên bố ứng cử thay thế Kofi Annan làm Tổng thư kí Liên hiệp quốc vào cuối năm 2006. Đây là lần đầu tiên một người Hàn Quốc tranh cử chức Tổng thư kí.[6]




Ban dẫn đầu trong bốn lần bầu cử sơ khởi do Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc tổ chức vào 24 tháng 7, 14 tháng 9, 28 tháng 9 và 2 tháng 10.

Vào lần bỏ phiếu không chính thức ngày 2 tháng 10, Ban nhận 14 phiếu thuận và 1 "không ý kiến" từ 15 thành viên Hội đồng bảo an, đoàn Nhật bản là quốc gia duy nhất không đồng ý hoàn toàn. Quan trọng hơn, Ban là người duy nhất thoát một phiếu chống, trong khi mỗi trong 5 người còn lại đều nhận ít nhất là một phiếu chống từ 5 năm thành viên thường trực của Hội đồng bảo an — Cộng hòa nhân nhân Trung Quốc, Pháp, Nga, Anh và Hoa Kỳ.[7] Sau khi bỏ phiếu, Shashi Tharoor, người thứ hai, rút lui[8] và Đại diện thường trực của Trung Quốc tại LHQ nói với các phóng viên là "khá rõ từ kết quả bỏ phiếu hôm nay là Bộ trưởng Ban Ki-moon là ứng cử viên mà Hội đồng bảo an sẽ đề nghị lên Đại Hội đồng (General Assembly)."[9]

Wikinews-logo.svg
Wikinews có các tin tức ngoại ngữ liên quan đến bài:
Ban Ki-Moon elected as next UN Secretary General
Vào 9 tháng 10, Hội đồng Bảo an chính thức chọn Ban như là người được đề cử. Vào 13 tháng 10, Tổng Hội đồng gồm 192 thành viên đã thông qua một nghị quyết, bằng biểu quyết, bổ nhiệm Ban làm Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc.


Phan Huy Chú




Phan Huy Chú (Chữ Hán: 潘輝注; 1782 – 1840), tự Lâm Khanh, hiệu Mai Phong; là quan triều nhà Nguyễn, và là nhà thơ, nhà thư tịch lớn[1], nhà bác học Việt Nam[2].Xuất thân trong "dòng họ Phan Huy" có tiếng về văn học, thuở nhỏ, Phan Huy Chú có tên là Hạo, sau vì kiêng quốc húy đổi là Chú. Ông là con trai thứ ba của danh thần Phan Huy Ích và bà Ngô Thị Thực (thuộc "dòng họ Ngô Thì", cũng có tiếng về văn học. Bà là con gái Ngô Thì Sĩ, em gái của Ngô Thì Nhậm, bà mất khi Phan Huy Chú mới 10 tuổi).



Ông sinh ra và lớn lên ở thôn Thụy Khuê, thuộc huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai (trước thuộc tỉnh Sơn Tây, sau thuộc Hà Tây; và nay là thôn Thuỵ Khuê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội) [3].


Quê gốc của ông là thôn Chi Bông, xã Thu Hoạch (đầu thời Nguyễn thuộc huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quan, trấn Nghệ An; nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh). Năm 1787, một người trong dòng họ Phan Huy (và là ông nội của Phan Huy Chú) là Phan Huy Cận (sau đổi tên là Áng), làm quan lớn dưới triều Lê-Trịnh, sau khi từ giã chốn quan trường đã đến ở làng Thụy Khuê, và trở thành "ông tổ đầu tiên của của chi phái Phan Huy" ở đây[4].

Vốn thông minh, được cha mẹ nuôi dạy chu đáo, lại từng được Ngô Thì Nhậm (cậu ruột) rèn dạy từ lúc 6 tuổi [5]; nhưng cả hai lần thi Hương (Đinh Mão, 1807; và Kỷ Mão, 1819), ông chỉ đỗ Tú tài (nên tục gọi ông là "Kép Thầy", vì ở làng Thầy và đỗ hai lần). Kể từ đó, ông thôi việc thi cữ, chỉ chuyên tâm vào việc nghiên cứu và trước tác [2].


Tuy không đỗ cao, nhưng ông vẫn nổi tiếng là người có kiến thức uyên bác. Vì vậy, năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mạng cho triệu ông vào kinh đô, cử giữ chức Biên tu trường Quốc tử giám ở Huế. Năm này, ông dâng lên vua bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí do ông biên soạn (khởi soạn khi còn đi học, đến năm 1809 thì cơ bản hoàn thành)[2], và được khen thưởng.


Năm Ất Dậu (1825), ông được sung làm Phó sứ sang Trung Quốc. Khi về, được làm Phủ thừa phủ Thừa Thiên, rồi thăng Hiệp Trấn Quảng Nam (1829). Ít lâu sau, ông bị giáng vì phạm lỗi, được điều động về Huế giữ chức Thị độc ở Viện hàn lâm.

Năm Tân Mão (1831), lại sung Phan Huy Chú làm Phó sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Nhưng khi về nước, thì cả đoàn sứ bộ đều bị giáng chức (ông bị cách chức), vì tội "lộng quyền"[6].





Năm sau (Nhâm Thìn, 1832), cho ông làm phục dịch trong phái bộ sang Batavia (Giang Lưu Ba, Indonesia) để lập công chuộc tội.




Trở về (Giáp Ngọ, 1834), ông được bổ làm Tư vụ bộ Công. Sau đó, vì chán chốn quan trường, ông cáo bệnh xin về hưu ở làng Thanh Mai, thuộc huyện Tiên Phong (nay là xã Vũ Thắng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội). Ở đây, ông làm nghề dạy học và soạn sách cho đến khi mất.




Phan Huy Chú mất ngày 27 tháng 4 năm Canh Tý (28 tháng 5 năm 1840) lúc 58 tuổi[7].





Phần mộ của ông hiện ở tại thôn Mai Trai, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, (trước thuộc Hà Tây, nay thuộc Hà Nội).

Các tác phẩm chính[sửa | sửa mã nguồn]
Lịch triều hiến chương loại chí[8]
Hoàng Việt dư địa chí
Mai Phong du Tây thành dã lục
Hoa thiều ngâm lục (tập thơ đi sứ sang Trung Quốc)
Hoa trình tục ngâm
Hải trình chí lược, hay còn gọi là Dương trình ký kiến (ghi chép những điều trông thấy lúc đi Batavia)
Lịch đại điển yếu thông luận, v.v...Nhìn chung, Phan Huy Chú nổi tiếng là nhà nghiên cứu, biên khảo, hơn là nhà thơ, nhà văn. Tác phẩm có giá trị nhất của ông là bộ Lịch triều hiến chương loại chí. Đây có thể xem là "bộ bách khoa toàn thư" đầu tiên của Việt Nam[9]. Kế tiếp, đáng kể nữa là bộ Hoàng Việt dư địa chí, ghi chép về địa lý Việt Nam[9].




Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ Phan Huy Chú là bà Nguyễn Thị Vũ, con gái Tiến sĩ Nguyễn Thế Lịch (tức Nguyễn Gia Phan), người thôn Yên Lũng, Từ Liêm (nay thuộc Hoài Đức, Hà Nội). Ông giỏi nghề thuốc, và từng làm quan trải đến chức Thượng thư bộ Hộ dưới triều Tây Sơn. Năm 1803, ông bị vua Gia Long sai đánh đòn tại Văn Miếu cùng với Ngô Thì Nhậm[10].




NGÀI BAN KI-MOON THĂM NHÀ THỜ, XEM GIA PHẢ HỌ PHAN

NGUYỄN THIÊN-THỤ * PHAN LẠC TIẾP, MỘT THỜI OAN TRÁI





PHAN LẠC TIẾP * MỘT THỜI OAN TRÁI,



NGUYỄN THIÊN-THỤ



Tác phẩm này do Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2011, trên 400 trang.Đây là một tập truyện có hai phần.
Phần thứ nhất ĐẤT CŨ NGƯỜI XƯA gồm 9 truyện:
Cây Khế Ngày Xưa
- Ngày Tháng Cũ
- Quê Ngoại
- Người Nghệ Sĩ Miền Quê
- Soái Nham
- Sơn Chung Tiên Sinh
- Người Đàn Bà Nhan Sắc
- Tào Mạt
- Một Mảnh Trời Hà Nội


 

Phần thứ hai NHỮNG NGÀY LƯU LẠC, gồm 14 truyện.

- Cây Thông
- Một Thoáng Đi Qua Khu Rừng Nhất Linh
- Một Làn Gió Tinh Khôi
- Sài Gòn Thoáng Nhớ
- Đi Mua Đồ Cũ
- Một Chút Nhớ Quên
- Vài kỷ niệm về Nguyễn Thanh Hùng
- Cụ Hoàng Văn Chí
- Những Chặng Đời Nghiệt Ngã
- Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh
- Một Ngày với Đô Đốc Chung Tấn Cang
- Người Đàn Bà Trên Tàu 502
- Chị Em
- Hà Nội Ngày Trở Lại



Thời Oan Trái là thời kỳ Cộng sản cai trị từ 1945 cho đến nay, một số dân Việt Nam đã sống tủi nhục và chết oan ưc vì Cộng sản độc tài, tàn bạo. Trong truyện Ngày Tháng Cũ, Phan Lạc Tiếp đã nói rõ ý nghĩa của nhan đề sách: Bao nhiêu oan trái của chiến tranh, bao nhiêu người đã ra đi, oan uổng bỏ mình. Hầu hết những truyện trên đều là những truyện của quê hương Việt Nam từ Hà Nội đến Saigon, đặc biệt là những việc xảy ra ở làng quê của Phan Lạc Tiếp từ 1945 cho đến sau 1975. Và đó cũng là những kỷ niệm của thời ấu thơ của Phan Lạc Tiếp. Tất cả những nhân vật, những câu chuyện đều có thực, một số đã chết trong ngục tù miền Bắc, một số di cư vào Saigòn nhưng rồi cũng đã về Tây phương cực lạc.

Tập truyện này có ba trọng điểm:
- Kỷ niệm thời thơ ấu
- Tố cáo
-Tình người.


1. Kỷ niệm thời thơ ấu:

Truyên đầu tiên là truyện Cây Khế Ngày Xưa, là những kỷ niệm của một thời ấu thơ ở quê nhà bên cha mẹ với những ngày tết, trẻ con vui mửng tuổi cha mẹ, họ hàng rồi được tiền mừng tuổi. Rồi là năm 1945, Việt Minh lên, kêu gọi mọi người đi biểu tình. Một số người làng đã thoát ly gia đình theo Việt Minh. Năm 1994, Phan Lạc Tiếp trở về thăm quê, hầu hết họ đã ra người thiên cổ.
Truyện Quê ngoại là kỷ niệm về thăm Chàng Thôn, quê ngoại của tác giả với bao người và cảnh thân thương.
Người Nghệ Sĩ Miền Quê là kỷ niệm một tình bạn chân thành, mộc mạc.

2. Tố cáo


Tác phẩm của ông tố cáo chiến tranh .Tác giả viết cho Tố Quyên, vợ Phan Lạc Trạch, là con ông Tú bị cộng sản xiết cổ mà chết:



Từ những biến cố đó làng mình tan nát. Anh em, chị em mình tan nát, chia lìa. Cuộc chiến chống Pháp 9 năm chấm dứt chưa được bao lâu, thì cuộc tương tan Nam Bắc lại bùng lên do người Cộng Sản phát động. Một cuộc tương tàn vô cùng khủng hiếp. Hàng triệu người Việt đã chết. Bao nhiêu cảnh chia lìa tan tác. Bao nhiêu đổ vỡ, đớn đau. Khi cuộc chiến tàn, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, trong đó có em [...].Bây giờ cuộc chiến đã tàn. Bao nhiêu người chết trong oan trái, kể cả những người đã được vinh danh là anh hùng. Một cuộc chiến tàn khốc mà hoàn toàn vô ích (Người Đàn Bà Nhan Sắc )


Nhưng phần lớn là tố cáo cộng sản.
(1). Truyện Sơn Chung tiên sinh là truyện ông Đỗ Nhật Tân ở làng Nủa của Phan Lạc Tiếp. Năm 1945 tham gia Việt Minh.Năm ấy là năm 1949, các làng lần lượt phải “ tề.” Một hôm, Tây về làng bắt phu, kiếm gỗ và lấy cảhoành phi, câu đối lót đường cho xe các quan chạy. Người con trai cụ tú họ Phan, biết nói tiếng Pháp,được người làng yêu cầu “ nói cho họ biết, cần gỗ thì lấy cánh cửa cũng được. Sao lại phải lấy câuđối, hoành phi..” Tây nghe ra và tỏ vẻ thông cảm. Ông Tân đứng cạnh người con cụ Tú họ Phan, chứngkiến cuộc nói chuyện này. Đêm đến, Tây trở về đồn. Việt Minh còn ẩn khuất trong làng, tới lễ phépmời người con trai cụ Tú và ông Tân đi họp. Cả hai được du kích dẫn ra cánh đồng chân núi Sài Sơn.

Họ giữ chặt tay chân người con trai cụ Tú, nói mấy lời kết án, rồi sai hai người lấy dây thừng kéo
mạnh, siết cổ tới chết. Ông Tân đứng đó chứng kiến, sợ đến lạnh toát cả chân tay, sẵn sàng chờ đến lượt mình. Nhưng không. Họ kéo xác người con cụ Tú đi, và nói với ông Tân: “Chúng tôi tha chết cho anh...”

Ông Tân sợ quá trong đêm tối chạy bừa rồi ngã lăn bât tỉnh nhân sự, sau về Hà Nội rồi di cư vào Nam, làm việc cho Phủ Quốc Vụ Khanh tại Sài gòn. Sau 1975 về quê. Và đây là oan trái của đời ông, và nhà ông:

Nhưng mới hôm trước hôm sau, Uỷ Ban Xã mời ông ra trụ sở làm việc. Họ ăn nói rất ôn hòa “... Bác ở xa mới về, chưa quen nếp sống mới, bác cần được nghỉ ngơi, học tập một thời gian...” Thế là ông phải đi tù. Hôm đến trại, sau phần thủ tục, ông ngồi dưới gốc cây, có một ông già đến, đứng trước ông khá lâu. Biết thế, nhưng ông chẳng nhìn. Rồi người đứng cất tiếng hỏi:
“Cụ là cụ Tân...”, lúc ấy ông mới ngước lên: “Ô…ng?” Ông chưa hỏi hết câu người trước mặt đã thảng thốt kêu lên: “Thầ..y. Thầy đây hả thầy...Con đây thầy ơi!” Người con ôm chầm lấy bố, mếu máo, nước mắt như mưa, nhưng ông Tân thì rửng rưng, lạnh ngắt. Nỗi mừng vui đoàn tụ bất ngờ, đột ngột quá khiến tâm trí ông như chưa sẵn sàng, chưa có một dự tưởng nào về nỗi éo le này. Hay nỗi bàng hoàng kinh khiếp của buổi trở về đã làm tâm hồn ông lạnh giá. Như một phản xạ tự nhiên, ông vòng tay quàng vào tấm thân gầy yếu, rách rưới, con ông. Trong một khắc trôi qua, ông bỗng trào nước mắt, và mếu máo thốt lên:
- Con. Con đây ư
Ngươì con oà khóc và nói :
- Con đã tưởng ở trong Nam thì Thầy đã thoát. Sao Thầy lại còn về để bố con mình gặp nhau ở đây...
Vừa lúc đó có tiếng tên quản giáo quát lên:
- Hai anh kia, linh tinh...



Sau cùng thì cha con họ Đỗ dược tha. Phan Lạc Tiếp về quê gặp họ. Sơn Chung chết tại quê nhà, thọ 81 tuổi.

(2). Hồ Điệp, người làng Nủa của Phan Lạc Tiếp, nổi tiếng ngâm thơ hay, làm việc trong ban Tao Đàn của Đinh Hùng đã chết tại Ngả Ba biên giới trên đường tìm tự do.( Người Đàn Bà Nhan Sắc )


(3).Tào Mạt (1930-1983)
Tào Mạt nguyên là Đại Tá quân đội, nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn chết vì bệnh ung thư.Trước 1975, Tào Mạt làm văn chương tuyên truyền. Sau 1975, vào Nam nhận thức rõ Miền Nam tự do, no đủ:

Chỉ ở miền Nam người ta mới dám nói thật với nhau. Chỉ tại miền Nam, sau bao nhiêu năm người miền Bắc vào, mới nhìn thấy nồi cơm trắng đầy, không phải độn khoai, sắn. Cơm trắng ăn với thịt, ăn bao nhiêu cũng được.Và ra đường hàng quà ê hề đủ loại, muốn ăn gì tuỳ ý, không phải xé tem phiếu, không phải xin phép ai, nhìn ngó, dè chừng ai. Chỉ với cái thẻ căn cước, ở đâu cũng được, đi đâu cũng được, không phải lo hộ khẩu, không sợ tai mắt anh công an, người hàng xóm. Hoàn toàn tự do. Cái gì cũng thừa mứa. Và lòng người thì giản dị, bao dung. Thiên đường ở đâu, sự no đủ ở đâu, phải chăng đang có ở nơi này. Không cần lý luận, cả những cán binh cộng sản trung kiên nhất khi trở về miền Bắc cũng thấy sung sướng trong lòng, vì chẳng phải o ép, xảo trá, “người Nam nhận họ, người Bắc nhận hàng”, ai từ trong Nam về Bắc cũng có bao nhiêulà quà cho vợ, cho con, cho bố, cho mẹ.


Trong thời gian này, Tào Mạt Nguyễn Duy Thục xin phép vào Nam nhiều lần không được. Mấy năm sau mới được phép vào Nam 2 tháng, Tào Mạt đã phóng đi tìm bạn bè cũ, nhưng không gặp được ai. Kẻ đã di tản ngoại quốc, người khác thì đã bị bắt đi tù chưa biết khi nào mới được tha. Những lời tuyên truyền xảo trá “hoà hợp dân tộc” mà anh tin theo từ bao lâu nay hoàn toàn khác hẳn. Chính thời gian này, anh thấy rất rõ bộ mặt xảo trá, tham lam, tận tình vơ vét tàn bạo của mọi cấp cán bộ cũng như quân lính miền Bắc qua các chiến dịch Đánh Tư Sản Mại Bản, Đổi Tiền, lừa dối đuổi dân thành thị miền Nam đi vùng Kinh Tế Mới. Tất cả chỉ là kế hoạch diệt gọn, vét sạch không hề thương xót. Gặp gia đình các bè bạn xưa, nói chuyện với nhau trong ngỡ ngàng, trách móc. Theo những thông tin của thân nhân người viết cho hay “Ông Thục đi Nam về, người thừ ra, chỉ thở dài, không nói. Ông chìm trong cơn trầm uất rất lâu.”


Sau đó, ba vở chèo Bài Ca Giữ Nước được thai nghén và thành hình trong những năm 1979 – 1985.
Mọi người đón nhận các vở chèo này như những trận mưa rào trút xuống cánh đồng khô nứt sau bao nhiêu ngày nắng hạ nóng bỏng như thiêu, như đốt.
Nhưng chữ tài cùng với chữ tai một vần. Vinh quang của Tào Mạt đã gắn liền với tai họa.

Viết Về Hồ Chí Minh Nguyễn Thái Hoàng ghi lại những lời của Tào Mạt tâm sự:“Tôi được trung
ương giao cho viết một vở chèo về Bác, thú thật lúc đầu tôi thấy vinh dự lắm liền vào ngay thư viện ôm một chồng sách về nghiền ngẫm, vào tận quê ông cụ để lấy thêm tư liệu, đọc cả sách ngoại
quốc ca ngợi cụ, rồi để cả năm trời kiểm chứng, cuối cùng phải bỏ, vì cụ Hồ là người hoàn toàn
không tin được, đầy gian giảo, xảo quyệt, khác với những điều bịa đặt trong sách. Bây giờ để có
tác phẩm thay thế, tôi phải viết về Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.”
Vì vậy, cộng sản bảo ông điên, điên gia truyền. Thái Doãn Hiểu - Hoàng Liên cũng nói Tào Mạt mắc chứng epilepsic
(Nhà Văn Việt Nam, trang 558).


Nguyễn Thái Hoàng cho biết thêm trong cùng bài viết: “ Không bao lâu tôi nghe tin ông bị người của Đảng rình bắt tại khu vực 51 Trần Hưng Đạo, 65 phố Nguyễn Du, 9 Nguyễn Đình Chiểu, 19 Hàng Buồm (là Trụ Sở Hội Liên Hiệp Văn Hoá, nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, Hội Nhà Văn Việt Nam…), nơi mà ông thường xuyên lui tới để gặp gỡ anh chị em trong giới “tối” tác. Cũng may là bà Trần Thị Bát, một người đàn bà vô cùng quê mùa, nhưng lại rất “tinh đòn” trong việc bắt bớ, rình rập này đã lăn xả vào giữ chân chồng suốt một thời gian dài không cho ông ra Hà Nội, nên vụ vây bắt không thành…”
- (4). Truyện Người Đàn Bà Trên Tàu 502 là chuyện thật, nhưng người ta đã lợi dụng lòng thương con cùng sự tin tưởng mơ hồ của bà để kiếm chác. Điều đau xót là kẻ nhẫn tâm lợi dụng không phải ai khác mà chính là người em ruột của bà L. với sự toa rập của những thân nhân ruột thịt ở miền Bắc đã tiêm nhiễm tính gian ngoan, xảo trá của những người cộng sản


3. Tình người.


Tác phẩm của Phan Lạc Tiếp luôn có một đóa hoa nở âm thầm, đó là tình người. Ông đã nhận lấy tình người từ cha mẹ, anh em, bạn bè, làng xóm. Tình người đó đã có sẵn trong nhân dân ta, một dân tộc có lòng từ bi, nhân đạo từ ngàn đời mặc dầu Cộng sản gây căm thù, chia rẽ theo thuyết đấu tranh giai cấp của Marx.


(1).Tào Mạt là con người nhân hậu, ông theo Cộng sản những vẫn âm thầm cứu trợ anh em, họ hàng trong buổi đầu cộng sản giết người âm thầm và tàn bạo:
Năm 1950, khi cuộc chiến trở nên khốc liệt, đặc biệt Việt Minh ra mặt tận diệt những ai không phải người của Mặt Trận, chính anh Thục một đêm bên bờ sông Thao, đã nói với ông anh tôi rằng: “Các anh đi đi. Đây không phải là đất của các anh đâu. Phải đi ngay trước khi quá trễ. ”Và chính anh đã tiếp tay tổ chức cho ông anh tôi và hai người con trai lớn nhà dì tôi, bỏ vùng kháng chiến trở về vùng tạm chiếm. Giữa đêm đen, chính anh lội xuống mé nước, đẩy con thuyền ra giữa sông Thao. Trong phút từ biệt, anh nói với ông anh tôi: “Cái thế nó như thế.
Các anh cứ về đi. Chưa biết sau này giữa chúng ta ai sẽ cứu ai đâu.
”(Tào Mạt)


(2). Người bạn quê đã bảo nhỏ với anh “Nên ra tỉnh đi. Đêm không nên ở nhà…và chính anh cũng bí mật gặp Phan Lạc Tiếp khuyên bảo:
Theo cán bộ họ nói, cuộc đánh nhau này sắp đến ngày kết thúc. Lúc ấy khi đánh Tây đi rồi, là lúc thanh trừng các thành phần phản động, trí, phú, địa hào…
- Mà tôi là con nhà nghèo mà.
- Đằng ý con nhà nghèo mà lại được ra Hà Nội học. Học cả tiếng Tây, là có ý sẽ làm cho Tây. Anh đằng ý đã làm quan Hai.
- Nếu tôi ở lại?
- Ở lại cũng chẳng được. Họ đã quy thành phần rổi
.
(Người nghệ sĩ làng quê )
(3). Chú Châu của Phan Lạc Tiếp từ quê ra Hà Nội khuyên anh em Phan Lạc Tiếp hãy vào Nam:
“Chú nói thật. Chạy đi. Ở lại không được đâu. Đi đi.Tin họ thế nào được.”( Ngày Tháng Cũ )


(4). Lòng yêu quê hương đã được thể hiện một cách nghiêm trang và đau khổ trong buổi hạ cờ quốc gia:
Mấy ngày sau, bờ biển Phi Luật Tân hiện ra, núi non chập chùng đen thẫm. Lễ chào và hạ quốc kỳ
VNCH lần cuối được diễn ra, đơn giản nhưng vô cùng nghiêm trang và rất đớn đau. Lá quốc kỳ nền
vàng ba sọc đỏ bạc màu từ từ được kéo xuống, cùng với hàng ngàn giọng hát, già trẻ, nam nữ cất lên, vừa hùng tráng, vừa chất chứa nghẹn ngào. Những lời hát như trùm kín cả vùng trời biển nước mênh mông. Lời ca dứt. Những tiếng kêu khóc bỗng bùng vỡ. Nhìn đâu, tôi cũng chỉ thấy những cặp mắt đẫm nước mắt.
(Người Đàn Bà Trên Tàu 502)


Tác Phẩm Một Thời Oan Trái còn cho ta biết phong tục tập quán miền Bắc với các cung cách văn minh lich sự của bao lớp người trong xã hội. Tác phẩm cho ta hiểu rõ những nếp sinh hoạt như giỗ chạp, cúng tế, những kiến trúc xưa như thượng đình hạ trì, các cầu ao, các sân ,các vườn tược, và cách trang hoàng hoành phi, câu đối, và các y phục, kiểu tóc, cách nói năng, thưa gửi...của một Hà Nội cổ kính và miền Bắc thanh lịch.


Phan Lạc Tiếp chú trọng tả tình và tả cảnh ngay trong từng đoạn văn. Quê ngoại là tinh hoa của tập truyện với nghệ thuật tả cảnh, tả tình rất chân thật và sống động.Truyện của ông mang nhiều màu sắc nhưng hai màu sắc nổi bật nhất là quê hương và chiến tranh. Hai chủ đề này vương vấn lấy nhau qua nhiều tác phẩm . Văn phong của ông thung dung bình dị phản chiếu con người nhân hậu của ông luôn nồng đượm tình người dù trong cảnh chiến tranh đen tối hay nơi quê người tuyết băng lạnh giá.


(Trich NGUYỄN THIÊN -THỤ.VIÊT NAM VĂN HỌC SỬ TOÀN THƯ, VI tập,  gần 5000 trang. sẽ xuất bản nay mai)