Sunday, May 31, 2015

HẢI NINH * ÁO DÀI VIỆT NAM TẠI MỸ

Áo dài Việt Nam ở New York

Hải Ninh, phóng viên RFA
2015-05-31
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Những cô người mẫu trong chiếc áo dài Việt Nam tại New York. Nhà thiết kế mang hai bộ sưu tập áo dài Việt Nam tới New York lần này là Thuận Việt
Những cô người mẫu trong chiếc áo dài Việt Nam tại New York. Nhà thiết kế mang hai bộ sưu tập áo dài Việt Nam tới New York lần này là Thuận Việt. Ngày 23 tháng 5, 2015
Courtesy photo/Vietnamtourist

Cư dân thành phố New York cũng như du khách từ khắp nơi trên thế giới được chứng kiến một màn trình diễn áo dài Việt Nam kéo dài 30 phút cuối tuần trước. Sự kiện này diễn ra tại bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ, một trong những bảo tàng lớn nhất thế giới với hàng loạt các triển lãm về các loài khủng long khổng lồ hoặc cây rừng từ hàng tỷ năm về trước. Tạp chí phụ nữ tuần này xin được gửi đến quý vị bài viết về buổi trình diễn áo dài độc đáo này.
Màn trình diễn áo dài có tên “Hello Vietnam” (Xin chào Việt Nam) là một phần của triển lãm về các loài mèo lớn đang dần tuyệt chủng ở châu Á. Triển lãm có sự góp mặt của các nhóm đến từ Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam, vân vân. Ngoài màn trình diễn áo dài, khu kiosk của Việt Nam còn được trang trí đèn lồng Hội An để giới thiệu văn hoá của đất nước tới người nước ngoài. Thêm nữa, trẻ em tới dự, và cả người lớn nữa, được tô vẽ hình các con hổ trên giấy.
Viện Văn hoá và Giáo dục Việt Nam tại New York (IVCE) đứng ra thu xếp việc tham gia của đoàn Việt Nam. IVCE kêu gọi các cô gái khắp vùng đông bắc Hoa Kỳ đến làm người mẫu áo dài cho buổi trình diễn.
Những người mẫu không chuyên
14 người mẫu tham gia buổi trình diễn là các cô gái trẻ đến từ New York, New Jersey, Washington D.C., Virginia và Boston. Vi Vi Trần, 21 tuổi, đang là sinh viên ngành kỹ sư dân sự tại đại học Virginia, cho biết cô nhận được thư mời của hội IVCE về buổi trình diễn và vì thế cô rủ thêm các bạn gái tham gia. Vi Vi kể lại:
Vi Vi Trần: Năm ngoái, em có tham gia một cuộc thi sắc đẹp. Em là đại diện Miss Vietnam D.C. vì thế em biết phần lớn các chị em cùng tham gia cuộc thi đó. Vì thế, em đề nghị một số chị em cùng lên New York và cùng làm người mẫu áo dài với em. Đó là lý do tại sao mà Vi Nguyễn với Nikki Trần có mặt ở đây hôm nay và chúng em đại diện cho Miss Vietnam D.C., từ vùng Washington.
Năm ngoái, em có tham gia một cuộc thi sắc đẹp. Em là đại diện Miss Vietnam D.C. vì thế em biết phần lớn các chị em cùng tham gia cuộc thi đó. Vì thế, em đề nghị một số chị em cùng lên New York và cùng làm người mẫu áo dài với em
Vi Vi Trần
Vi Nguyễn, 26 tuổi, là bạn của Vi Vi Trần, cũng sinh sống ở bangVirgina. Cô sinh ra ở Sài Gòn và sang Mỹ từ năm mới một tuổi.
Vi Nguyễn và Vi Vi Trần cùng 12 cô gái khác được khoác trên mình hai bộ áo dài trong buổi trình diễn hôm 23/5. Một chiếc áo dài có in hình hoạ tiết con hổ, chiếc còn lại có hình những cánh hoa xinh xắn. Vi Nguyễn cho biết cô cảm thấy gắn bó với nguồn cội như khoác trên mình chiếc áo xinh đẹp này. Vi Nguyễn nói:
Vi Nguyễn: Em thấy chiếc áo này thật đẹp, vì nó là áo dài Việt Nam nên nó là văn hoá của ta và nguồn cội của ta. Em rất thích mặc nó. Chúng ta chẳng mấy khi nhìn thấy áo dài trong cuộc sống hàng ngày, nên chỉ điều đó thôi đã khiến chiếc áo này trở nên thú vị rồi. Sự kiện ngày hôm nay là để ủng hộ các loài hổ, báo. Nếu mà chịu khó đọc lịch sử thì ta biết rằng loài này đang dần biến mất khỏi trái đất. Vì thế, em thấy sự kiện này rất có ý nghĩa.
Vi Vi thì thích những màu sắc và hoạ tiết trên chiếc áo dài này. Cô cũng nói cảm thấy tự hào khi được giới thiệu văn hoá Việt Nam tới người dân khắp nơi. Vi Vi cho hay:
Vi Vi Trần: Khi đứng và chụp ảnh ở phía trước viện bảo tàng, vô số người thuộc các nền văn hoá khác nhau đã đứng lại và ngắm nhìn. Họ khen chúng em xinh đẹp và xin được chụp ảnh cùng chúng em. Được mặc áo dài và làm người mẫu thế này quả thực em thấy rất vinh dự. Có một vài người thậm chí còn chỉ trỏ, nói rằng ô kìa, họ là người Trung Quốc, người Philippines, nhưng vì thế mà chúng em có cơ hội sửa sai cho họ và khoe với họ về văn hoá Việt Nam, và đây là chiếc áo dài Việt Nam.
Hàng trăm người đứng chật kín trong khu vực triển lãm, chiêm ngưỡng những cô gái gốc Việt khoác trên mình chiếc áo dài truyền thống. 14 cô gái duyên dáng bước đi trên nền nhạc của bài hát Xin chào Việt Nam và một số khúc dân ca không lời. Gam màu chủ đạo của bộ sưu tập lần này là vàng và xanh, do phải kết hợp hoạ tiết con hổ.
Em thấy chiếc áo này thật đẹp, vì nó là áo dài Việt Nam nên nó là văn hoá của ta và nguồn cội của ta. Em rất thích mặc nó. Chúng ta chẳng mấy khi nhìn thấy áo dài trong cuộc sống hàng ngày, nên chỉ điều đó thôi đã khiến chiếc áo này trở nên thú vị rồi
Vi Nguyễn
Đây là lần đầu tiên Mai Kim, ở New York, được mặc chiếc áo dài và lại được trình diễn trước nhiều người nước ngoài. Mai cho biết cô rất tự hào về chiếc áo truyền thống xinh đẹp này. Mai nói:
Mai Kim: Em mặc áo dài, em cảm thấy rất là duyên dáng của người Việt Nam. Em thấy rất vui và thú vị khi có nhiều người được nhìn thấy người con gái Việt Nam mặc áo dài. Em đi ra [sân khấu] thì em thấy rất nhiều người nhìn em. [Đây là] lần đầu tiên em mặc áo dài của người con gái Việt Nam vì em chỉ học đến cấp hai thì em nghỉ rồi. Em thấy rất tự hào về người Việt Nam.
Áo dài và con hổ
Nhà thiết kế mang hai bộ sưu tập áo dài Việt Nam tới New York lần này là Thuận Việt.
Thuận Việt: Với bộ sưu tập đầu tiên, hình ảnh những chú hổ được làm nổi bật theo đúng chủ đề của bảo tàng Museum of Natural History đó là Big Cats. Mục đích của chương trình là nhằm bảo vệ động vật, không chỉ hổ mà còn nhiều động vật khác nữa, nhưng điểm nhấn của năm nay là hổ. Trong những tranh dân gian Hàng Trống của Việt Nam có năm chú hổ, tượng trưng cho Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ, đem lại sự may mắn, hạnh phúc, tài lộc cho con người. Đây cũng chính là ý nghĩa chính của bộ sưu tập này. Những chú hổ được biến tấu, phá cách cho hợp với thời trang hơn.
Sue Boiko, một khán giả người Mỹ, cho biết khi nghe đến buổi triển lãm này, bà không thể nào hình dung được chiếc áo dài có hình con hổ sẽ giống như thế nào. Quả đúng là như vậy. Thật khó tưởng tượng chiếc áo dài duyên dáng của người con gái Việt Nam và con hổ lại có thể đặt cạnh nhau. Đây cũng là một điều khiến Thuận Việt đau đầu. Tuy nhiên, Thuận Việt đã tài tình đưa hình ảnh con hổ dũng mãnh lên chiếc áo vốn lại biểu tượng của nữ tính.
Cái hình tượng hổ lại một cái hình tượng rất là mạnh mẽ để đưa vào tà áo dài truyền thống, vốn rất duyên dáng, mềm mại, nữ tính. Nó đối lập hoàn toàn với hình tượng mạnh mẽ của chú hổ
Thuận Việt
Thuận Việt: Cái hình tượng hổ lại một cái hình tượng rất là mạnh mẽ để đưa vào tà áo dài truyền thống, vốn rất duyên dáng, mềm mại, nữ tính. Nó đối lập hoàn toàn với hình tượng mạnh mẽ của chú hổ. Đây là một cái bài toán khó khăn, thế nhưng sau khi suy nghĩ thì Thuận Việt mới áp dụng hình tượng hổ theo cách vẽ dân gian để cho chú hổ sinh động theo một cái kiểu khác chứ không phải tả thực cái chú hổ ngoài đời. Vô tình thì hai hình ảnh này kết hợp với nhau lại rất hợp lý.
Ngoài bộ sưu tập áo dài với hoạ tiết là hình tượng hổ, Thuận Việt còn mang cùng với anh tới New York bộ sưu tập áo dài hoạ tiết hoa nữa. Anh cho biết:
Thuận Việt: Thuận Việt sử dụng các loài hoa, có thể nói là mai, lan, cúc trúc, là bốn đại diện cho sự vui vẻ, hạnh phúc có trong những cái bức tranh được trưng ở rất nhiều nhà truyền thống của Việt Nam. Bộ sưu tập này sử dụng chủ yếu là hoạ tiết được thêu bằng tay, đính các đá swarovski, rất là thích hợp với lại nhiều nơi giống như là party, các sự kiện sang trọng hoặc dịp tết, lễ hội.
Cả hai bộ sưu tập được thiết kế với cả phong cách hiện đại và truyền thống. Truyền thống có nghĩa là các chiếc áo dài có cổ cao còn hiện đại là cổ áo được biến tấu thành cổ thuyền. Thuận Việt cũng cho biết anh mong có nhiều cơ hội mang chiếc áo dài đi giới thiệu với bạn bè thế giới hơn.
Tạp chí phụ nữ tuần này xin tạm dừng tại đây. Hải Ninh xin cảm ơn quý vị, mọi ý kiến đóng góp về bài vở và đề tài cho trang tạp chí, xin mời quý vị gửi email về theo địa chỉ phamn@rfa.org hoặc gửi tới trang Facebook của Hải Ninh tại www.facebook.com/haininhrfa. Còn bây giờ, Hải Ninh xin được chào tạm biệt và xin hẹn gặp lại quý vị tuần sau.
 http://www.rfa.org/vietnamese/programs/WomenMagazine/vn-ao-sai-in-nyork-05312015062434.html

ĐƯỜNG BÁ BỔN * TAM LANG- VŨ ĐÌNH CHÍ

TAM LANG- VŨ ĐÌNH CHÍ 
(1900-1986) :
“…  CÁI UẤT (LÊN) CỦA VĂN CHƯƠNG… TRẦN TRUỒNG…”

1.- Trong đời văn chương Tam Lang có 2 buổi mừng thọ . Nói như Tam Ích – đây là cách tôn vinh Tam Lang- Vũ Đình Chí , tác giả :”…” Tôi kéo xe “ vẫn hay như xưa. Cho uất lên, thì cái uất cũng là rất trần truồng…”
Ngày 20-2-1971, trùng năm sinh thượng thọ. Tam Lang -  Vũ Bằng , Thượng Sỹ…. khởi xướng , cùng một số bạn bè họp mặt- với sự cộng tác nhiệt tình tạp chí” Văn học”( Saigon- chủ nhiệm : Phan kim Thịnh)..
Vũ Bằng  : ” Tao phùng đêm 20, tao phùng để làm gì?”, tác giả giải thích:
“…tao phùng đêm hai mươi, khẩu hiệu nhỏ bé ấy truyền đi từ anh em này cho đến anh em kia, tờ báo này qua tờ báo nọ trong vòng một tuần lễ, không có một lời đăng báo. . Vậy mà từ 5 giờ chiều 20-2 tới đây, anh em văn nghệ (…) đã gặp gỡ nhau đông đảo tại Nhà hàng Thanh Thế chật hơn cả một “ lầu nhì”. Ngoài các anh em văn nghệ tiền chiến như : Lãng Nhân , Thượng Sỹ ,Phạm Cao Củng, Đỗ Hồng Nghi ( Trương Linh Tử, Hoàng Ly ) Hoàng Lan - Nguyễn Xuân Huy , Phạm Minh Kha ( Ngọ Báo)… đến Tam Ích, Trần Văn Bảng ( bác sĩ săn sóc sức khỏe một số văn nghệ sĩ hậu chiến- TP chú thích) người  ta còn thấy nhiều văn nghệ sĩ hiện đại như giáo sư Thanh Lãng  / Đại học Văn Khoa, họa sĩ Tú Duyên…nhạc sĩ Phạm Duy…
Gặp mặt  là  để  chúc thọ Tam Lang vào tuổi 70.
Thượng Sỹ  dõng  dạc tuyên bố: 
 ”…đó là đại hội thường  niên của anh em văn nghệ sĩ còn sống hay sắp chết, đúng hơn là cảm tạ” Trời thương đến tuổi này vẫn được khỏe mạnh cả tinh thần, vật chất(…). Ấy là vì nghề cầm bút  là “ cái nghề ăn gỏi sức lực thể chất và tinh thần của con người ta” vào bậc nhất, vì nhiều lý do hùng hồn nhất,: điều kiện sống của các văn nghệ sĩ trước, cũng như bây giờ “:
                                                   

“ Văn nhân tự cổ như danh tướng
    Bất hứa nhân gian kiến bạc  đầu “ 
  …đã đành  là  văn nhân  cũng như mỹ  nhân, cũng có người sống dai; nhưng đa số thì không để cho nhân gian thấy đầu mình bạc. 
Cái chết của những Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Nhược Pháp,  Nguyễn  Đình Lạp, TCHYA ( Đái Đức Tuấn ) , Lê Văn Trương …. chứng tỏ sự việc đó đã được phần nào … làm nghề cầm bút thiệt chốc đã năm  mươi ba, tư năm nay – anh  Tam Lang  cùng chúng tôi  đã trải nhiều buồn vui, qua nhiều biến cuộc.  Anh đã góp phần  không nhỏ cho làng báo, làng văn – nay đã được 70 – mà vẫn thiết tha với anh em. Thế là đáng quí !. Chúng tôi lấy làm vinh dự có một người anh em tận tụy với văn nghệ như anh (…) “. 
Trong một bài viết khác- Tam Ích rất “ tếu” , hơi hướm  hỗn xược” - gọi ba chàng văn sĩ cùng” họ Vũ ” là ” ba thằng họ Vũ”-  điều này hơi’ lố bịch”!.  Giản dị,  Tam Ích-Lê Nguyên  Tiệp chưa hề được coi ” đồng lứa, đồng sàng”với Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Vũ Đình Chí-Tam Lang, và chưa bao giờ được ngồi chung, viết chạ với’ 3 thằng họ Vũ” kia , từ thời gọi là tiền chiến ?! 
Trở lại cùng Vũ Bằng kể chuyện  mừng thọ - Tam Lang được tặng một món quà thật độc đáo - ấy là Thượng Sỹ có sáng kiến đặt họa sĩ Tú Duyên vẽ bức họa- một trái đào thật lớn  tượng trưng thời còn để chỏm .( có lẽ Thượng Sỹ đã nhớ “ tóc chỏm đào” các em bé còn thơ ấu được cha mẹ’ cắt tóc chỏm đào” chăng ? - và bây giờ” em bé Tam Lang  rất xa xưa nay đà 70 ). Bức tranh ấy có đủ tên , chữ ký các  văn hữu tham dự buổi mừng thọ tác giả” Tôi kéo xe” vào 1971 .  
Có người  nào  đó lên tiếng nhắc Phạm Cao Củng ( 1913 -       ) – cha đẻ nhân vật tiểu thuyết Kỳ Phát xưa kia.:…” sao nay  anh chàng lại thu mình ngồi trong góc khuất, chẳng nói năng, chẳng tham gia xướng, họa, hay là óc bố mày giờ này chỉ có “cút” – không thể có thơ nào hay bằng nuôi ” chim cút”  phải không?”
Tới lượt một chàng ồn ào nhất , đi tới đâu” ba hoa” tới đó, sao bữa nay  lại” tịt ngòi”- đó là Phạm Duy.
Một văn hữu trêu :
- Ca dao  dành riêng cho   Phạm Duy “.. văn chương chữ nghĩa bề bề / Thần “lờ “ ám ảnh cũng mê mẩn đời  (  đúng ra “ văn chương bề bề” phải dành cho nhà văn Phạm Duy Tốn ,cha hắn mới đúng, còn hắn chỉ là”  nhạc sĩ “ thôi !” ) - bây giờ chàng ta chỉ mê thần tiềnthần tiên mà thôi !
Một bạn văn khác hùa theo:
- Phạm Duy và Phạm cao Củng  chẳng chịu nói gì, vác thân xác tới mừng thọ’, còn” hồn phách vật vờ nơi chin suối, mười khe ?!  “
Bỗng  nhiên Duy phản pháo :
- Im lặng là một” bí mật”.  Khi các bạn được nghe ” tục ca”  của tôi sẽ rõ, chứ bây giờ sao đành ” “tiết lộ thiên cơ” được !
- “Tục ca” – lấy hứng từ nguồn người nữ - “ thần” lờ” ám ảnh trở thành” tục ca” đấy thôi !  một văn hữu khác chêm vào .
Duy tiếp:
- .. đàn em rất thụ cảm với bài thơ của” đại ca Tam Lang ” :” sớm đầu xanh, tối đã bạc rồi!”, còn sống ngày nào còn phải tận hưởng’ của  Trời cho”,” chơi cho  phỉ chí, kẻo “ sớm đầu xanh mà tối đã bạc “ thì thật uổng !!”
( có tiếng xì xào nhắc chuyện  Phạm Duy tằng tịu “với vợ của em vợ “ - rủ ca sĩ Khánh Ngọc “sớm  Nhà Bè ăn chè , trưa ngửa bàn đèn hâm tục ca, tối đêm mầu hồng vi vút tiếng ca tình ái” -  Khánh Ngọc tên thật  Lan Nam, vợ Phạm Đình Chương. – sau vụ báo chí làm rùm beng, Khánh Ngọc đành ly dị chồng , xin đi du học ở Huê Kỳ, sau lấy  chồng, một Việt kiều., bỏ hát, sống rất hạnh phúc. )
    Anh em văn hữu dự tiệc- rượu vào, lời ra, mỗi người mỗi vẻ, mỗi  câu mỗi ý – bỗng có người lên tiếng:
    - .. tại sao Vũ Hoàng Chương không có mặt ?
    -.. chắc  Vũ Hoàng Chương sợ” giáo bão can qua, lùa ám khí vào cuộc đời,”, chàng ta’ tự cấm quân,” cấm trại 100 %  rồi !
    - có tiếng ai ngâm thơ Chương sáng tác:
 “…Ta van cát bụi trên đường
  Dù dơ dù sạch đừng vương gót này 
 Để ta tròn một kiếp say 
  Cao xanh liều một cánh tay níu trời                                                 Thơ ta chẳng viết chào đời…” (…)
    Vũ Bằng tiếp:
    -.. có tin tung ra, Vũ Hoàng Chương gửi thơ dự giải Nobel văn chương năm nay đấy!  Thơ V.H.Chương đã được dịch sang Pháp , Anh, Đức  ngữ. Nào là “ Poèmes Choisis”,” Nouveaux Poems”, “ Communions Poems”, “ Die achtundzwanzig Sterne”..
      Mọi người im lặng, khi chủ xị Tam  Lang rời chỗ ngồi , tới bục đọc thơ:                                               “ Còn bao năm nữa cái  đêm tận cùng?”
    nghe sao não lòng đến vậy !

    Mọi người lục tục ra về.
    Tiệc mừng thọ Tam Lang- Vũ Đình Chí 70 tuổi chấm dứt.
    Đèn đường đã  bật sáng từ lâu ! 

      2.-Mừng thọ Tam Lang lần hai được tổ chức tại nhà Mai Hồng  Khương ( bây giờ đổi tên Trần Hồng Khương , con gái “ thứ thiếp”- Á Nam-Trấn Tuấn  Khải) tại 75 đường Lê Quốc Hưng, quận 4 .( tp. HCM) ngày 10-4-1983.
    Khoảng 60 văn hữu tham dự.  Khởi xướng ý tưởng là Vũ Bằng, Giang Kim-Nguyễn Thế Bình, Trần Hồng Khương…
    Giang Kim tiết lộ:
    -…  với sự phân công rõ rệt. địa điểm : 75 Lê Quốc Hưng- nhà Mai Hồng Khương. Chạy đi mời là tôi, tường thuật, tiếp khách là Vũ Bằng, làm văn tế sống là Trạng Đớp- Nguyễn Xuân Tài. Việc nào vào việc ấy, chúng tôi đã thực hiện được nhu dự định, với số khách tham  dự gần 60 anh , chị em, già, trẻ- vào một ngày” cúp điện” nên phần khai mạc tới 11 giờ trưa ngày 10-4-83 mới khai mạc được…”(….)
    Khác  buổi gặp mặt vào năm 1970  (trước 30-4-1975) - lần này có  tiếng xầm xì :
    “… đây có phảimừng thọ, mừng thiếc” gì đâu- chỉ là vụ đầu cơ chúc thọ Tam Lang 83 tuổi thôi !” 
    Một bài viết của Trạng Đớp - đúng ra lá thư Trạng Đớp gửi Chàng Ngô ( Ngô Trọng Hiến - nguyên chủ Nhà sách, xuất bản” Như Ý” ở Phú Nhuận trước 1975 ). Có đoạn  viết:
    “…bàn của đệ cụ Tam Lang chủ tọa, nên anh em đều xoay quanh về tiêc thọ ngày 10-4-1983 vừa qua.  Có một vị khách nhắc đến chàng Ngô – bồ ruột của cụ Tam Lang. mà sao bữa đó không có mặt ?”
    Như  một cái máy phát thanh ( …) CảTếu trả  lời lý do tại sao hôm nay chàng ngô  không  đến ?  Đệ mới hỏi Cả Tếu vì lý do gì, thì Cả Tếu trả lời:
    “…Cậu đ.. biết gì ? Thằng cha đó hiện nay có  đủ giấy trăm để đốt chúng mình( ngay) tại đây .  ( Nó) là lái giấy, lái” óc” , cả tá con đi Mỹ, ( nhưng tại sao) hôm nay lại không đến ? ( Có phải) là vì ?
                                        “Tam Lang ơi hỡi Tam Lang
                                          Hôm qua tôi chửi” cả làng” nhà anh !”.
    (Nếu ) nó  đến, anh em gặp( thì) sẽ khui ra, nên vắng mặt thì có gì là lạ ?
    …-thế làm sao lại có tin, bữa tiệc thọ Tam Lang, do’ hai tên Lã Bất Vi Vũ Bằng và Giang Kim-Nguyễn Thế Bình ” lợi dụng xác sống tác giả” Tôi  kéo xe” để” bắt tí tiền còm”.  Bữa ăn không đáng 6 đồng  / người, ( nên) Vũ Bằng cảm thấy không thể” xơ múi” gì nên “ lỉnh” trước   ( chứ gì ?” (….)
    Trạng Đớp tế sống Tam Lang ( anh em làng văn nhớ ra ngay - trước đây nhà thơ Tế Nhị từng có bài tế sống Vương Hồng Sển.”.
     .. và dưới đây trích đoạn “tế sống tác giả” Tôi kéo xe” , dịp mừng thọ lần 2 , của Trạng Đớp-Nguyễn Xuân Tài :
       (………………………… )
                                               Khi nhắm mắt ma to ma nhỏ
                                               Rồi điếu văn, ai có  nghe đâu ?
                                                    Nên nhất tề quyết định : 
                                              “ Phúng anh phúng sống mấy câu:
                                                Anh nghe chắc sẽ gật  đầu nhếch môi
                                                 Rượu đế đây kính mời cụ  Thủ
                                                 Hãy hưởng đi cái thú trần gian
                                                 Vững tay lèo lái làng văn
                                                 Chừng nào đến 400 năm thì về
                                                 Lúc ấy đệ cặp  kè chín chục ( 90)
                                                 Ở trời Tây lập tức “ điện” ngay  (*)
                                                 Chia vui cùng đất nước này 
                                                 Tiễn đưa” văn nghệ  một tay hào hùng !”
                                                 “ Giới xe kéo”  vô  cùng kiêu hãnh
                                                  Đường luân hồi chuyển bánh muôn năm
                                                   Làng văn nhớ mãi Tam Lang
                                                “ Làng xe” nhớ mãi anh chàng” kéo xe”
                       (………………………… . ) 
                                                                                     tháng 3.1983
                                                                                          TRẠNG ĐỚP
    ----------
    (*)Nguyễn Xuân Tài được bảo lãnh đi Pháp, chưa đi thì đã qua đời.( Đ.B.B chú thích) 
    Khi nhắm mắt ma to ma nhỏ” - ấy là nói về Tam Lang còn sống sờ sờ “ lúc sống thì chẳng cho ăn / khi chết lại làm văn tế ruồi ! “. Trạng Đớp lên án “ ngầm” bạn thân Giang Kim, và nhà văn Vũ Bằng tận dụng hoàn cảnh”  ăn bo bo” lại gọ là ” cao lương”, khẩu phần  bo bo mỗi người , thực ra chỉ” vo viên làm được một cái bánh cỏn con đút vào miệng, ăn rồi, sao vẫn còn thòm thèm !“.
    Vậy tại sao không nghĩ ra “ cách tế sống  Tam Lang, nhà văn tiền chiến  không di tản, xứng đáng vai” tiên chỉ làng văn”: - vừa được tiếng với bè bạn vừa “ cấu véo” chút đỉnh kiếm miếng cơm gạo trắng’ cải thiện”  ?  
    Trạng Đớp vốn tay ” thợ thơ châm biếm”  làng báo Saigon- ai “ đặt hàng chỉ nháy mắt có bài” nộp, nhận tiền “ sống” ngay ”- luôn khoe “….trong  làng “ choang” (lính )- “ -…trên là tướng ,dưới tá -đều biết danh ông tiên sư  I ( trung sĩ 1)  Trạng Đớp-Nguyễn Xuân Tài đấy !”
    Nhắc  tới  “ tiên chỉ làng văn  Tam Lang”- Trạng Đớp không thể không thể không nhớ “ trương tuần làng báo tài danh Anh Hợp”. Đó là môt nhà báo nổi tiếng từ Hà Nội trước 1954 ( thư ký tòa soạn báo” Thân Dân “ / Nguyễn thế Truyền ,
     “ Dân Chủ” / Vũ Ngọc Các )..người thấp bé, mặt “ rỗ” ‘ nghiện hút- ở Hà Nội có vợ hẳn hoi ,  sau di cư chỉ còn một thân một mình bệ rạc.   Ký giả Anh Hợp nghèo, đói, quần áo  lếch thếch cáu bẩn, “ bạ đâu cũng là nhà”, “ nằm đâu cũng là giường”  – so sánh với một hành khất, thì : “ mày mười, tao mới được năm”  thôi. !
    Gặp lúc  Phật giáo gặp đại nạn 1963, Anh Hợp bèn nghĩ kế’ tuyệt thực phản đối chế độ độc  tài Ngô Đình Diệm”  nằm vạ trước  chùa, nơi phóng viên quốc tế đến săn tin - dịp may bắt gặp - Trạng Đớp  bèn xuống bút “ tế sống đoạn đời bi đát Anh Hợp: 
      “…chợt nhớ  lại trước đây , đệ giữ mục “ Tầm đại bác “  báo “ Sống”( chủ nhiệm: nhà văn  Chu  Tử - Chu Văn Bình  ) – có làm một bài tế sống nhà báo Anh Hợp- nhân dịp anh ta tuyệt thực trước Viện Hóa Đạo để phản đối nhà Ngô đàn áp Phật giáo.  Các hãng thông tấn, các phóng viên trong và ngoài nước đến quay phim, chụp hình, ghi âm, phỏng vấn rầm rộ.  Và sau đó nhà Ngô phải mang xe cứu thương đến rước Anh Hợp vào bệnh viện Grall điều trị, lại lót tay 500 ngàn đồng. Lâu ngày nhớ lõm bõm bài đó như sau:
                                                  “… Nấp vào bóng thiên  đàng ma túy
                                                    Hồn cố quên tục lụy nhớp nhơ
                                                    Quên đi cái kiếp bơ  vơ
                                                    Cơm  nhờ nhà thổ, thuốc nhờ  nhà thương
                                                    Nghe đàn áp nằm đường tuyệt thực
                                                    Nhà Ngô bèn bực tức gớm ghê
                                                     Phóng viên ngoại quốc chạy về
                                                    Nào là phỏng vấn xè  xè quay phim …” 
    >“Toàn quốc gửi tiền về giúp đỡ Anh Hợp qua nhật báo” Sống” do Chu Tử chủ trương. Anh Hợp “ ẵm bộn bạc” , bèn mời đệ đi ăn cơm tây, tắm hơi ở Chợ lớn, và đưa ra một ngàn bạc cho Trạng Đớp – nhưng Trạng Đớp từ chối không nhận, đáp lời:
- Tao đâu cần tiền, tao thích viết thi tao viết, vì tao thấy hành động tuyệt đẹp của mà. Thế thôi ! Tao nghèo như mày, nhưng vẫn khinh” thằng trọc phú”.
- Nghe rồi, Anh Hợp đọc ngay thơ Nguyễn Bính:
                                     “ Trọc phú ti toe bàn thế sự 
                                       Đĩ già tấp tểnh nói văn chương
                                       Đã coi đồng bạc to hơn núi
                                       Lại học đòi theo thói Mạnh Thường  “.
Hơn nữa, cái việc” tế sống” trên đất này ( hình như) chưa có ai nghĩ tới; thì ( chỉ) việc phát minh này ( thôi), cũng đáng giá ngàn vàng ( rồi )  ! …”
    Trạng Đớp chưa hết bất bình với Chàng Ngô, nhưng ý của tác giả không nói thẳng thừng ra.  Qua 2 câu thơ Chàng Ngô gửi Tam  Lang  trích dẫn trên kia, Trạng Đớp đặt câu hỏi  trực diện  : 
    “…-vì một dư luận không đẹp cho giới văn nghệ xứ này, ( chỉ qua) một câu” chửi tục” cho là “ đùa đi nữa, song đã  loan truyền khắp “ nước Sài Gòn”  ( rồi) ! (…).  (Vậy là ) cả làng đều được nghe” nó” chửi anh, ( vậy) anh nghĩ sao  ? Đây không  cần phải đến ban Tổ chức trả lời” đại huynh” , mà chỉ là cá nhân” đệ”. Bởi” đệ” là 1 trong” 4” người chịu trách nhiệm trước dư luận anh em trong làng” văn).  ( Vậy thì) xin” đại huynh” một lời giải thích: 
                                                “… Tam Lang anh hỡi Tam Lang ?
                                               “ Thằng Ngô”  nó chửi cả làng chúng tôi
                                                   Chắc có lẽ anh’ tồi”, anh”  hủi” ?
                                                  Nên  nó dám chửi :
                                                                             ” thằng này” láo ghê ?!
                                                    Xin anh vì nghiệp vì nghề
                                                                                        lý do
                                                                                               cho biết
                                                                                                     để” ghè thằng Ngô “…
Chuyện giai thoại văn chương  chẳng bao giờ hết chuyện,  từ xưa tới nay chẳng bao giờ hết chuyện đâu? Các cụ thời xưa chẳng từng nhắc”… viết chẳng bao giờ hết lời, còn lời có bao giờ nói hết ý ? “ sao ?!
3 “… Hiện nay Tam Lang không còn sáng tác được một tác phẩm văn chương nào, có thể tương đối gọi là gía trị- để tiếp nối sự nghiệp văn nghệ của mình. Sự viết lách của ông bây giờ - cũng như Thiếu Sơn-Lê Sỹ Quý-  chỉ là cách  ” kiếm cơm độ nhật “  qua những”mầu báo giá trị trong ngày …”  ( Lược sử văn nghệ Việtnam / Nhà văn hậu chiến: 1950-1956 / Thế Phong/ Saigon 1959)
  Đọc  lại nhận xét về Tam Lang cách đây đúng 39 năm - ( từ 1956 khi tôi viết sách nhận định văn học ) tôi nhận ra ngay :
”… vội vã, xốc nổi, hấp tấp, thiếu chin chắn.. lai “ rất bất công” nữa …!“
…  khi bàn về sự nghiệp văn học rạng rỡ - một trong ba nhà phóng sự tài danh hàng dầu tiền chiến ?! ( Tam Lang là 1  trong bô 3  họ Vũ ). Tôi không thể “ bắt voi bỏ giọ”, kết luận  hời hợt, vu vơ về sự nghiệp phóng sự to lớn của Tam Lang- Vũ Đình Chí như vây được ?!
Chỉ cần đọc lại  toàn bài diễn  thuyết” Cuộc đời làm văn, viết báo từ 1932- 1971”, Tam Lang kể lại thật nhiều chi tiết cảm động  - nào chuyện áp bức, chống tham quan, ô lại, phản quyền lợi tổ quốc (….)…Tam Lang đã  dùng ngòi bút sắc bén diễn tả bằng một giọng văn châm biếm, tế nhị ( để) đả kích mặt trái xã hội, lên án mọi bất công gây ra bởi lớp người này với người khác …”
Đó là nhận định về Tam Lang qua  Thượng Sỹ  - một nhà phê bình văn học nổi tiếng tiền chiến, một cây bút bình luận văn học báo” Tin Mới”- bây giờ gần 90 tuổi lại chưa có một tác phẩm nào được in thành sách.
Thượng Sỹ đặt câu hỏi, vậy quan niệm viết văn Tam Lang ra sao ?    Cây bút ấy phải có lương tâm nghề nghiệp, bởi đó là điều tối ư cần thiết.   Viết báo phải trung thực, không thể nói dở thành hay, hay thành dở, đen phải ra đen,  nếu đổi trắng ra đen, thì dầu  có biện minh thế nào đi nữa vẫn đáng khinh. – và chỉ được coi  trọng, đáng kính – khi  cây bút ấy thật sự hiểu công việc viết báo là phơi bầy được đúng sự thật vì công chính.  Thật rõ ràng vậy , nên Tam Lang đã theo gương của  một nữ nhà báo Pháp, Maryse Choisi, tự khoác  vào mình thân phận một con điếm ,để viết được một tác phẩm trải nghiệm bằng kinh nghiệm bản thân : hai tay  phu-xe-kéo cầm hai càng xe chạy kiếm khách đổ mồ hôi trán hạt lớn, hạt nhỏ…
Tam Lang  bỏ nhà, xin  đi làm báo. Được chủ nhiệm chấp thuận, Tam Lang  vào” bộ ” một phu- xe- kéo – đến nhà Cai xe thuê chiếc xe kéo, hai tay cầm hai càng xe, lao ra đường kiếm khách.  Có đêm chạy suốt,như để tự hành  hạ bản thân , và có được cảm giác thật sự của kiếp sống nhọc nhằn một  phu- xe -kéo chuyên nghiệp.  Sau đó, một phóng sự điều tra xã hội về phu - xe -kéo được đăng tải trên” Ngọ báo” nhiều kỳ .( chủ nhiệm Bùi Xuân Học).  Đăng báo xong, sách đươc in ra, trên đầu trang tác giả ghi :
                                               “ Kính tặng:
                                                 Ông Bùi Xuân Học, chủ nhiệm” Ngọ Báo” ,
                                                 người đã đội lên đầu tôi chiếc nón phu xe kéo”.
                                                                                                                      T.L.
.. sau khi sách phát hành, tác giả đọc được bài báo , gật đầu tán thành lời bình sắc sảo của Vũ Ngọc Phan :
 “….dù những nhân vật được mô tả trong thiên phóng sự “ Tôi kéo xe” đã là những xác chết thối tha, người ta cũng cần thấy cần phải khai quật cả lên, nếu người ta cũng chung quan niệm với Vũ Ngọc Phan- nhà phê bình văn học đã ghi lại trong” Nhà văn hiện đại” câu này : “…Không có lối văn nào giúp ích cho việc cải cách, cho nhà đương chức pháp luật, và cả nhà xã hội học bằng các thiên phóng sự ….”
Năm 1971,  “ Tôi kéo xe” tái bản, vì tập phóng sự xã hội này được đưa  vào chương trình học lớp 8 ( 8/12) miền Nam – bây giờ thân phận phu-xe-kéo đã được đổi mới khác hẳn –   tác giả tự đánh giá:
“…( chỉ) hơn 10 năm sau, khi tập phóng sự” Tôi kéo xe” xuất bản, trên toàn quốc không còn bóng dáng chiếc xe kéo nào nữa, và hơn 30 năm sau, với chính sách chủ xe được phép mua xe trả góp , thành tư hữu, để làm phương tiện sinh sống; chế độ cai xe tuy hành nghề.   Từ ngày ấy đến nay, tính ( ra) đã được ngót thế kỷ- tôi thấy đạt được một  phần ước vọng đó, nhưng ( vẫn) là một phần nhỏ, chẳng thấm tháp gì….”.
Kể từ 1942 , lời  bình Vũ Ngọc Phan  về “ Tôi kéo xe”  - thì những năm trước đó –Trương  Tửu, Hoài Thanh đã có nhận xét về tác phẩm phóng sự độc đáo ấy trên “ Tiểu thuyết thứ bẩy “( Hoài Thanh ), báo “Loa”( 1938-  Trương Tửu,).
Qua bút danh Nguyễn Bách Khoa, Trương Tửu   viết nhiều bài viết  phẩm bình “ Giọt lệ sông Hương”, “Một đêm trước,”” Đời niên thiếu “…-  riêng” Tôi kéo xe” –  thì hết lời ca ngợi tác giả :
“(…)… ” Tôi kéo xelà quyển tiểu thuyết tả chân giá trị nhất trong văn học Việtnam hiện đại – bởi lẽ Tam Lang đã thu góp chất liệu sống cực khổ, nhọc nhằn của phu xe kéo, tác giả biết loại bỏ những đoạn kịch trá hình (  détails mélodramiques )  để làm gì ?  Để nhìn rõ : trong cặp mắt sâu hoắm như hai cái lỗ đáo ở chiếc đầu lâu,  anh ta để rơi xuống đất mấy giọt nước mắt khô khan như pha lẫn máu.  Những tình tiết ấy tạo thành cuốn tiểu thuyết ông có trí tưởng tượng của một thi sĩ, ông có ( sự) bình tĩnh của một  nhà báo- với 3 đức tính  này, ông có thể trở thành một nhà văn đại tài…”.
  …đến Hoài Thanh, nhận xét về tác phẩm” Một đêm trước” của Tam Lang – Hoài Thanh cho rằng tác giả chuộng cảnh tả thực, qua sự ghê tởm thấy được, hơn là ghê tởm hình dung, tác giả đã sống trải nghề phu xe kéo-  nên khi tả về phu- xe- cao –su ( công nhân  được tuyển đi Tân Thế Giới làm đồn điền, trồng  cây cao su ) – thì Hoài Thanh rất tâm đắc với  “ lối nhìn’ của Tam Lang- và Hoài Thanh dẫn  chứng : 
“…trước mắt tôi, một bát canh bò bốc khói lên ngùn ngụt, nóng sốt như thế nào mà tôi đoán chừng nó chẳng ngon lành gì cho lắm; vì trong bát canh  đục ngầu như nước cống, mấy khoanh lòng bò lều bều như nổi mấy xác chết đuối mấy đám hành răm …” ( Một đêm trước ) .
      … Hoài Thanh kết luận:
“…… ông Tam Lang không tìm cái ghê tởm ấy trong tưởng tượng, ông chỉ tả cái ghê tởm ( mà ) mắt ông trông thấy, cho nên lại càng làm cho người xem ghê tởm ! Tôi đã có dịp nhận thấy cái đặc sắc này của văn Tam Lang trong “ Một đêm trước “.
   .. lại không đồng tình cùng Trương Tửu – Hoài Thanh chê” Tôi kéo xe” có “ những đọan văn thừa “.
  Vậy đoạn văn thừa kia là đoạn nào, ở tác phẩm nào ?  Theo Hoài Thanh -  chính đoạn thừa là ” câu đề tặng  mà Tam Lang gửi ông chủ nhiệm” Ngọ báo” .
Kể ra Hoài Thanh khá  khắc nghiệt, lại phi lý nữa –  xét tận  cùng kỳ lý : ” nếu không có chủ nhiệm “Ngọ báo” Bùi Xuân Thành’ đồng tình cho đăng tải, trước khi in thành sách, hẳn là không thể có tuyệt phẩm ” Tôi kéo xe” được !? 
– kể  cả “  câu đề tặng” cũng  được Hoài Thanh soi mói - “nên , hay không nên có ?
”…kiểu soi mói “ bần tiện” – giả thiết thôi-  nếu đặt dưới lăng kính “ nhìn bởi ” Chế Lan Viên :  “…nhà phê bình khó trở thành nhà văn , nhưng nhà văn chỉ cần nghiên cứu ít lâu dễ trở thành phê bình ..”
(trích theo “ Phê bình trong cơ chế tự thỏa mãn trong văn học “ / Vương Trí Nhàn / Tạp chí “ Văn học và dư luận”, số 9/1991 xuất bản ở tp. HCM. ).Ở  đất nước ta, chỉ nói ở thời tiền chiến thôi – rất khó có nhà văn nào trở nhà phê bình văn học tài ba như André Gide được? Ấy là, tôi muốn bàn tới trường hợp André Gide viết sách phê bình văn học- nói về Fédor Dostoievsky. -(“một cuốn phê bình văn học tuyệt vời của  Gide!”).
Trở lại Hoài Thanh phê bình” Tôi kéo xe’ – Hoài Thanh nhận xét về cái nhìn “ ghê tởm cảm thấy được trong đội ngũ phu-xe-kéo “:
…” Tôi kéo xe “ vẫn là tập phóng sự giá trị. Tác giả đã làm cho ta nghe thấy những điều ở ngay trước mắt ta, bên tai ta, mà ta không nghe thấy …”
Trên kia vừa  trưng dẫn vài ý kiến các nhà phê bình văn học tiền chiến – vậy “ thời hậu chiến”  nhận xét về “ Tôi kéo xe’  ra sao ?
Tam Ích, nhà phê  bình văn học khuynh hướng mác xít ở miền Nam  - ông khởi nghiệp viết từ 1945, chủ soái nhà  xuất bản” Chân trời mới “ ( với Thiên Giang và Thê Húc-Phạm Văn Hạnh ) - Tam Ích nói huỵch toẹt, rất không đồng tình với Hoài Thanh lên án “ ông Bùi Xuân Học được” Tam Lang đề t ( sách ) - là chụp cái mũ phụ xe lên đầu Tam Lang’ là thừa ? … vẫn theo Tam Ích  lý giải :”… bởi Hoài Thanh không thể hiểu được cái” altitude zéro” mà thôi ! “:
“…” Tôi kéo xe” vẫn hay như xưa. Cho có uất lên , thì cái uất cũ rất là trần truồng – altitude zéro.” (in chữ đậm - TP). Khi tâm sự bối rối thì hỏi mình một cách trắng trợn.  Tại sao tôi lại chịu kéo người ? Thật lúc chính tôi cũng không biết : đó là một câu hỏi
( của) mình vào lúc  đầu, sau khi ông Bùi Xuân Học chụp cái mũ lên đầu Tam Lang ! Cái ý của câu hỏi đem ra hỏi tâm tư, lại cũng ở” altitude zéro”..?
Xem ra chỉ phê  về một việc nhỏ : “… cái mũ được chụp lên đầu Tam Lang cũng rắc rối việc ?!”. Với Hoài Thanh là” thừa”- Tam Ích  thì” phải lắm”, còn hay là khác , hay một cách tự nhiên, sống dộng, trần truồng, không cần thêm bớt, màu mè mà vẫn hay !... “
4 .-Bàn về nhân cách trong văn chương nhân bản Tam Lang -  qua một chuyện thật trong đời tác giả , tác giả không muốn ai biết. Và không có ngày 20-4-1971 - tại  giảng đường Đại học Văn khoa  ( Saigon)  - giáo sư Thanh Lãng mời tác giả tới diễn thuyết- hẳn  chuyện tình nhà văn phóng sự kỳ tài sẽ được giấu kín mãi mãi.
Tác giả cho rằng nhà văn rất cần có nhân cách ở ngòai đời thường, thì mới phản ánh được nhân cách ấy trong nhân vật văn chương được.
 Tam Ích rất tán dương quan niệm ấy  , một khi đem áp dụng vào đời viết văn Tam Lang. Ông  phê : ” Thật hay tuyệt !”.
 Đó là sự  trung thực ngay đối  với chính bản thân, tránh được tình trạng :  “ hãy làm theo lời tôi nói, đừng theo sự tôi làm “và, cũng  là điều tôi dẫn chứng; “ đời sống riêng tác giả và văn chương là một “…
Câu chuyện kể dưới đây, giữa tác giả và Ngô Văn Mậu ( phóng viên, đồng nghiệp) – có một buổi , ông  Mậu đi nhặt tin các quận , rồi trở về tòa soạn - còn Tam Lang ở nhà biên tập viết lại tin  đăng báo .
Một buổi khác ,  phóng viên Mậu đi nhặt tin, lại không có tin  - thư ký tòa soạn Mai Du Lân mắng nhiếc  phóng viên lười biếng  thu nhặt tin tức, kể cả “ tin chó chết “.Phóng viên Mậu cho  biết toàn thành phố Hà Nội bữa nay chẳng có chuyện gì xảy ra,  thì lấy đâu ra‘ tin với tức, dù là tin” chó chết” “- chẳng lẽ phóng viên muốn có tin giật gân để đăng -thì” đút cẳng” vào bánh xe ô tô để có tin chăng ?”  Điều qua tiếng lại, Mai Du Lân ỷ quyền chức vụ lớn, chửi mắng  phóng viên Mậu:”..  cho rằng cậu có đưa đầu vào xe ô tô thì vẫn chỉ là tin vặt, loại “ tin tức chó chết” mà thôi !“.
Tam  Lang chứng kiến, ức lòng,  bênh đồng nghiệp, bèn đứng phắt dậy, ném mạnh cán bút xuống bàn để phản đối –tên quản lý kiêm chủ báo Mai Đăng Đệ ngồi gần đó ra mặt bênh cháu ( Mai Du Lân) chêm một câu: “… chó chết vị tất đã hết chuyện !”
Tam Lang thấm thía  câu nói kia , cho đây là bài học nghề nghiệp cần  khắc ghi trong nhật ký: “…gieo vào đầu óc tôi một cảm nghĩ miên man, mà tôi cho là có giá trị của bài học khôn ngoan nghề nghiệp “.
Cả tòa soạn  – phóng viên, biên tập phản đối , bỏ việc không cộng tác với báo” Thực nghiệp” nữa. Riêng Tam Lang  mất 15 đồng lương hàng tháng, gia đình túng quẫn tài chính. Dầu vậy buổi tối, ông vẫn theo học Pháp văn, và không chịu được cảnh gia đình nói vào, nói ra - ông lẩn tránh tới nhà một bạn quen xin ở nhờ. Chủ hiệu Trực Thành, mở cửa hàng bán xe đạp  ở Place Négrier ( Cửa Nam bây giờ ) Chủ tiệm Tiết Hiếu Trung tính tình quảng giao, tuy bán xe đạp lại  có máu “ văn nghệ”.  Trung dành ngay cho bạn một phòng riêng, buộc bạn phài viết xong một  cuốn  tiểu thuyết, cốt truyện do Trung kể lại . Trung  nói với bạn - cơm hầu nước dót, đệm ấm, giường êm, nhưng cửa  khóa  hàng ngày – chỉ khi nào viết xong cuốn tiểu thuyết này mới được  tự do. 
Câu chuyện kể lại  đời sống một cô gái gốc Huế- người nhân tình cũ Tiết Hiếu Trung – bị cha mẹ cô gả bán   cho gia đình thượng quan triều đình Huế.  Trung hứa  viết xong bản thảo, cuốn tiểu thuyết  sẽ được in ngay, phát hành trên toàn quốc, tiền bạc  do chủ tiệm lo chu toàn.

Vậy là” Giọt lệ sông Hương” ra đời. Tác giả chưa sống ở Huế bao giờ - bây giờ truyện  có bối cảnh ở Huế thì làm sao đây ? Tiết Hiếu Trung  trả lời , chuyện này đã có Vệ Lan ‘ cố vấn” . Lần đầu Tam Lang  nhìn thấy vợ Trung, đã khen thầm, đó là : ” một giai nhận tuyệt sắc !”.
Vệ Lan  được chồng  giới thiệu, nàng cầm bút vẽ sơ đồ phố xá cố đô Huế, nào đây sông  Hương, kia núi Ngự, xa hơn  Vườn Tĩnh Tâm, thôn Vỹ Dạ, cửa Thượng Tứ,  quán Âm Hồn .. vv.. tâm tính dân xứ Huế ra sao được Vệ Lan  kể vanh vách, rành rọt cho nhà văn nhập tâm.
Tam Lang nghĩ ngay đến thể ”văn biền ngẫu” sẽ được dùng trong cuốn tiểu thuyết này, nhà văn ghi ngay tiếng tây lên giấy” parallélisme littérature “ cùng tựa truyện tình” Giọt lệ sông Hương”.
Mỗi khi viết xong một  đoạn, Tam Lang đọc , Vệ Lan nghe, nước mắt nàng giàn giụa, thông cảm “ mối hận tình”  của chồng , và nàng” ới” ngay chồng lên phòng văn cùng thưởng thức . Vệ Lan  quan sát  nét mặt buồn rượi, khi chồng nghe đoạn  văn  vừa đọc, hẳn chồng  nàng còn nặng lòng với giọt lệ sông  Hương chảy vào triều đình quan cách.
Tác phẩm viết xong, năm sau Tiết Hiếu Trung bỏ vốn  in – sách in xong, Trung trao cho Tam Lang 50 cuốn để tác giả tặng báo chí, bạn bè – bản thảo” gốc’ Trung cho đóng gáy da, chữ mạ vàng giữ làm kỷ niệm. 
Và cũng từ đấy, chuyện tình âm thầm giữa Vệ Lan và tác giả “Giọt lệ sông Hương” xảy đến.   Vệ Lan bắt đầy “ yêu thực sự”  tác giả- bằng cách thêu một tấm khăn nhỏ lụa trắng   với hàng chữ” Giọt lệ sông Hương , chắc anh không ngờ giọt lệ châu của Ngọc đã đổ ra suốt một năm trời “.  Vệ Lan dùng khăn này lau nước mắt, và dặn :” …đừng cho Trung biết chuyện này . Lan xin anh giữ kín để làm kỷ niệm của Lan “.
Ở giữa trang sách, Vệ Lan gài  ảnh chân dung chụp nghiêng, với lời : ” đề tặng Tam Lang”- dưới hàng chữ ghi thêm “…dáng đứng nghiêng nghiêng trên lan can căn gác nhìn ra đường “.
Tác giả nhìn thấy khăn, bàng hoàng, vội vã tìm gặp Vệ Lan- khi  nhà văn tới trước cửa phòng , định đưa tay  vào quả đấm – bỗng trùn tay  buông ra, ngập ngừng không dám xoáy vặn quả đấm nữa.   Tác giả bỏ ra ngoài,  một mình lang thang, suy nghĩ vẩn vơ vào một đêm khuya dưới trời mưa  phùn  Hà Nội.
Đó là chuyện tình giấu kín tác giả” Giọt lệ sông Hương” từ bao năm trước – nay hé mở toang trước  đám sinh viên Văn khoa  Saigon của mấy chục năm sau.
  Từ 16 giờ  30, ngay tại giảng đường mang số P-202, sinh viên Văn khoa ngồi chen chúc, chật ních chờ đợi buổi nói chuyện của nhà văn phóng sự kỳ tài tiền chiến: Tam Lang- Tôi kéo xe.  Một số sinh viên tới trước có ghế ngồi, còn lại đều đứng hàng  một dọc theo hành lang . 
Tôi tự hỏi:”  .. nếu không có giáo sư-nhà phê bình văn học Thanh Lãng biết gía trị văn phóng sự Tam Lang, hẳn rằng bữa nay chúng ta sẽ không có một” tư liệu văn học” rất qúy giá này, bởi lẽ tác giả không tự bạch, làm sao ai biết ?..” 
Đó là nhân cách đáng  trân trọng của tác giả, rất đáng ngợi ca- bởi  trước đây,  khi đưa tay vào quả đấm định mở cửa phòng  Vệ Lan – rồi ngưng - bỏ ra phố lang thang tác giả, và đó cũng là” nhân bản  trong văn chương  Tam Lang” cũng bắt đầu khởi nguồn  ở điểm này.
Rồi sau hơn 10 năm lưu lạc- một ngày kia- tác giả nhận được một cánh thiệp từ Sài Gòn gửi ra Hà Nội trước 1954 .( tôi đoán chừng, khi ấy, tác gỉa đang nắm chức vụ chủ bút nhật báo” Giang sơn”( chủ nhiệm: Hoàng Cơ Bình).
Mặt sau cánh thiếp có  4 câu thơ:
                                “… Yêu nhau chỉ biết là yêu
                                     Có bao giờ nghĩ  đến điều dở dang
                                     Mười năm mưa gió phũ  phàng!
                                     Để ai nát Ngọc tan vàng vì  ai ?”
Chính là Vệ Lan năm xưa ở Huế rồi !Vệ Lan với tên thật” Đào Thị Ngọc.
Sau này, tác giả biết thêm Vệ Lan đã vào Saigon làm” thứ thất” cho một vị quan đứng đầu chính phủ khi ấy.
Nhớ lại khi Vệ Lan sống cùng chồng Tiết Hiếu Trung ở Huế, được chồng giới thiệu với Tam Lang, mối tình câm bắt đầu nẩy nở, rồi lụi tàn  âm thầm. Đào Thị Ngọc yêu thầm, giấu trộm nhà văn- nàng nhớ lại chồng cũ nước mắt giàn giụa sau khi nghe nhà văn đọc một đoạn truyện mới viết xong- nàng đã ghi khắc hình bóng nhà văn từ khi ấy. Không được đáp trả, sau  nàng ly dị chồng vào  Nam, làm” thứ thất” một thượng quan đứng đầu chính phủ Quốc gia, sau nàng bị bệnh hoạn, lại từ chối vào bệnh viện  Grall , qua đời ở một nhà” thương thí” tự nguyện-   với 4 câu thơ gửi” người tình cũ”. Chuyện tình chưa được viết ra ấy chẳng kém gì chuyện tình viết lối” biền ngẫu” “Giọt lệ sông Hương !”
Tam Lang cầm tấm thiệp với 4 câu thơ của Đào thị Ngọc- lại không quên lần bà Ngọc đến tìm tác giả ở nhà một người bạn, có phương danh  là Chính. Giữa buổi trưa, Tam Lang đang ngủ bỗng giật mình – bởi  cánh tay “ ai đó” ôm chầm lấy, đặt lên môi  ông nụ hôn  nồng nàn. Mở mắt ra, đó là Vệ Lan- Đào Thị Ngọc- vợ cũ Tiết Hiếu Trung. Mặt nàng bữa ấy có vết máu bầm đọng, chuyển màu tím bồ quân- bởi nàng  ’ bị đòn thù” chồng cũ.
Một lời giải thích:
“(…)- việc ( này) không thể thực hiện được”, vì trên tình cảm của tôi còn có pháp luật, của tòa án, và lễ giáo gia đình( nữa)…
Nàng vụt  đứng lên, vẻ căm hờn, bước ra khỏi phòng, không thèm chào tôi và( ca Chính nữa, cũng không( thèm) lau nước mắt..( đang rơi trên ám nàng)…  “
Đó là tác giả Tam Lang- Vũ Đình Chí ; một trong 3 vị viết phóng sự lừng danh tiền chiến, mà Tam Ích từng gọi là ’ ba  thằng họ Vũ”.

Chẳng biết buổi sinh thời, nhà văn phóng sự kỳ tài Vũ Trọng Phụng có làm thơ  ký  bút danh Thiên Hư không ? hay cô Hoàng thị Trâm ( một bút danh khác  Vũ Bằng)  có múa bút làm” thơ tình” ?  Không ai được biết điều này” có’ hay” không” ? Còn lại một chàng  tên VŨ Đình Chí, bút danh Tam Lang đã từng có bài thơ tặng Vệ Lan:

                                        “…Yêu nhau, năm tháng cách xa nhau
                                           Ngấn lệ chưa khô đã bạc đầu
                                           Một sớm em đi, tình đã lỡ
                                           Trọn đời anh chịu kiếp thương đau ! “
Lại phải nhớ tới  Tam Ích thôi - “Tam Lang : 1 trong’ ba thằng họ Vũ”- Tam Ích khen Thanh Lãng và Phạm Việt Tuyền    bởi” chàng” được Tam Ích   khen hết lời, hết nhẽ:
“… Thanh Lãng và Phạm việt Tuyền in lại” nó “: ( đây là” Tôi kéo xe ? Tam Lang- TP chú thích)  thật cũng đã là những người tinh đời. Chứ ai in lại mấy cuốn dở -  dở là dở bút pháp ấy. Ai dám nói bài” Phở” của Nguyễn Tuân viết sau này là” dở’ ? Đã có Jérôme Lindon nói rằng một nhà văn lớn là nhà văn “ renouveler” nếp viết và suy tư của mình, chứ không sùng bái người mình đã biết rồi. Hình như Lindon nói về Samuel Beckett ..”(…) Tôi đã chuộc, vì văn anh vẫn hay . ( Tam Lang- TP chú thích) Đó là điều quý nhất. Mọi chuyện là thứ yếu …” ( 14)  ”.
Khi Tam Ích  thấy”  Tôi kéo xe” được tái bản , Tam Ích lầm tưởng là ‘ con mắt tinh đời của chủ biên” Cơ sơ Tự do” in ấn . Thật ra Tam Ích” khen” lầm “Cơ sở Tự do” cùng chủ biên Phạm Việt  Tuyến “ có con mắt tinh đời” khi thấy “ Tôi kéo xe” tái bản . Chính xác hơn,” Tôi kéo xe’ được đưa vào chương trình học lớp 8 ( ban trung học miền Nam), thì nhà xuất bản Sống Mới liền cho” tái bản “ ngay để bán cho “thầy và trò dạy và học văn  Tam Lang”.
Tam Ích, nhà phê  bình văn học hậu chiến thông minh – nhà viết sách chính luận sắc sảo-  viết bình luận “khen” hoặc” chê”, “ đúng nhiều”, “ sai ít -  nhưng rất hết lòng:
“…Tôi đã chuộc, vì văn anh vẫn hay; đó là điều quý, ích.Mọi chuyện khác chỉ là thứ ` yếu ….”
(Lần gặp anh- ở nhà tôi thuê,  351 / 1… Trương Minh  Giảng   (Saigon 3)  - tôi  nói đùa : ” Vous êtes jusqu’auboutiste , Mr Tam Ích !”.) ( sau  anh  thắt cổ tự vẫn ở gác  trọ đâu đó, gần Nhà thờ Nguyễn Thiện Thuật, Saigon 3).
Còn tôi- viết bài  này  về Tam Lang, đó cũng là”  tôi đã chuộc  … “tội”… . ( nói theo kiểu Tam Ích) - đây là chuộc tội của một người trẻ 25 tuổi viết phê bình văn học, hình như tuổi này viết phê bình văn học hơi quá sớm thì phải ?  Đúng ra,  tôi chẳng có ý viết “phê bình văn học, văn hiếc” – và bộ” Lược sử văn nghệ Việtnam : 1900-1956”( 4 tập) - chỉ là kết quả khi đọc các tác phẩm văn học tiền chiến, kháng chiến, hậu chiến, sau cùng viết tổng kết 60 năm văn nghệ- để làm vốn đời văn của tôi ở bước đầu mà thôi.
Riêng với “ nhà phóng sự kỳ tài tiền chiến Tam Lang “, tác giả tác phẩm” tuyệt hay” ‘Tôi kéo xe” – đó là lời tạ tội chân thành đối với bậc trưởng thượng.
Bởi lẽ, trước kia tôi  rất hồ đồ khi nhận định về sự nghiệp văn chương- phải thế này thế kia- là” láo toét” ; hoặc tại sao thời hậu chiến , ông chỉ viết báo lăng nhăng kiếm cơm, giá trị trong ngày – hoặc không có một tác phẩm nào để đời ? vv…
Vẫn theo chân Tam Ích , cần “ renouveler” – tôi cũng phải” làm mới lại”  câu văn  xưa kia viết rất chưa chin chắn, lại vội vã, mơ hồ…bằng một cuốn sách nhỏ bé ra mắt bạn đọc:

 Cuộc đời viết văn, làm báo

  TAM LANG – TÔI KÉO XE (*)


__________________________________________________________________
 (*) ‘ Cuộc dời làm văn, viết báo:
Tam Lang- Tôi kéo xe / Thế Phong

Nxb Văn hóa – Thông Tin  / Hà Nội 1996 - Nxb Đồng Nai,(miền Nam)  /  2004.
 

ĐƯỜNG BÁ BỔN



© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật theo nguyên bản tác giả gởi ngày 27.03.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com

MƯỜNG GIANG * HỒ CHÍ MINH BÁN PHAN BỘI CHÂU

HCM Bán Đứng Phan Bội Châu Cho Thực Dân Pháp Trên Đất Trung Hoa Năm 1925
Mường Giang 


- Kính tặng Quý Ân Sư và Anh Chị Em TH.Phan Bội Châu - Phan Thiết - Riêng Mai Minh, Pham Thái, Khai Trinh, Anh Vũ, Trường, Dung..

Về huyền thoại xuất dương cứu nước, cận sử VN trong thế kỷ XX có nhắc tới bốn nhân vật : Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Tất Thành và Ngô Đình Diệm. Ngày nay qua sử liệu chúng ta đã biết rõ chân thực chính ai mới là người thực sự ra nước ngoài cứu nước. Trong bốn người, cả Phan Chu Trinh và Ngô Đình Diệm mất thình lình nên chưa biện bạch hành động cùng chuyến đi của mình. Phan Bội Châu trong tự phán đã viết lời thành thật xin lỗi quốc dân, sự thất bại trên con đường cứu nước. Duy nhất chỉ có Hồ Chí Minh thì tự viết sách huyền thoại hoá với mình, để bóp méo sự thật: Ra đi đề tìm phương tiện hợp tác với giặc Pháp, để mưu sinh và giải quyết kinh tế gia đình mà thôi.

* HUYỀN THOẠI PHAN BỘI CHÂU, XUẤT DƯƠNG CỨU NƯỚC:

Là một nhà nho tiêu biểu cho giới sĩ phu yêu nước, Phan Bội Châu đã ném danh lợi phù phiếm vào trời đất mông mênh, để chọn cho mình một cuộc sống phi thường, dấn thân đấu tranh cho dân, cho nước, theo đúng truyền thống ngàn đời của thanh niên kẽ sĩ thời đại:

'Nhân sinh tự cổ thùy vô tử?
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Những sử gia chân chính xưa nay khi luận anh hùng, thường không chú trọng đến sự thành công vật chất, mà chỉ quan tâm đến các giá trị tinh thần. Bởi vậy trong dòng sông lịch sử Hồng Lạc, từ buổi bình minh dựng nước thời tổ Hùng Vương cho tới hôm nay, ta thấy ngoài những minh quân, hiền tướng như Lý thánh tông, Trần nhân Tông, Lê thánh Tông, Lý thường Kiệt, TrầnHưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung đã tạo nên những chiến công hiển hách, lưu danh thiên cổ. Bên cạnh đó, còn có không biết bao nhiêu anh hùng liệt nữ, cũng đã hy sinh cho Tổ quốc dân tộc. Họ là Hai Bà Trưng, Bà Triệu, là Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Trương Định, Thủ khoa Huân, Phạm hồng Thái, Cô Giang, Nguyễn thái Học...là Phan Chu Trinh, PhanBội Châu và mới nhất có Trần văn Bá,Võ Đại Tôn, Hoàng Cơ Minh, Trần Thiện Khải, Lý Tống...tất cả không thành công, nhưng thành nhân, danh thơm muôn thuở, khí phách hiên ngang, đáng được đời ngưỡng mộ.

Trong hàng ngũ anh hùng liệt nữ trên, Phan Bội Châu qua tâm khảm của nhiều người Việt Nam, là một chiến sĩ yêu nước tha thiết, nồng nàn, một nhân vật lịch sử kiệt xuất, gạch nối giữa hai phong trào văn thân và Duy tân, cùng có chung một mục đích trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc,vào đầu thế kỷ 20.

* NGHỆ AN QUÊ HƯƠNG CỦA PHAN BỘI CHÂU VÀ HỒ CHÍ MINH:

Cùng sánh vai với Thăng Long, kinh đô cũng là chốn ngàn năm văn vật, hai tỉnh Quảng Nam và Nghệ An, bao đời đã sản sinh ra nhiều danh nhân của dân tộc. Nghệ An xưa nay vẫn là một tỉnh lớn và quan trọng nhất nhì của VN, nằm về phía bắc Trung phần, giáp giới với Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Lào và Đông Hải, hiện tại có diện tích là 16.487 km2 với dân số 2.858.265 người, nhiều núi, ít bình nguyên nhưng lại có một hệ thống sông rạch chằng chịt. Vì là miền đất cổ của Văn Lang, nên Nghệ An có rất nhiều di tích lịch sử như đền An Dương Vương, Mai Hắc Đế, thành Lục Niên, Phượng Hoàng Trung Đô.

Ngoài ra, Nghệ An còn nổi tiếng khắp nước vì đã sản sinh ra nhiều anh hùng, liệt nữ và những tài danh văn học như Phan Bội Châu (Nam Đàn), Đặng nguyên Cẩn, Đặng thái Thân (Hải Côn), Phạm hồng Thái (Hưng Nguyên), Hồ tông Thốc, Dương doản Am (Quỳnh Lưu), Hồ sĩ Dương (Hoàn Hậu), Nguyễn trường Tộ (Hưng Nguyên), Nguyễn xuân On, Hồ xuân Hương...sông núi anh linh đã hun đúc nên nhiều anh hùng liệt nữ, những tài hoa nghệ sĩ hiển hách muôn đời.

Theo Nguyễn Thiện Chí, viết qua lời kể của Đại Tá Phan Thiện Cơ thuộc Quân đội Bắc Việt, cũng là cháu đích tôn cụ Phan bội Châu, đăng trong Kiến thức ngày nay số 50, xuất bản tại Sài Gòn ngày 15-12-1990, thì trong thời kỳ cải cách ruộng đất ở miền bắc năm 1955, đội cải cách địa phương đã qui tội Cụ Phan thuộc thành phần giai cấp địa chủ theo lối tam đoạn luận, nghĩa là cụ Phan đỗ đạt cao, mà học cao thì phải giàu và giàu là địa chủ. Cũng may Cụ đã chết từ lâu nên thay vì lôi ra đấu tố, nhà nước chỉ đem bức ảnh của Cụ treo trên bàn thờ xuống để ở chuồng trâu. Cuối năm 1955, Đảng sửa sai chính sách cải cách ruộng đất, nhờ vậy Cụ Phan được xóa tội địa chủ, cường hào nên bức ảnh được phép treo trở lại trên bàn thờ cũ. Oi đau đớn cho những người yêu nước.

*THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA PHAN BỘI CHÂU:

Từ sau những cái chết oanh liệt của các lãnh tụ chống Pháp như Cao Thắng, Phan Đình Phùng, Đinh công Tráng, Mai xuân Thưởng và nhất là việc Vua Hàm Nghi bị tên Trương quang Ngọc bắt giao cho Pháp và bị đày ải sang tận Phi Châu, thì phong trào Cần vương coi như đã thất bại, dù trên rừng núi Yên Thế, Hoàng Hoa Thám và nghĩa quân vẫn tiếp tục chống giặc thù, trong tình thế tuyệt vọng. Nhưng dân tộc Việt Nam muôn đời luôn có truyền thống bất khuất trước kẻ thù xâm lăng, nên lớp này vữa ngã xuống, lập tức đã có ngay thế hệ khác đứng dậy thay thế, để tiếp tục con đường tranh đấu dành độc lập cho nước nhà. Từ đầu thế kỷ 20, khắp nước nở rộ lên một phong trào đấu tranh mới, cầm đầu bởi một tầng lớp sĩ phu nho giáo đầy nhiệt huyết và thức tỉnh trước chiến công hiển hách của Nhật Bổn đã đánh bại Thanh triều và Nga Sô.

Trong bối cảnh đó, dù cùng chung lý tưởng là đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi Đại Việt, nhưng trong phương cách hành động vẫn có nhiều khác biệt, như có người thì chuẩn bị võ trang tiếp tục đánh Pháp, trái lại có kẽ chủ trương tranh đấu công khai với kẻ thù bằng cách mở mang dân trí, chấn hưng công thương nghiệp, lập hội đòi dân chủ. Tóm lại, đó là chủ trương của hai nhóm kháng Pháp: cải cách và bạo động.

Trên thực tế, Phan Bội Châu là lãnh tụ cũa phong trào chống Pháp bằng phương cách bạo động nhưng đồng thời cũng ý thức được tác dụng hữu ích của phong trào cải cách, vì vậy Ong đã sử dụng cả hai phương thức đấu tranh trên và được cả hai phái cũng như toàn dân quí trọng, tin tưởng. Trong hàng ngũ các sĩ phu dấn thân vào con đường cứu nước lúc đó, đều là những nhà nho trẻ và khoa bảng nổi tiếng văn hay, chữ tốt, bởi vậy họ đã dùng văn chương để làm phương tiện tranh đấu. Trong số này, Phan Bội Châu viết nhiều nhất và tác phẩm của Ong đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quốc dân lúc bấy giờ.

Tóm lại trong suốt một phần tư thế kỷ 20, Phan Bội Châu được xem như là một nhà ái quốc lớn nhất, một ngôi sao bắc đẩu dẫn lối cho dân tộc trên đường tháo gỡ ách nô lệ của ngoại bang.

Trên văn đàn, thơ văn Phan Bội Châu tiêu biểu cho khuynh hướng yêu nước, phản ảnh trung thực cảnh quốc phá gia vong của một dân tộc, ý tưởng chẳng những mới mẻ mà văn phong càng hàm xúc, làm lôi cuốn mọi người, nhất là giới học sinh, thanh niên nam nữ. Sau này, nhiều người đã ví Ong với Văn Thiên Tường (1236-1282) đời mạt Tống, tể tướng cũng là một nhà thơ lỗi lạc của Trung Hoa, khi tìm hiểu tác giả qua bài chính khí ca:

thâm tâm nhất phiến từ châm thạch
bất chỉ nam phương, bất khẳng hưu

(lòng ta như mãnh nam châm, nếu không hướng về quê hương miền nam, về Tổ quốc thì ta vẫn chưa yên dạ)

tòng kim biệt khúc Giang Nam lộ
hóa tác đề quyên, đái huyết qui

(từ nay vĩnh biệt Giang Nam nhưng ta sẽ hóa thành Đổ quyên, kêu đến nhỏ máu để tự bay về chốn cũ)

sơn hà phá toại phong phiêu nhứ
thân thế phù trầm vũ đá bình.

(đất nước đang lúc nguy khốn, xơ xác như cánh hoa tơi tã, thân thế người dân trôi nổi dập dồn)

Cùng một cảnh ngộ chim lồng cá chậu như Văn Thiên Tường, từ năm 1926 Phan bội Châu bị Pháp giam lỏng tại Huế cho đến chết. Trước khi từ trần ngày 29-10-1940, Ong đã viết mấy lời vĩnh quyết để tạ tội với quốc dân, trong có đoạn: "Bội Châu từ xưa tới nay, đối với đồng bào đã không chút gì là công, mà lại tội ác quá nặng. Bây giờ tôi chết, thật là một tên dân trốn nợ.. đồng bào có thứ lượng cho tôi thì tôi mới yên bụng" Hởi ơi, hai thế hệ cách nhau mấy trăm năm, nhưng họ đã hội ngộ trên con đường xả thân vì nước.

Theo các nguồn sử liệu, Phan bội Châu thuở nhỏ có tên là Phan văn San, hiệu là Hải Thụ. Khi đi thi mới đổi tên là Phan Bội Châu. Trong thời gian hoạt động chống Pháp, thường ký tên Sào Nam Tử hay Thị Hán. Sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867 tại Đan Nhiễm, Đông Liệt, Nam Đàn, Nghệ An, trong một gia đình hàn nho. Thuở nhỏ nhờ phụ mẫu vốn là nhà nho, nên Ong được dạy dỗ chu đáo và đã thông thuộc một số bài trong kinh thi từ khi mới lên sáu. Ong nổi tiếng thần đồng, 13 tuổi trở thành đầu huyện, 16 tuổi là đầu xứ.

Trước cảnh quốc phá gia vong, ngày ngày chứng kiến quân Pháp lần lượt chiếm hết đất đai của VN từ nam ra bắc, đã nẩy nở trong ông tinh thần và tư tưởng yêu nước rất sớm, mà điển hình là bài hịch 'bình tây thu bắc' khi Pháp chiếm thành Hà Nội và các tỉnh khác ở Bắc Kỳ. Năm 1897, Ong vào Huế và nhờ bài phú 'bái thạch vi huynh' nên Phan bội Châu đã kết giao được với các vị khoa bảng nơi đất thần kinh như Nguyễn thượng Hiền, Phan chu Trinh, Huỳnh thúc Kháng, Trần quý Cáp, Ngô đức Kế, Đặng nguyên Cẩn và sau đó trở thành đồng chí trong suốt đoạn đường đấu tranh chống Pháp đầy hiểm nguy, gian khổ. Tại đây, ngoài việc được Tế tửu Quốc tử giám là Khiếu năng Tĩnh can thiệp để Ong được phép trở lại trường thi và đậu giải nguyên tại trường thi xứ Nghệ, ông còn được đọc nhiều tân thư của các nhà cách mạng Trung Hoa, Nhật Bản, làm nẩy nở con đường cứu nước mới.

Sau khi thân phụ qua đời, Phan bội Châu quyết lòng vứt bỏ lợi danh phù phiếm, dấn thân vào con đường cứu nước mà khởi đầu là sự liên kết với Ngư Hải Đặng thái Thân, sắp đặt ba kế hoạch lớn như liên kết với những sĩ phu trong phong trào Văn thân, Cần vương để tiếp tục mưu chuyện khởi nghĩa, tìm kiếm một minh chủ trong Hoàng tộc để liên kết các giới và chương trình đưa người xuất dương để học hỏi và xin ngoại viện. Tiến hành chủ đích trên, đầu tháng tư năm Giáp Thìn (1904), Phan bội Châu, Tiểu la Nguyễn Thành và một số lãnh tụ trong Duy Tân Hội tại Quãng Nam, đã đồng tâm, tôn xưng Kỳ ngoại Hầu Cường Để làm minh chủ. Phan bội Châu được giao phó trọng trách sang Nhật cầu viện, xin giúp đỡ phương tiện để chống Pháp.

Đầu năm At Tỵ (1905), lần đầu tiên Phan Bội Châu đã cùng với Tăng Bạt Hổ, bí mật đáp tàu từ Hải Phòng đi Thượng Hải, sau đó tới Thần Hộ (Kobé) và Yokohama (Hoành Tân). Tại đây nhờ gặp được nhà cách mạng Trung Hoa Lương Khải Siêu đang lưu vong vì chống lại triều đình Mãn Thanh, mà Phan Bội Châu được quen biết với các lãnh tụ chính trị nổi tiếng thời đó của Nhật như Tử tước Khuyển dưỡng Nghị (Inukaiki) và bá tước Đại Oi Trọng Tín.Tất cả đều khuyên Phan Bội Châu nên đưa Kỳ ngọại Hầu và các thanh niên có nhiệt huyết ra ngoại quốc du học, để mưu tìm con đường cứu nước hữu hiệu. Từ đây, Phan bội Châu bắt đầu sử dụng ngòi bút để làm phương tiện đấu tranh với kẻ thù.

Những tác phẩm như VN vong quốc sử (1905), VN quốc sử khảo (1908), hải ngoại huyết thư, kính cáo toàn quốc phụ lão văn, thư gởi Phan chu Trinh vừa giới thiệu cách mạng VN với các chính khách Trung Hoa, Nhật Bản, vừa có tác dụng kêu gọi đồng bào trong nước nhất tề hưởng ứng công cuộc cứu nước và quan trọng hơn hết là cổ võ thanh niên xuất dương du học. Tất cả những công việc trên được mọi người hưởng ứng nồng nhiệt, phong trào Đông Du nở rộ, nhiều thanh niên VN được theo học tại Châu võ học hiệu. Để giúp đỡ số du học sinh đông đảo trên, Phan bội Châu, Cường Để và các đồng chí lập Cống Hiến Hội, đặc trách việc du học của 200 thanh niên VN tại Nhật.

Trước sự lớn mạnh của phong trào Đông Du, thực dân Pháp lo sợ nên dùng thủ đoạn nhượng một số quyền lợi kinh tế tại Đông Dương cho Nhật, đổi lại nước này ra lệnh trục xuất hết người VN đang sống trên nước Nhật bắt đầu có hiệu lực ngày 10-7-1907. Trong nước tình hình chính trị biến động không ngừng, đầu năm 1908 nổi lên cuộc TrungKỳ dân biến, với các cuộc biểu tình của dân chúng Miền Trung, chống sưu cao thuế nặng, đồng thời là vụ các lính khố đỏ qua tiếp tay của Hoàng Hoa Thám, đầu độc các trại binh Pháp tại Hà Nội.

Cũng trong giai đoạn này, qua áp lực của Pháp, đầu tháng 8/1908 Nhật ra lệnh trục xuất hết du học sinh VN, làm một số trở về cố quốc nhưng phần lớn trốn sang Trung Hoa, cả Cường Để và Phan bội Châu cũng bị rời khỏi Nhật vào tháng 3/1909. Song song với bất hạnh trên, phong trào Duy Tân ở trong nước cũng bị đàn áp khốc liệt từ năm 1908-1910 nên gần như bị tan rã. Năm 1911, cách mạng Trung Hoa thành công, lật đổ được nhà Mãn Thanh, nhân cơ hội đó Phan bội Châu và các nhà cách mạng VN được Quốc dân Đảng Trung Hoa giúp đỡ nên đầu năm 1912, Việt Nam Quang Phục được thành hình.

Trong nước, Pháp giải tán các Hội kín ở Quảng Nam, trường Đông Kinh nghĩa thục Hà Nội, bắt giam các lãnh tụ như Phan Chu Trinh, Huỳnh thúc Kháng, Nguyễn Thành, Ngô đức Kế, Lê văn Huân rồi đày ra Côn Đảo. Riêng Đặng thái Thân tự tử ngày 11-3-1910 trước khi bắn hạ một tên mật thám Pháp.

Để tạo tiếng vang trong và ngoài nước, năm 1913 VN Quang Phục Hội, quyết định lên án tử hình toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut cùng với hai tên Việt gian là Tổng đốc Hoàng trọng Phu (con Hoàng cao Khải) và Tổng đốc Thái Bình Nguyễn Duy Hàn. Kết quả, chỉ có Nguyễn duy Hàn và hai sĩ quan Pháp bị chết. Để trả thù, Pháp xử bắn và tù đầy hàng trăm người, đồng thời lên án tử hình khiếm diện Cường Để, Phan Bội Châu, Nguyễn Hải Thần. Riêng toàn quyền Sarraut dùng tiền bạc và yêu cầu tổng đốc Lưỡng Quãng là Long tế Quang bắt giam Phan Bội Châu ngày 19-1-1914 tới tháng 2-1917 mới được thả khi Quang bị bãi quyền.

Cũng kể từ đó Ong bôn ba kháp nơi để mưu tìm con đường cứu nước kể cả việc liên lạc với Đại sứ Liên Bang Sô Viết tại Bắc Kinh năm 1920. Trưa ngày 1-7-1925 nhằm ngày 11-5 năm At Sửu, Phan Bội Châu vừa từ Hàng Châu đến Thượng Hải, thì bị mật thám Pháp bắt cóc và giải về Hà Nội. Trong Tự Phán, Phan Bội Châu cho rằng chính thư ký riêng của Ong là Nguyễn thượng Huyền (cháu Nguyễn thượng Hiền) bán tin cho Pháp, nhưng sau này có nhiều tài liệu lịch sử chứng nhận, kẽ bán tin cho Pháp bắt Phan Bội Châu để lấy tiền thưởng là Lâm đức Thụ và Lý Thụy (bí danh của Hồ chí Minh lúc đó). Trong nước, Pháp muốn thủ tiêu Ong nhưng mưu toan bị bại lộ nên đành phải đưa Phan bội Châu ra hội đồng đề hình Hà Nội xét xử với bản án khổ sai chung thân, lưu đày biệt xứ. Tuy nhiên vì sự phản đối quá quyết liệt của quốc dân VN cũng như áp lực từ nước Pháp, nên toàn quyền Đông Dương dành giảm án nhưng bắt ông giam lỏng tại bến Ngự, Huế từ năm 1926 cho tới lúc mãn phần năm 1940.

*SỰ DỊ BIỆT GIỮA PHAN BỘI CHÂU VÀ PHAN CHÂU TRINH TRÊN CON ĐƯỜNG CHỐNG PHÁP CỨU NƯỚC .

Xưa nay các tao nhân mặc khách cũng giống như những tơ lòng muôn điệu, thường gặp nhau nơi thơ nhạc, cung đàn. Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là hai nhà ái quốc hào hoa phong nhã trong dòng người yêu nước đầu thế kỷ 20, bởi vậy trên suốt đoạn đường đấu tranh cam go gian khổ, hai Ong luôn dùng văn chương, thi phú để làm phương tiên chuyên chở hoài bão của mình. Thơ của họ Phan đều thuộc loại ngôn chí, trong đó hai Ong đã gói ghém tất cả sĩ khí của những bậc vĩ nhân khi thực hiện các hành động đội đá vá trời. Tuy cùng là đồng chí, cùng quyết tâm đánh đuổi giặc Pháp xâm lăng ra khỏi bờ cõi Đại Việt nhưng quan niệm đấu tranh của hai chí sĩ đất Nam Đàn và Tây Lộc vẫn có nhiều dị biệt, chẳng những trên hành động mà còn bàng bạc suốt thơ văn.

++Quan niệm đấu tranh của Phan Sào Nam:

Là thủ lãnh của phong trào Đông Du, nhóm chủ trương dùng bạo động để xoay chuyển lại thời cơ, chống giặc cứu nước. Phan Bội Châu từ thời niên thiếu, đã chứng kiến được cảnh quốc phá gia vong, nỗi đau thương cùng cực của người Việt Nam mang ách nô lệ bạo tàn, vì vậy trong tâm khảm của nhà ái quốc đã nẩy nở những hoài bão lớn lao của kẻ làm trai, tung hoành ngang dọc, không bao giờ chịu khuất phục trước hoàn cảnh và số mệnh:

'Khác thường bay nhảy mới là trai,
Chẳng chịu vần xoay mặc ý trời.'

Để hoàn thành chí lớn trên, kẻ nam nhi phải hành động sao cho xứng đáng là anh hùng, trượng phu, quân tử. Đây cũng là sự khác biệt so với phần đông những người lớp trước, thường quan niệm 'thời thế tạo anh hùng, thời thế thế thời, thời phải thế', Phan Bội Châu trái lại cho rằng 'chính anh hùng tạo nên thời thế': 'nắm dân quyền lỗi lạc giữa phương đông tạo thời mới gọi anh hùng.'

Đây cũng là mộy ý tưởng mới lạ, thanh thoát và tích cực. Thật vậy, ngày xưa kẻ sĩ luôn tin ở thiên mệnh, nên họ luôn tùy thời mà hành động, Phan tiên Sinh trái lại cực lực phản đối hành động tiêu cực ấy, khi cho rằng kẻ làm trai phải biết gánh vác trách nhiệm, tại sao lại phải dựa vào sự định đoạt của hóa công? Theo Ong, ví dù thời chưa đến nhưng người anh hùng cũng có thể tự xoay chuyển thời thế, ấy là nhân lực trước thiên mệnh. Trên con đường đấu tranh, xưa nay từ đông sang tây, có ai mà không gặp phải một đôi lần thất bại trước khi mã đáo thành công, bước lên đỉnh đài vinh quang tuyệt diệu hay nhắm mắt xuôi tay ôm hận muôn đời? Bởi vậy không nên đem thành bại để luận anh hùng, mà chỉ cần xét tới ý chí và hành động của họ mà thôi.'

'nếu không thất bại, sao có thành công
xưa nay anh hùng từng thua mới được'

Tri hành hợp nhất, đó là kim chỉ nam của người anh hùng và Phan bội Châu, trong suốt cuộc đời đã luôn luôn giữ đúng, nước mất thì phải đòi lại nước, tự do bị hủy diệt thì phải làm sao lấy lại tự do, dân chúng lầm than khổ cực thì phải làm sao cải thiện đời sống của họ. Tóm lại, quan niệm đấu tranh của Phan Bội Châu là tận dụng tất cả phương tiện từ bạo lực tới ôn hòa, từ quân sự cho tới tuyên truyền bằng văn thơ thi phú, phải tạo thời cơ, vượt qua những chướng ngại hiểm nguy, để phụng sự cho quốc gia, dân tộc:

'đường đường đội đá vá trời,
anh hùng há nhượng cho người thế gian'

++Đường Đấu Tranh của Phan Tây Hồ (1872-1926)

Như Phan Bội Châu, Tây Hồ Phan Châu Trinh là một sĩ phu ái quốc, chẳng những thể hiện tinh thần đấu tranh của mình bằng hành động, mà còn biểu lộ ý tưởng đó qua thi văn, một cách hàm súc chân tình. Năm 1906, tiên sinh xuất ngoại lần đầu tiên và gặp Phan Sào Nam tại Quảng Châu. Cũng trong cuộc gặp gỡ này, Phan Chu Trinh đã cho mọi người thấy là mình đi theo chủ trương khác hẳn với Phan bội Châu, sau khi xem 'Duy Tân hội chương trình' và tuyên bố chỉ muốn sang Nhật Bổn một chuyến cho biết, rồi về nước mà thôi.

Ong là một nhà cách mạng với đường lối bài phong kiến, đã thực dân nhưng với một thái độ ôn hòa. Nhỡ hấp thụ được tư tưởng mới của Khang hữu Vi, Lương khải Siêu, Montesquieu, JJ Rouseau nên ngay từ buổi đầu dấn vào con đường tranh đấu, ông đã hô hào tân học, đề xướng nhân quyền, chống lại các cuộc bạo động vì cho rằng đây là nguyên cớ để Pháp đàn áp, ngoài ra Ong chống lại việc cầu viện nước ngoài, đồng thời tạm thỏa hiệp với Pháp. Tóm lại những chủ trương của Phan Chu Trinh gần như ngược lại đường lối tranh đấu của Phan bội Châu. Tuy nhiên hai bên vẫn rất kính trọng và giúp đỡ lẫn nhau vì cả hai cùng mang chung một hoài bão của đấng trượng phu, đang còng lưng gánh vác trách nhiệm đối với sự tồn vong của đất nước.

'làm trai trót gánh, gánh gian nan
dám nại xa xôi, bỏ giữa đàng.'

Trong thi văn, Phan Tây Hồ tuy không đưa ra một quan nệm rõ rệt về hai chữ anh hùng như Sào Nam, nhưng lại gián tiếp chấp nhận quan niệm anh hùng phải tạo thời thế, phải làm những việc phi thường khác đời và trên hết là chấp nhận hiểm nguy, coi thường sinh tử nên thế sự thăng trầm chỉ là diều cỏn con không đáng kể. Như vậy tuy hai người khác nhau về phương cách cứu nước và lập trường chính trị nhưng lại đồng tâm ở lòng ái quốc, cũng như rất cảm thông và hòa hợp trong quan niệm 'anh hùng'. Hai Ông là những người tiền phong giựt sập cái thần tượng cá nhân, rồi thay vào đó là thần tượng anh hùng dân tộc. Chính điều này đã làm cho các thanh niên nam nữ qua bao thế hệ, khi dấn thân vào con đường lập chí, rất ngưỡng mộ và tôn sùng hai cụ Sào Nam và Tây Hồ.

*PHAN BỘI CHÂU, NẠN NHÂN GIỮA HAI THẾ LỰC:

Trong tác phẩm tự phán (PBCNB), cụ Phan cho rằng mình đã bị Nguyễn thượng Huyền bán đứng cho Pháp vào ngày 1-7-1925, vì chỉ có y mới biết rõ lộ trình của Ong mà thôi. Nhưng sự thật thì không phải vậy, năm 1928 lần đầu tiên Nhượng Tống Hoàng Phạm Trân, trong tài liệu 'ai bán đứng cụ Phan bội Châu?' đã chỉ đích danh Lý Thụy (Hồ Chí Minh) đã bán Cu Phan cho Pháp. Năm 1948 Đào trinh Nhất, trong loạt bài đăng trên báo Cải Tạo, cũng viết rằng, chính Lý Thụy là thủ phạm bán đứng cu Phan. Ngoài ra Bùi Đình trong vụ án PBC và Bùi văn Hội (ba nhà chí sĩ ho Phan) đã chứng minh chính Lý Thụy và Lâm Đức Thụ đã bán Cụ Phan cho Pháp.

Mới đây vào năm 1972, Sử gia kiêm học giả Đài Loan là Tưởng Vĩnh Kính, qua tác phẩm 'Hồ chí Minh tại Trung quốc' cũng xác nhận chính Lâm đức Thụ (đại diện của Phan bội Châu tại Hương Cảng) và Nguyễn Ai Quốc (Lý Thụy-Hồ chí Minh), đã bán cụ Phan cho Pháp, rồi cả hai chia đôi số tiền thưởng là 100.000 quan bây giờ. Sau đó, Thụ và Quốc còn hợp tác nhiều năm nữa để bán những đồng chí của cụ Phan cho Pháp.

Theo các học giả trong cũng như ngoài nước, thì việc Phan bội Châu bị bán đứng, một phần do số tiền thưởng cao, nhưng trọng điểm chính là chính trị, nên Lý Thụy, một cán bộ đệ tam cọng sản quốc tế từ Liên Xô mới tới Trung Hoa, đã ra tay nhanh chóng loại trừ Cụ Phan, một lãnh tụ Quốc Gia uy tín nhất lúc bấy giờ trong cuộc chống Pháp tại hải ngoại, hầu đoạt vị trí lãnh đạo cũng như tổ chức, bổ sung cho lực lượng cọng sản mới phôi thai tại VN.

Còn một sự kiện quan trọng khác, do chính Cụ Phan viết trong tự phán, đó là việc Ong đã tiếp xúc với hai nhân viên cao cấp của Liên Xô tại Tòa đại sứ nước này ở Bắc Kinh là Grigorij và Voitinsky, nhờ giúp đỡ đưa du học sinh VN sang du học tại LX. Cuối cùng mọi sự không thành vì Phan Bội Châu không chấp nhận điều kiện theo cọng sản. Và cũng do việc này mà Ong đã phải gánh lấy hậu quả với Liên Xô, là xài không được thì phải gạt bỏ không để cho kẻ khác xài, và Lý Thụy được giao trọng trách thi hành bản án trên. Ở đây, thực dân Pháp và cộng sản quốc tế đã gặp nhau trong cùng mục đích triệt hạ Phan Bội Châu. Sau năm 1954, Nguyễn thượng Huyền trở lại VN và di cư vào nam, đã viết bài minh oan cho mình trên tờ bách khoa số 73, xuất bản tại Sài Gòn năm 1960.

*PHAN BỘI CHÂU BỊ GIAM LỎNG TẠI HUẾ (1926-1940)
Ngày 23/11/1925, Hội đồng đề hình của Pháp tại Hà Nội xử Phan Bội Châu khổ sai chung thân tại Côn Đảo, nhưng vì phản ứng quyết liệt của quốc dân, nên ngày 25/12/1925 toàn quyền Varenne phải ký lệnh ân xá và giam lỏng Ong tại Bến Ngự, Huế. Nhờ số tiền 2000 đồng của đồng bào cả nước quyên góp, Huỳnh thúc Kháng và Võ liêm Sơn, đã mua hai khoảnh đất tại dốc Bến Ngự (cách Huế 3 km về phía nam) và gần đàn Nam Giao để cất nhà và làm nghĩa trang sau này cho Phan Bội Châu.

Theo tài liệu của nhà báo Quang Đạm, học trò cũng là thư ký của cụ Phan từ 1926-1927, đã viết về nơi ăn chốn ở của thầy mình. Đó là một gian nhà tranh đơn sơ giản dị, nơi Phan Bội Châu sống suốt quãng đời chim lồng cá chậu từ 1926-1940. Nhà lợp bằng lá gồm ba gian, nhờ cất cao nên thoáng khí và mát mẻ. Trừ 4 buồng nhỏ ở 4 góc nhà, không có gian nào có tường vách mặt ngoài. Trong ba gian, thì gian giữa hẹp nhưng dài, còn 2 gian đầu và cuối thì rộng mà ngắn, theo lời Sào Nam thì đó là hình tượng nước Việt Nam.

Theo hồi ký 'Ong già bến Ngự' do Thuận Hóa xuất bản năm 1982, thì cách thức trang trí trong nhà rất mới mẻ so với thời đó. Phòng ngủ của Cụ Phan ở gian bên trái, có treo ba bức tranh màu rất lớn, bức vẽ Hai bà Trưng cỡi voi chỉ huy đánh giặc Hán, bức thứ hai là hình Quang Trung Đại Đế cỡi ngựa đánh quân Thanh nhưng ý nghĩa hơn hết là một bức tranh hý họa vẽ một con mèo to lớn, dù đang nhe răng múa vuốt, vẫn không dấu vẽ khốn đốn sợ hãi trước hằng ngàn con chuột tí hon đang nhất tề tấn công từ mọi phía. Sau khi cụ Phan mất năm 1940, con cháu đến cư ngụ nên có sự thay đổi. Năm 1941, Huỳnh thúc Kháng cho xây thêm về phía đông bắc ngôi nhà thờ chính để thờ Phan bội Châu cùng ông bà Phan nghi Đệ (con trai) và Phan Thiện Cẩn, Phan Thiện Tường (cháu nội).

Khu di tích Phan bội Châu hiện nay, ngoài các gian nhà trên còn có nhà thờ bà Au Triệu Lê Thị Đàn, một đồng chí của Duy Tân Hội, đã tự tử chết trong ngục ngày 16-3-1908. Trong nhà thờ này, cụ Phan đã dựng một tấm bia lớn bằng đá trắng, hai mặt có khắc chữ Hán và Quốc ngữ về tiểu sử của Bà Au Triệu. Năm 1974, tỉnh Thừa Thiên đã đúc tượng Phan Bội Châu bằng đồng, cao 3m, nặng 4 tấn. Tượng này được đặt trong khu di tích, cách nhà thờ Au Triêu 5m. Về sau, vào năm 1988 lại xây thêm một bệ hình khối chữ nhật bằng đá hộc, cao 2m để đặt tượng trên.

Ngày 29-10-1940, Cụ Phan qua đời. Nhờ số tiền 900 đồng do quốc dân quyên góp, Huỳnh thúc Kháng đã làm nhà thờ và xây mộ cho cụ Phan tại địa điểm mà sinh thời, Sào Nam đã chọn cho mình vào năm 1934. Mộ có chiều dài 7m, ngang 5m, trên bia là bài tự do chính tiên sinh viết bằng chữ Hán vào năm 1934. Phía dưới chân mộ là hàng bia 2 con nghĩa khuyển Vá và Ky, đã theo Ong nhều năm. Ngoài ra còn có mộ của vợ chồng thứ nam Ong là Phan Nghi Đệ và mộ nhà cách mạng Tăng Bạt Hổ trong phong trào Đông Du, mất năm 1907, được Chính quyền VNCH cải táng từ Hương Trà về đây năm 1969. Một đặc điểm khác là trong khu di tích trên, còn có một nghĩa trang nằm bên dưới đàn Nam Giao. Nơi này Phan Bội Châu dành cho các đồng chí và những chiến sĩ quốc gia an giấc nghìn thu.

Thế nhưng này 12-9-1939, Nguyễn chí Diễu, ủy viên trung ương đảng cọng sản đông dương chết tại Huế và được Cụ cho phép mai táng tại đây, bất chấp sự phản đối của chánh thanh tra mật thám Pháp tại Trung Kỳ là Sogny. Sau đó còn cho chôn thêm nhiều cán bộ CS khác như Trần Hoành, Bùi thị Nữ, Lê tự Nhiên, Thanh Hải, Đạm Phương, Hải Triều. Chính điều này để các sử gia cọng sản như Trần huy Liệu, Chương Thâu vin vào đó mà biện bạch về vụ án Lý Thụy và Lâm Đức Thụ bán đứng Phan Bội Châu.

Tóm lại, những ngày đầu của thế kỷ 20, Việt Nam coi như đã mất hẳn chủ quyền về tay thực dân Pháp. Triều đình nhà Nguyễn tại Huế chỉ còn là hư vị, trong khi đó phong trào Cần vương cũng sắp tàn lụn, báo hiệu sự bế tắc trên con đường cứu quốc. Phan bội Châu hiện ra như một ngôi sao bắc đẩu, qua ảnh hình tiêu biểu của một lãnh tụ của phong trào cách mạng mới, ngoảnh mặt phá bỏ tất cả những ràng buộc của thời phong kiến lỗi thời. Ong hiên ngang đi trên chông gai, tắm trong bảo tố, bôn ba khắp chốn để mưu tìm con đường giải phóng dân tộc. Như hàng bao thế hệ trước, Phan Bội Châu hào hoa phong nhã, gươm đàn nửa gánh, giang sơn lẫy lừng.

'non sông đã chết, sống thêm nhục
hiền thánh còn đâu, học cũng hoài '

Chúng ta ngày nay, may mắn trên con đường lập chí, đã được nép mình suốt bao năm dưới mái trường trung học mang tên Phan Bội Châu tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Nhờ khí thiêng của Ong, nên trải qua năm chục năm thành lập, đã có không biết bao nhiêu anh hùng nam nữ theo gót tiền nhân, làm rạng danh con Hồng Cháu Lạc./-

* PHAN CHU TRINH SANG PHÁP:

Phan Bội Châu đã viết trong niên biểu, cho biết hạ tuần tháng hai âm lịch, năm Bính Ngọ (1906), Tây Hồ Phan Chu Trinh, từ Quảng Nam ra Hà Nội giúp Lương văn Can, Nguyễn Quyền thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục, rồi lên Yên Bái thăm Hoàng Hoa Thám, sau đó cùng Lý Tuệ bí mật trốn sang Hương Cảng. Tại đây ông đã gặp Phan Bội Châu, Lưu Vĩnh Phúc và Nguyễn Thiện Thuật. Sau khi hàn huyên vui đùa, Phan Chu Trinh đem bài văn 'Khuyến tự trợ du học' đọc cho mọi người cùng nghe, cũng để nói lên cái chương trình 'Duy Tân Hội' của nhóm ông, khác biệt với đường lối Đông Du của nhóm Phan Bội Châu. Tuy chính kiến khác nhau nhưng tình bạn vẫn không thay đổi. Sau đó cả hai qua Nhật thăm viếng đó đây và Phan Chu Trinh về nước.

Tháng 4-1908, qua vụ Trung Kỳ Dân Biến, dù thực sự không do Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng chủ mưu, nhưng Pháp đã vin vào cớ này, bắt giam các ông tại Côn Đảo. Nhờ hội Nhân quyền can thiệp, năm 1911, Phan Chu Trinh được đưa về an trí tại Mỹ Tho, rồi sau đó qua lời yêu cầu, Phan cùng con trai là Phan Chu Dật qua Pháp, sống từ năm đó cho tới năm 1925 mới về nước và mất tại Sài Gòn ngày 24-3-1926.

Qua các sáng tác và hành động, ta thấy Phan Chu Trinh không hề tuyên bố lý do tại sao phải xin sang sống tại nước Pháp. Nhiều người cho rằng có lẽ ông là người chủ trương dân quyền, nên muốn sang tận nơi để thấy rõ cuộc sống của dân chúng cũng như thể chế chính trị của mẫu quốc. Có điều cũng nên suy ngẫm, trong lúc Phan Bội Châu là một nhà ái quốc tiêu biểu của thế kỷ. Hành động và tư cách của ông khắp nước và cả thế giới điều kính phục. Vậy mà vào những năm Hồ Chí Minh và đảng cọng sản, phát động chính sách đấu tố tại miền bắc. Ấy thế mà năm 1955, đội cải cách địa phương đã kết tội Phan Bội Châu là thành phần giai cấp địa chủ.

Cũng may ông đã chết, nên chỉ bị VC bắt phạt bằng cách đem hình trên bàn thờ, treo xuống chuồng trâu, trong lúc đó người cháu nội đích tôn của nhà ái quốc là Phan Thiện Cơ, đang mang cấp bậc Đại Tá trong Bộ Đội Hà Nội. Ngược lại tại VNCH, đa số những người trong gia đình Phan Chu Trinh đều tham gia hàng ngũ Cọng Sản và là những cán bộ cao cấp như Phan Thị Minh, cháu ngoại Phan Chu Trinh, nguyên Đại Sứ Cọng Sản Bắc Việt tại Ý Đại Lợi và Nguyễn Thị Bình cũng là cháu ngoại Phan, tiếng tăm xấu xa lừng lẫy một đời, từng là ngoại trưởng bù nhìn của Ma mặt trận, có chữ ký trên tờ giấy lộn của cái gọi là 'hiệp định hòa bình Ba Lê ngày 27-1-1973' văn bản bán đứng miền nam VN của cặp Nixon-Kissinger, cho đế quốc cọng sản quốc tế, để mang lại cho nước Mỹ, cuộc tháo chạy nhục nhã, đêm 29 và sáng 30-4-1975, trên nóc nhà tại Sài Gòn-Chợ Lớn.

Ấy thế mà chính phủ và người dân miền Nam vẫn một lòng thương trong cá nhân người yêu nước Phan Chu Trinh, trong tâm khảm cũng như trên lãnh vực sử học và giáo dục. Đó là sự khác biệt giữa con người và cầm thú, giữa những trái tim nhân ái VN và hạng súc sanh, không còn biết phân biện liêm sĩ làm nhục nhã thanh danh của tổ tiên mình.

Cọng Sản VN hiện nay đang điên cuồng đàn áp Phật Giáo, Tin Lành, Công Giáo và chà đạp nhân quyền, bất chấp công pháp quốc tế, dư luận trong và ngoài nước. Để vừa ăn cướp lại la làng, Hà Nội tổ chức rùm beng lễ kỷ niệm 100 năm(1905-2005), đánh dấu ngày cụ Phan Bội Châu, phát động phong trào Đông Du cứu nước. Hành đông này tuy mới nhìn vào, làm ai cũng tưởng là Bắc Bộ Phủ đã ăn năn hối hận về sự lừa dối, phản bội các Đảng phái Quốc Gia, khi chúng Hòa Hợp, Hòa Giải.

Nhưng thấy vậy mà không phải vậy, vì mục đích chính ngày kỷ niệm trên, để VC có lý do chính đáng, làm sống lại huyền thoại Anh Thành xuất dương cứu nước, mà đồng bào VN, kể cả các đảng viên, gần như đã quên lãng, khi tất cả sự thật về Hồ Chí Minh và Đảng VC Đệ Tam Quốc Tế, đã bị lột trần muôn mặt trước bia miệng và lịch sử, khi công khai bán nước cho Trung Cộng, tham nhũng tàn bạo, đưa quốc dân vào vũng bùn ô nhục, nghèo đói hiện nay, không biết bao giờ mới thoát được cảnh địa ngục xã nghĩa thiên đàng -/-

Xóm Cồn
Tháng 6-2006

Mường Giang