Saturday, February 28, 2015

WOJCIECH * PUTIN

Chế độ đạo tặc của Putin. Karen Dawisha lật mặt băng đảng của Tổng thống Nga

Wojciech Rodak - Lê Diễn Đức dịch
Yeltsin chỉ định Putin kế nhiệm tổng thống Nga - Ảnh: OnTheNet
Cuốn sách của Karen Dawisha "Chế độ đạo tặc của Putin. Ai là ông chủ nước Nga" mô tả con đường quyền lực mờ tối của Vladimir Putin và phe nhóm. Không một chút nghi ngờ nào - trên điện Kremlin ngự trị tuyệt đối một hệ thống mafia được bọc trong cái vỏ của những tên đế quốc.
Karen Dawisha là một nhà khoa học chính trị Mỹ nổi tiếng, nhiều năm tham gia nghiên cứu những thay đổi chính trị ở Nga và trên toàn khu vực hậu Xô Viết. Bà  làm việc tại một số trường đại học có uy tín ở Anh (bao gồm cả London School of Economics) và Hoa Kỳ. Nhiều năm trước đây, vào những năm 80, bà là một chuyên gia trong Bộ Ngoại giao Mỹ.
Trong cuốn sách mới nhất của bà, "Chế độ đạo tặc của Putin. Ai là ông chủ nước Nga" (Putin's Kleptocracy: Who Owns Russia?), mô tả chi tiết con đường đi tới quyền lực của Vladimir Putin và những người thân cận. Cuốn sách chỉ ra một số điều chắc chắn về sự nghiệp được bao bọc bởi bí mật thời KGB, cho thấy các bước hình thành đội ngũ của ông và - thú vị nhất - giải thích cơ chế của nhiều lợi ích mờ ám và những âm mưu của nhóm này.
Trong số rất nhiều các chủ đề của tổng thống Nga hiện tại, Dawisha phân biệt số lượng tư liệu thu thập - ghi chú, đầy đủ những thông tin có giá trị, cũng như phần nằm trong phần chính, tạo thành một nửa khối lượng của cuốn sách. Nó bao gồm những bài viết không còn lấy được nữa từ báo chí Nga mà bộ máy kiểm duyệt của Putin gỡ bỏ trên mạng, những tài liệu độc đáo, các hồ sơ vụ án tiến hành chống lại người của Putin ở phương Tây, cũng như hồ sơ của các cuộc trò chuyện với những người cung cấp thông tin từ các lĩnh vực ngân hàng và tình báo. Thế mạnh lớn nhất của cuốn sách là phân tích mô phạm của Dawisha về những sự kiện mờ ám hoặc dường như bị tách khỏi lịch sử gần đây của Nga, trong đó tác giả kết hợp một cách logic, trung thực và trong sáng toàn bộ.
Bà đi đến kết luận rằng quan trọng hơn so với sự thất bại của nền dân chủ của nước láng giềng phía đông của chúng ta, nơi trước đó tập trung nhiều nhà nghiên cứu và các nhà phân tích, một thực tại là sự xuất hiện một hình thức mới, vô cùng mạnh mẽ của chủ nghĩa độc đoán.
"Thay vì nhìn vào chính sách của Nga là một nền dân chủ mong manh bị kéo xuống dưới bởi lịch sử, những kẻ chuyên quyền tội phạm, sự thờ ơ nói chung, các quan chức không đủ năng lực hay các nhà tư vấn phương Tây, tôi cho rằng, kể từ khi bắt đầu quá trình chuyển đổi dân chủ ở Nga, Putin và tay chân của ông ta hướng tới việc tạo ra một chế độ độc tài cai trị bởi một liên kết mạnh mẽ... mà dân chủ chỉ là thứ trang trí hơn là theo hướng phát triển "- Bà viết trong phần giới thiệu.
Nhận định của bà, cũng như nhiều suy luận khác của Dawisha dựa trên nhận định, gây nên tranh cãi, đã làm nhà xuất bản Cambridge University Press, nơi mà trước đây bà đã làm việc, không chấp nhận phát hành. Người ta lập luận rằng luật pháp Anh về tội phỉ báng có thể cho phép các nhân vật trong cuốn sách giành chiến thắng nếu họ kiện ra toà, kéo theo một nhu cầu đáng kể cho việc thanh toán bồi thường - họ không thể có đủ khả năng về tài chính. Cuối cùng,"Putin Chế độ đạo tặc ..." được phát hành tại Mỹ bởi Simon và Schuster và sợ rằng kiện tụng có thể xảy ra, nhà xuất bản khuyến cáo sách chỉ được phân phối duy nhất tại Mỹ và sẽ không được dịch sang bất kỳ ngôn ngữ nước ngoài nào. Tuy nhiên, bạn có thể mua dễ dàng ngay cả trong các cửa hàng trực tuyến của Ba Lan.
Dawisha đã viết gì đến mức mà sự phổ cập cuốn sách trở nên rất hạn chế?
Tất cả bắt đầu từ Dresden
Vladimir Putin từ năm 1975 là sĩ quan tác chiến của KGB. Người ta không biết nơi ông làm việc và chính xác những gì ông đã làm trong thập kỷ đầu tiên của công việc tình báo. Người ta đồn rằng ông có thể là điệp viên ở Tây Đức. Chắc chắn trong năm 1985 ông ta đã đến Dresden ở Đông Đức.
Có một sự cảm nhận rằng khối Xô Viết sẽ sụp đổ. Vì vậy, KGB cũng quyết định chuẩn bị cho tình hình này. Trong khuôn khổ của hoạt động "Luch" người ta tuyển chọn tại Đông Đức các điệp viên để triển khai sau khi nước Đức thống nhất. Như Dawisha đã nêu ra, rất có khả năng Putin đã tham gia. Vào năm 2000 phản gián Đức đã có một cuộc điều tra về vấn đề này - nhưng không mang lại bất kỳ kết quả ngoạn mục nào. Ít nhất về mặt chính thức...
Hơn nữa, Putin chủ yếu xử lý việc mua lại các kiến ​​thức về công nghệ cao từ phía Tây Đức. Ông cũng duy trì thông tin liên lạc với các thành viên của Phái Hồng quân cánh tả cấp tiến. Ông thường nói với những tên khủng bố, những thứ gì họ có thể ăn cắp cho ông ở Tây Đức. Ông nhận được từ họ, ví dụ như Radio Grundig và loa xe Blaupunkt. - Tôi chưa bao giờ được cảm ơn - một trong những thành viên của FCA  nhớ lại.
Chính ở Dresden, Putin đã quen biết rất nhiều người mà hôm nay là những người thân cận nhất. Một trong số đó là Matthias Warnig, viên chức "anh em" của Stasi, hiện là Chủ tịch hội đồng quản trị của Nord Stream.
Những trò lừa đảo ở Petersburg
Sự khởi đầu của những năm 90 ở Nga là thời gian tăng của các vận may lớn và tư nhân hoá hoang dã. Rơi vào tay của các cựu quan chức, đoàn viên Komsomol và KGB tổng cộng khoảng 4 tỷ USD quỹ thừa hưởng từ sụp đổ của  Đảng Cộng sản Liên Xô. Ở một đất nước có nền kinh tế sút kém và mức dự trữ ngoại hối thấp thì đây là một số tiền khổng lồ. Chỉ một nhóm nhỏ có quyền tiếp cận nguồn vốn này để mua các công ty nhà nước với giá rẻ mạt - các tài phiệt chính trị Nga nổi tiếng nhất, trong đó có Boris Berezovsky, Mikhail Khodorkovsky, đã bắt đầu như thế. Putin cũng không bỏ lỡ thời gian này.
Kể từ năm 1990, nhờ sự có chân trong KGB, Vladimir Vladimirovich trở thành Phó của Thị trưởng thành phố St. Petersburg Anatoly Sobchak, chịu trách nhiệm về quan hệ với nước ngoài. Một trong những sáng kiến ​​đầu tiên của ông là "thực phẩm đổi nguyên liệu". Trong thực tế, thành phố xuất khẩu qua trung gian, hàng hóa bao gồm cả dầu, than, thép, và họ cam kết thực hiện trong các hợp đồng để mang về một số lượng thực phẩm. Nhưng, như Dawisha viết, thành phố đã tạo ra văn bản đến các trung gian để họ không phải thực hiện chúng, hình phạt cho việc không cung cấp thực phẩm chỉ mang tính biểu tượng. Người chuyên viết các văn bản đó không ai khác hơn là Dmitry Medvedev. Két của St. Petersburg bị mất ít nhất 100 triệu đô la. Có thể đoán được những gì đã xảy ra với số tiền ấy... Hội đồng thành phố, dưới sự chủ trì của Marina Salje, đã thành lập một ủy ban điều tra, cho thấy Putin là người đã lạm quyền, không mấy khó khăn, vì chữ ký của ông ta có trên tất cả các thỏa thuận "rò rỉ". Mặc dù các cuộc tấn công mạnh mẽ , vị Phó của Sobchak vẫn duy trì được vị trí - ông được đánh giá cao bởi những người c1o thế lực tự cho mình là "những nhà dân chủ mềm dẻo". Bà Salje sau đó đã nhiều lần bị đe dọa, và cuối cùng đã rút lui khỏi đời sống công cộng và sống trong một ngôi làng nhỏ ở vùng hoang dã. Tất cả các tài liệu về Tổng thống Nga đã được thu thập và công bố sau khi bà qua đời vào năm 2012 trên mạng xã hội Facebook. 
Một cơ quan rất quan trọng gắn liền với Putin được thành lập vào năm 1990 từ Quỹ của Đảng Cộng sản Liên Xô, Ngân hàng Rossiya- hôm nay vẫn tồn tại và bị khống chế bởi các lệnh trừng phạt của phương Tây. Theo các nhà điều tra Tây Ban Nha, ngân hàng đã tạo điều kiện cho vị Phó của Sobchak và các nhà đầu tư khác trong quan hệ đối tác với mafia St. Petersburg.
Một dự án mờ ám khác mà nhân vật chính của chúng ta đã làm là Hợp tác xã Ozero. Công ty này chủ yếu tham gia vào đầu tư bất động sản tại St. Petersburg. Công ty có một số tiền khổng lồ từ các nguồn bí ẩn. Người sáng lập của nó bây giờ là triệu phú hay thậm chí tỷ phú. Khi Putin trở thành tổng thống, những người của công ty giữ những chức năng công cộng quan trọng, ví dụ như, Andrei Fursenko, Bộ trưởng Bộ Giáo dục, một thời gian dài, Vladimir Yakunin 10 năm nay làm Chủ tịch Đường sắt Nga.
Vladimir Putin cũng đã phục vụ trong hội đồng quản trị của Công ty cổ phần Bất động sản St. Petersburg (Spag). Trong năm 1999 tình báo BND của Đức công bố một báo cáo trong đó chỉ ra rằng Spag là nơi rửa tiền đen cho mafia Nga và Colombia, ví dụ cho tập đoàn từ Cali. Công ty tạo điều kiện cho các chủ sở hữu của nó, bao gồm cả thành viên của băng đảng St. Petersburg Tambov, bơm tiền "trái" ra khỏi Nga, và sau đó đưa chúng trở lại đất nước thông qua việc mua đất đai và các nguồn lực khác. Điều thú vị là, khi Gerhard Schröder trở thành thủ tướng Đức, cuộc điều tra đã bị mất đà, và tên tuổi của Putin bí ẩn biến mất trên các giấy tờ...
Một dự án đen tối khác bị Dawisha đưa ra ánh sáng là  Twentieth Trust. Đây là một công ty xây dựng, được thành lập vào năm 1992 tại St Petersburg. Putin đã ra lệnh thanh toán tiền mặt từ tài khoản của thành phố vào công ty một khoản cho vay với tổng giá trị 28 triệu USD. Twentieth đã không trả một xu cho thành phố. Các nhà báo của tờ "Novaya Gazeta" tiến hành một cuộc điều tra. Từ đây, cũng như nguồn tin tình báo, cho thấy số tiền đã được sử dụng để mua bất động sản và xây dựng một biệt thự ở Tây Ban Nha.
Điều thú vị là, những người lính Nga xây dựng biệt thự đã không được thanh toán - họ bị đe dọa và khiêu khích. Trong số các khách thăm viếng khu biệt thự - ngoài các doanh nghiệp Nga hàng đầu và thế giới ngầm, như các cơ quan pháp luật Tây Ban Nha đã nói - có Vladimir Vladimirovich. Ông ta thường xuyên tới đó bằng cách sử dụng giấy tờ giả mạo. Trong năm 1999, khi làm ở FSB, thậm chí đã xảy ra vụ vượt biên giới Tây Ban Nha như là tay buôn lậu - ông ta khởi hành từ Gibraltar.
Từ thông tin được thu thập Karen Dawisha cho thấy Vladimir Putin là tay ưu việt trong xã hội ngầm của St. Petersburg. Chính ông là người quyết định ai sẽ vào cuộc chơi và ai không ai tham gia. Tác giả chỉ ra rằng những con người đó có liên quan đến KGB, quan chức và doanh nhân của thế giới tội phạm, được tạo điều kiện làm việc cùng nhau. Hàng triệu đô la tài sản của tất cả mọi người liên quan đến Putin phát triển mạnh mẽ, mặc dù tài sản riêng của ông được che giấu có hiệu quả, chúng ta chỉ có thể tiên đoán.
Các hoạt động của Putin bao gồm cả những kế hoạch mơ hồ nói trên không được chú ý bởi công tố và nhà báo. Władimirowich Vladimir đã thành công trong việc thoát khỏi cánh tay dài của pháp luật, bởi vì ngay sau khi ông làm việc ở Moscow cùng với ekíp của Yeltsin, tất cả các sự việc chống lại ông đều bị dập tắt hoặc đóng lại.
Sự nghiệp cùng với "gia đình"
Vladimir Putin đến Moscow vào năm 1996, sau một chiến dịch thất bại tại địa phương của ông chủ Anatoly Sobchak. Đầu tiên, ông được bổ nhiệm làm Phó cho Paul Borodin, người đứng đầu Cục bất động sản của Tổng thống. Bấy giờ ông chịu trach nhiệm về việc bán tài sản của đảng ở nước ngoài - tiền lời đưa vào quỹ trong tình trạng ngân sách nhà nước đang tồi tệ. Tuy nhiên, theo Karen Dawisha, một số tiền thường bị mất ở đâu đó trên đường đi. Putin với các đối tác của mình "ăn cắp" một trong những trung tâm văn hóa Nga tại Đức. Họ cho thuê 50 năm cho một một công ty không ai biết đến với số tiền rất thấp, để công ty ấy cho thuê lại với giá thị trường bình thường. - Số tiền cách biệt chạy đi đâu? Có lẽ không cần phải giải thích - một trong những nhân viên của ngân hàng Thụy Sĩ, những người theo dõi các chuyện làm ăn mờ ám của "gia đình" Yeltsin, cho biết. Những dạng này là không có gì bất bình thường đối với những người thân cận của Boris Yeltsin. Hơn nữa, người đứng đầu Putin Borodin đã bị buộc tội có các hoạt động đáng ngờ khác nhau - trong năm 2001, thậm chí bị bắt ở New York về tội rửa tiền. Ông ta được tự do sau khi nộp tiền bảo lãnh của hàng triệu đô la. Hiện ông ta là thư ký của Liên hiệp Belarus và Nga.
"Gia dình" Yeltsin đánh giá cao khả năng của Vladimir Putin - ông được thăng chức phó trưởng văn phòng  tổng thống về liên hệ với các khu vực, sau đó là người đứng đầu Cơ quan An ninh Liên bang. Bất cứ nơi nào ông ta xuất hiện, đi phía sau ông là "các tín hữu trung thành nhất trong các tín hữu" - Igor Sechin, và lần lượt sau đó phần còn lại là các nhân viên của St. Petersburg và "những người quyền lực", bao gồm cả Viktor Cherkasov, Sergei Ivanov và Nikolai Patrushev.
Kế hoạch tác chiến "Tổng thống"
Trong năm 1999 Boris Yeltsin và "Gia đình" bị gặp rắc rối. Nhà nước trong tình trạng thê thảm. Cuộc khủng hoảng tài chính đã làm ảnh hưởng mạnh tới xã hội, đồng thời bị đưa ánh sáng những thứ mờ ám của ekíp tổng thống. Cuộc bầu cử gần kề khó thắng, khảo sát cho thấy uy tín ông chủ điện Kremlin xuống dốc và phe đối lập tuyên bố rằng trong trường hợp chiến thắng họ sẽ bỏ tù những tay áp phe. Boris Berezovsky và các thành viên khác của "gia đình" quyết định hành động.
Dawisha xác định một số lý do lấy từ thông tin tình báo, chứng minh rằng những người thân cận Yeltsin là tác giả của sắc lệnh cho Szamil ​​Basajew và người của ông ta thực hiện cuộc xâm lược của Dagestan, dẫn đến đến sự bùng nổ vào tháng Tám năm 1999 cuộc chiến Chechnya lần thứ hai. Người ta tin rằng bằng cách này họ muốn tạo ra hoảng loạn trong nước để có cái cớ cho việc đưa ra tình trạng khẩn cấp và - do đó - hoãn cuộc bầu cử.
Tác giả đưa ra bằng chứng nhưng người ta đã không dừng lại ở đó.
Trong mùa thu năm 1999, một loạt các vụ đánh bom vào các khối căn hộ xảy ra. Trong Bujnaksku, Moscow và Wolgodonsk hơn 300 người bị giết chết. Điện Kremlin đổ lỗi cho quân khủng bố Chechnya. Trong cả nước bao trùm không khí căng thẳng và hoang mang. Nhưng sau đó tại Ryazan một sự cố xảy ra, làm suy yếu sự niềm tin vào phiên bản của chính phủ về các sự kiện. Một công dân cảnh báo nhìn thấy một số người mang vào tòa nhà nơi ông sống, những bịch với từ "Đường". Điều này làm dấy lên sự nghi ngờ của ông - ông gọi cảnh sát.
Cư dân được sơ tán và các con đường bị chặn. Các lực lượng an ninh địa phương bắt giữ các nghi phạm - thì họ bật ngửa ra khi biết những nghi phạm là người của FSB từ trung tâm Moscow. Không chỉ có vậy, người ta cũng nghe trộm cuộc trò chuyện điện thoại giữa họ và Lubyanka, nơi có tiếng nói của ai đó từ thủ đô nói với họ đề phòng cảnh sát địa phương. "Đường" sau khi phân tích, là chất nổ mạnh - hexogen, xuất phát từ các kho quân sự. Vấn đề trở nên rất nghiêm trọng, tuy nhiên như Dawisha chỉ ra, người ta đã xoay ngược nó. Những phạm nhân được tự do và người đứng đầu FSB Nikolai Patrushev, pháp quan của Putin nói rằng toàn bộ chỉ là ... "bài tập phòng thủ".
Khi những sự kiện bi thảm diễn ra Vladimir Putin đang là thủ tướng và được Yeltsin chỉ định kế nhiệm tại điện Kremlin. Môi trường xã hội bị chi phối bởi cuộc chiến Chechnya và tình trạng không mấy tin vào sự tuyên truyền Kremlin đã tạo ra cho Putin hình ảnh về một người lãnh đạo kiên quyết và cứng rắn trong "thời kỳ khó khăn". Con cá heo của "gia đình" được khuyếch trương trong các phương tiện truyền thông - sự ủng hộ ông không ngừng tăng. Tuy nhiên, Dawisha đưa ra bằng chứng là, sẽ không có chiến thắng của ông trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2000 nếu không có sự gian lận bầu cử giúp đỡ, lúc đó một phần đã bị ông ta thao túng, bộ máy nhà nước. Vladimir Putin nhận được, theo kết quả chính thức, 53 phần trăm và đã thắng vòng đầu tiên.
Hoàng tử trộm cắp
Bằng cách này, một cựu sĩ quan KGB đã đạt được mục tiêu mong muốn của mình - ông ta có thể, vì cuộc tuyên truyền dân tộc- Xô Viết, tiến hành các hoạt động đạo tặc, trong đó với một sự thành thạo một lớn, trên một quy mô lớn hơn. Ví dụ, 50 tỷ đô la mà Moscow đã chi cho Thế vận hội ở Sochi, hơn một nửa - Dawisha  chứng minh - đã rơi vào túi của bạn bè Putin.
Chỉ riêng tài sản cá nhân của anh em Rotenbergów - người bạn thời thơ ấu của tổng thống, những người đã nhận 15 phần trăm hợp đồng liên quan đến sự kiện này - tăng lên trong giai đoạn này 2,5 tỷ USD. Hiệu quả dưới thời của Putin là có 110 tỷ phú chiếm 35 phần trăm sự giàu có của nuớc Nga, trong khi một nửa công dân trưởng thành của đất nước có tài sản cá nhân trị giá trung bình 871 đô la. - Ít hơn so với tỷ lệ tương tự ở Ấn Độ. Nhưng bây giờ giá dầu sụt giảm, và sự trừng phạt làm nền kinh tế của Nga rơi vào suy thoái.
Putin và phe nhóm của ông có đủ tài giữ người Nga trong hoàn cảnh khó khăn? Nếu một khi nào họ đó bị mất quyền lực, cuốn sách Karen Dawisha sẽ là một cơ sở tốt cho việc chuẩn bị bản cáo trạng đối với họ.
Bản tiếng Việt © Lê Diễn Đức - RFA
--------------------------------------------------------------------------------------------
* Dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan bài được đăng trên nhật báo Ba Lan "Polska The Times" ngày 23 tháng 2 năm 2015 tại link: http://www.polskatimes.pl/artykul/3762379,kleptokracja-putina-karen-dawisha-demaskuje-gang-prezydenta-rosji,1,id,t,sa.ht

TÔN KAN * BÚN BÒ HUẾ

Bún Bò Huế

Tôn Kàn
Bàn về món ăn miền Trung mà không nói đến Bún Bò Huế thì thật là một thiếu sót lớn lao!
Tôi là dân Bắc Kỳ di cư vô Nam, nên sở trường là phở và hủ tiếu Mỹ Tho. Hồi còn ở Việt Nam, rất ít khi ăn bún bò.
Tôi được nếm mùi và thưởng thức bún bò Huế do ngưới Huế nấu cả thẩy bốn lần trong cuộc đời.
Lần thứ nhất lại chính tại làng An Cựu. Số là hồi đó đang làm cho Bộ Y Tế, được cử đi thanh tra các Khu Quang Tuyến miền Trung, đây là lần đầu tiên tôí đặt chân lên đất Thần Kinh. Sau khi làm xong nhiệm vụ,sáng hôm sau lò dò đến thăm Trịnh công Sơn. Tôi nhớ nhà của nhạc sĩ họ Trịnh ở một dẫy phố bên bờ sông, có nhiều bậc thang lớn đưa xuống tận bến. Hình như Phạm Nhuận đưa Sơn và tôi đi ăn bún bò. Quán ăn nằm bên lề một đường đất nhỏ, chúng tôi ngồi ghế đẩu quay quần xung quanh một bàn gỗ lỏng chỏng. Vì mải đấu hót nên tôi không mấy để ý đến tô bún bò, chỉ nhớ mang máng nước lèo mầu hơi đo đỏ, vị hơi cay cay. Ai có ngờ đâu sau này biệt xứ, chẳng còn bao giờ được thưởng thức lại đặc sản đất Thần Kinh. Chỉ còn nhớ tối hôm đó có đi ngủ đò, thuyền trôi lên tận chùa Thiên Mụ.
Lần thứ hai được khoản đãi ở Montreal, tại nhà một đàn anh người Huế. Cô con gái lớn nấu bún bò đãi khách. Tôi nhớ mầu nước lèo rất đỏ, có lẽ hơi nhiều phẩm. Miếng giò heo chặt hơi thô và chưa được nhừ đúng mức nên hơi khó gặm. Nhờ hai anh bạn quí ngồi hai bên giúp đỡ nên tôi cũng xực hết tô bún bò.
Lần thứ ba là do cô em dâu tôi nấu. Chú em tôi nay đã quá cố lấy vợ người Huế và thích ăn mắm. Tôi thì lại kị mắm, cho nên lần này chỉ được ngửi mùi bún bò chứ không được khoái khẩu vị, vì tôi xin kiếu tuy rằng nhìn tô bún bò trông thật hấp dẫn lắm!
Lần thứ tư là bữa tiệc của anh bạn dược sĩ có phu nhân họ Tôn Nữ. Phu nhân này là một trong vài đầu bếp nổi tiếng nấu ăn ngon tại Toronto. Năn nỉ mè nheo mãi thì cũng được mời, và kỳ này chỉ xin ăn bún bò Huế. Quả thật danh bất hư truyền!
Tô bún bò bưng lên phảng phất mùi thơm của sả. Nước lèo trong hơi gợn mầu đỏ–hình như là bột ớt trưng chứ không phải bột hạt điều. Bún trắng sợi to, ăn mềm nguyên con không bị nát. Thịt bò chín có gân—hình như thịt bắp hoa,cộng với chân giò heo luộc chín nhừ đúng mức chứ không nhũn nhẽo. Thịt heo không có mùi hôi, và nhất là da không có lông, chặt từng miếng nhỏ vừa mồm chứ không quá khổ. Gia vị gồm hành ta hành tây sống, một chút rau răm thái nhỏ và nhất là ớt chưng tỏi, vừa thơm vừa cay,cay nhiều cay ít tùy theo mỗi người tự nêm nếm lấy!
Buổi tối vào đông,hơi lành lạnh, ăn tô bún bò Huế,nhâm nhi một ly vang St Emilion 1998, quây quần với vợ con bạn bè, thật không còn gì thú vị bằng!
Tôi thấy trên bàn có bầy vài đĩa giá sống và bắp hoa chuối. Tôi hỏi và được cho biết rằng,theo đúng truyền thống,thì dân Huế không ăn các thứ này với bún bò. Tôi mừng húm không ăn lai căng vì tôi theo phe chính thống trong việc ẩm thực. Tôi nhìn tô phở có dầu cháo quẩy hay tô bún bò có miếng tiết đen xì mà ngán ngẩm cho sự canh tân giật lùi!
Bàn về việc ăn uống nấu nướng theo truyền thống, tôi thấy dân Việt ta có nhu cầu thay đổi chế biến các món ăn bằng bất cứ giá nào, miễn sao lạ mắt lạ mồm là được! Do vậy,một số các món ăn đã được các thế hệ trước mất nhiều thời giờ công lao gò cho đến chỗ mà người ta gọi là “chỉnh” thì nay lại bị người ta mang ra hành hạ chế biến tùm lum, chẳng còn tiêu chuẩn thể thống gì hết!
Người Pháp có một số thức ăn đồ uống ngon nổi tiếng thế giới, tỉ như foie gras, các loại fromages camembert,brie, Roquefort…, Champagne Dom Perignon, rượu Grand Marnier, Cognac Rémy Martin… những thứ này được sản xuất từ mấy thế kỷ nay không hề thay đổi,có ai nghe thế giới kêu ca phàn nàn chi đâu? Ngay đến công việc rất bình thường là làm bánh mì, giống như việc nấu cơm đối với dân Việt, thế mà cũng có nhà Poilâne–ở số 8 Rue du Cherche-Midi, Paris 6ème-đã đưa lên ngang hàng một nghệ thuật. Bánh mì Poilâne nổi tiếng thế giới, được chế tạo theo công thức cổ điển đã có từ gần 100 năm, nhiều nhà triệu phú ở New York bỏ ra hàng năm cả 100,000 USD để có bánh mì này từ Paris chở qua cho họ ăn hàng ngày! Ở Toronto,Holt Renfrew có bán bánh mì Poilâne với giá 40$Cdn một ổ! Không ai đòi hỏi bánh mì này phải canh tân.
Ăn hết tô bún bò của chị Tôn Nữ, bỗng cảm thấy có điều chi là lạ,hình như mình đã ăn bún bò Huế như thế này rồi thì phải? Rồi giật mình đành thót! Chết cha, mình ăn bún bò kiểu này ở nhà hoài, bà xã nấu chớ ai?!
Bà xã tôi người Bắc, nhưng hồi ở Saigon hay ăn bún bò Huế, nên sang đây bà đã cố gắng nấu bún bò theo đúng tiêu chuẩn như ở Việt Nam, cũng nước dùng trong gợn đỏ thơm mùi sả, cũng bún sợi lớn dài dẻo,cũng thịt bò gân móng giò heo, gia vị ớt tỏi chưng y chang như tô bún bò của chị Tôn Nữ, chỉ thiếu thoảng mùi mắm ruốc! Chính vì thế mà sang đây tôi không bao giờ ăn bún bò Huế tại nhà hàng.
Viết đến đây xin ngừng bút và ngả mũ chào-chapeau-vinh danh các bà nội trợ Việt Nam. Vinh danh thiệt lòng,không giả dối ngượng ngập chi hết! Hồi còn ở quê nhà, phần đông các bà đều là con nhà khá giả, kẻ ở người hầu đông đúc, ít khi phải đi chợ nấu cơm làm bếp. Ấy thế mà khi phải từ bỏ quê hương sang xứ lạ, các bà đã không quản ngại lăn lưng vào bếp, tìm cách xào nấu các món Việt Nam để chồng con ăn uống cho hợp khẩu, nhiều bà nay đã trở thành những Chefs trứ danh chế biến ra các món còn ngon hơn ở quê nhà,chúng tôi đám đực rựa may mắn được thưởng thức, thử hỏi như thế không đáng được công khai vinh danh hay sao ? Ngoài việc chiều chuộng chồng con, các bà còn là những thành viên bảo vệ một kho tàng trù phú quí báu của văn hóa Việt.
TÔN KÀN

HOÀNG YÊN LƯU * THANH CHÂU

Thanh Châu và Nhân văn – Giai phẩm

Hoàng Yên Lưu
Thanh Châu (1912-2007), tên thực là Ngô Hoan, là một nhà văn tiền chiến, từng là tổng thư ký tờ Tiểu thuyết thứ bảy của nhà xuất bản Tân Dân. Ông sáng tác khá nhiều truyện dài, truyện ngắn như: Người thầy thuốc, Tà áo lụa, Cùng một ánh trăng… và nổi tiếng với truyện ngắn Hai sắc hoa ti gôn đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy (1939) và từ đó mới nảy ra huyền thoại TTKH và Thâm Tâm và những bài thơ như Hai sắc hoa ti gôn, Bài thơ đan áo và Bài thơ cuối cùng… Sau Hiệp định Genève, ông về Hà nội và vướng vào vụ Nhân văn – Giai phẩm nên bị bẻ bút từ 1957 và sống cơ hàn cho tới khi tạ thế. Truyện ngắn Áo Tết sau đây được đăng trong Sách Tết 1957 ở Hà nội.
Được biết Sách Tết 1957 có thể là tác phẩm công khai cuối cùng của nhóm Nhân văn – Giai phẩm (trong đó có bài của Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang và thơ Quang Dũng, Hoàng Cầm và Trần Huyền Trân… và do Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên… minh họa) và được nhà xuất bản Minh Đức của Trần Thiếu Bảo tung ra thị trường. Đọc lại truyện Áo Tết trong ngày Xuân Ất Mùi (2015), người đọc sẽ thấy lại bức tranh xã hội bi đát lúc Xuân Đinh Dậu trở về ở Hà nội nơi từng là Hà thành hoa lệ trong cơn gió bụi (1957).
Áo Tết
“Ban chiều mâm cơm cúng có rượu. Hai Tích làm hơn một cút. Tính không hay thế, nhưng thỉnh thoảng đi về mệt, anh ta cũng xin vợ mấy chén. Có rượu vào dễ ngủ. Cả đời, Hai Tích lúc nào cũng như chưa được ngủ cho đẫy giấc. Có khi cầm dao cạo mặt cho khách, anh ta cũng ngủ. Nhưng lạ một cái là chưa cắt đứt tai đứt mũi người nào. Cũng như tài xế đã thuộc đường, nhiều khi ngủ gà, xe cũng không đâm xuống ruộng. Một buổi, ở chợ Bưởi về, bạn đồng nghiệp rủ Tích vào hàng cơm đầu ghế Cửa Nam. Ở đấy thường khi có dồi chó rất ngon.
“Bác sẽ nếm một cốc cái rượu thuốc ở đấy, cứ gọi là hơn thuốc bổ, tha hồ ngủ.”
Rượu thuốc, mụ hàng cơm chế lấy. Cho một ít cam thảo vào, thế là rượu có màu và có mùi thơm. Bạn làm xe chạy cả ngày khắp Hà Nội, chiều đến đều quen vào đấy uống cho giãn gân trước khi về. Hai Tích cho là được lắm. Anh ta biết uống từ chiều hôm đó.
Tuy khắp bãi bờ sông, lúc bấy giờ đã đóng kín cửa, nhưng nhà nào cũng có tiếng nói rì rầm. Hai Tích nghe có bước chân ai đi về phía đê cao, và xa xa có tiếng hai mụ đàn bà đòi nợ chửi nhau.
Tiếng người lẫn tiếng chó sủa ran. Anh thợ cạo sực nhớ rằng cái Tết nhà mình đã đủ. Có hoa giấy ở bàn thờ, có bánh, có tranh lợn, có ít tiền trong đáy hòm, thế là sung sướng. Không ai “tần phiền” Hai Tích. Hai Tích chẳng cần lụy đến ai. Ý tưởng đó làm cho người đàn ông có chén đâm ra kiêu ngạo. Anh ta cười khanh khách, nói to bằng người to họng nhất.
Đạp thốc cái phên bước ra ngoài, giơ tay nghe ngóng những hạt mưa bụi, nhẹ như không, rơi rơi xuống bàn tay, Hai Tích kêu lên:
“Tiết xuân, không có tí mưa này còn ra cái đếch gì?”
Nói được câu đó, anh ta lấy làm hả lắm.
Nhưng giữa lúc ấy thì chị Hai Tích cũng lại sực nhớ ra rằng đứa bé đẻ sau cùng chưa có áo. Chị Hai Tích bận nhiều việc quá. Bao nhiêu là việc, từ sáng đến chiều, chị nhớ làm sao xuể? Đáng lý ra thì chồng chị phải nhắc chị từ ban chiều chứ? Thế là bao nhiêu tội lỗi, chị quy cả vào chồng. Anh chồng đoảng, anh chồng vô vị, anh chồng chè rượu, năm hết Tết đến còn say bét. Chị hét lên:
“Này điên ruột lắm rồi!”
Thấy chồng im, người đàn bà hạ giọng:
“Có biết gì không? Con Thu chưa có áo.”
Hai Tích nhìn lên cái phản gỗ có ba đứa trẻ nằm co quắp ôm nhau ngủ. Hai đứa con trai, một đứa con gái nhỏ. Ánh sáng chiếc đèn dầu tây vàng đỏ treo vách trải lên người chúng. Chúng ngủ rất say. Hai Tích vớ cái khăn quấn cổ, lườm vợ, mặt hầm hầm:
“Làm cái nỡm gì mà bây giờ mới nói? Bỏ tiền đây!”
Ra khỏi nhà, Hai Tích mới biết rằng trời lạnh quá. Tuy vậy mưa bay vào mặt rất dễ chịu. Anh ta nhìn tứ phía, thấy dân cư trên bãi nhà nào cũng có ánh đèn. Anh ta nghe được cả tiếng nước sông Nhị Hà óc ách. Nhìn về phía thành phố sáng rực điện, anh ta thấy bờ đê cao quá, đen quá. Bờ đê như một bức thành ngăn cách bọn người ở phố và người ở bãi.
Tối. Tối mênh mông chung quanh người Hai Tích. Anh ta thu tay vào bụng và bước về phía ánh đèn. Đường đi thấm mưa từ chiều trơn và lội.
Hai Tích đi đến Hàng Đậu thì rẽ sang Hàng Giấy để xuống Hàng Đào. Anh ta biết, chỉ ở đấy mới có bán đủ thứ người ta cần đến.
Chưa bao giờ Hai Tích được ung dung đi chơi dạo như đêm ba mươi Tết này. Ngày thường, buông đũa đã lăn ra ngủ. Đi làm về mệt, còn đi đâu nữa, mà có đi, chắc vợ cũng chẳng bằng lòng.
Hai Tích đến phố Hàng Gai lúc nào không biết. Cái gì cũng ngắm, cũng cho là lạ mắt. Chốc lại sờ qua tờ bạc giấy nằm đáy túi áo trong. Nó vẫn nằm yên ở đấy. Nhưng không có cái áo trẻ con nào vừa ý mà giá lại bằng số tiền trong túi của anh.
Tủ kính sáng choang, các cửa hàng trưng bày biết bao nhiêu hàng đẹp mắt, bao nhiêu thứ xa hoa, khách đi đường ai cũng phải thèm, ai cũng phải dừng chân lại. Từng này tiền? Từng này tiền thì mua cái nợ gì?
Hai Tích nghĩ đến người vợ chi li, keo kiệt ở nhà, và thấy bực mình. Anh không dám vào một cửa hàng nào hỏi giá nữa. Anh sợ người ta chế nhạo. Anh ta không quen mua bán như thế bao giờ. Đó là phần việc của đàn bà, của chị Hai, sao lại để anh đi?
Đến phố Hàng Bông, một tiếng nói to về phía tay phải làm cho Hai Tích giật mình đứng lại. Trên bậc cửa một hiệu húi tối tân, một người thợ cạo choàng một cái áo khoác trắng tinh, đương tiễn khách ra về. Người thợ đang còn trẻ, đầu chải bóng, lại đi giầy, cúi đầu rất lịch sự để chào người khách cuối cùng của một năm sắp hết.
Hai Tích nhìn rất chăm chú người đồng nghiệp, và thấy hắn không phải là một tay thợ cạo. Hắn khác mình đến chừng nào! Hai Tích bỗng thấy trong lòng rầu rĩ quá. Hình ảnh Hai Tích, người thợ cạo rong, áo quần tiều tụy, xách một cái hòm gỗ đựng một vuông khăn bẩn, một con dao cùn, một cái “toong-đơ”, một cái gương tàu, hiện ra, đi thất thểu trên các vỉa hè thành phố, các vùng chợ ngoại ô lầm bụi. Hai Tích rầu rĩ quá. Đêm ba mươi Tết. Cái nhà húi tóc tân thời, sạch sẽ và làm dáng quá chừng! Hai Tích nhìn vào đấy như người ta nhìn một cảnh thiên đường.
Ngày nào cũng thế, từ sáng sớm đến sẩm chiều, người thợ cạo rong cũng đã làm cho thiên hạ tất cả độ vài ba chục cái đầu hóa ra mới mẻ. Chao là những cái đầu! Những cái đầu mới sạch làm sao! Những cái đầu ở ngã ba, ngã bẩy, hôi hám và đầy cáu, những cái đầu của trẻ, sài lở, bôi phẩm xanh, để cho ruồi họp chợ. Những cái đầu tóc cứng như đanh để rụng xuống vuông khăn quàng cổ những đám gầu, cả những con chấy nữa.
Hơn bù kém, mỗi ngày mười cái, như vậy một năm trời, hóa ra anh ta đã húi chừng ba ngàn sáu trăm năm mươi cái đầu người tứ chiếng rồi ư? Con số ấy làm cho Hai Tích nổi khùng. Chừng ấy cái đầu mà phải húi đứng, phải cạo, phải lấy ráy tai, không một phút nào nghỉ cả. Có thể phát điên lên được!
Hai Tích không dằn được nữa. Anh ta sinh ra đời, có phải là để đi ngoài đường như vậy mãi thôi ư? Anh ta thấy mình có thể làm nhiều chuyện khác hơn.
Hai Tích thọc mạnh tay vào túi áo. Tờ bạc giấy của vợ đưa vẫn nằm nguyên trong đó. Từng ấy tiền? Đi uống rượu với anh em cũng không đủ dính môi, nữa là mua áo làm gì? Cả năm sao không mua áo, lại để đến ngày năm tận tháng cùng này? Con bé có thể mặc áo cũ ăn Tết, can chi phải làm tội bố? Hai Tích đâm ra thù tất cả. Anh thấy rằng anh khốn nạn quá, không có một chút sinh thú gì trên đời. Người ta thở hết không khí của anh. Người ta sống hết cả phần anh.
Hai Tích nhớ đến cái quán cơm của những người làm xe ở Cửa Nam.
Chị Hai Tích thu vén trong nhà xong ngồi nghỉ ăn một miếng trầu. Nhưng chị nghĩ không lâu. Chị không quen ngồi nhàn bao giờ cả. Chị đứng lên đi tìm mấy cái áo rách của chồng con. Công việc đó là thói quen của tất cả những đàn bà suốt đời vá víu. Gió lồng lộng từ phía sông lên. Mưa rỏ trên mái lều càng nặng hạt. Chị Hai Tích thương chồng. Chị lo người ta bán đắt cho chồng. Lo không đủ tiền mua nổi cho con. Khéo mặc cả thì mua được chiếc áo len. Con bé sẽ ấm hơn. Nó sẽ mừng biết mấy!
Chị Hai Tích đương tính thế, thì có tiếng chân người bước gần nhà. Tiếng chân người bước như nện đất. Chị lắng tai, và rõ ràng đó là tiếng của Hai Tích đương hát như một người hóa dại.
Cánh cửa mở ra. Một mùi men ghê gớm bay vào mũi người đàn bà vất vả. Chị Hai Tích run lên. Chị hiểu rồi, chị hiểu rồi! Người ta đem tiền của chị đi uống rượu. Uống mất áo của con rồi!
Để cho anh chồng khệnh khạng vào nhà, chị Hai Tích chưa muốn nói gì vội cả. Chị nén giận xuống như người ta nén thuốc pháo. Chị dò xét. Chị thấy chồng đứng dừng lại giữa nhà, và cúi đầu xuống không cử động. Chị đi lại phía giường nằm của mấy đứa trẻ, chờ cơ hội. Bỗng anh Hai Tích giơ tay ra như mời một người bạn vô hình:
“Bác ngồi xuống đây bác ạ. Chúng ta ăn thêm cái gì cho ấm bụng. Bác có uống nữa không? Tôi còn rượu cho bác uống. Bác cứ yên tâm. Bác sẽ ngủ lại đây ăn Tết với tôi.”
Người phó cạo nghển cổ nhìn lên cái bàn thờ ở chính giữa nhà. Anh ta nhận ra, lờ mờ, một chồng bốn cái bánh chưng, một quả bòng, một đĩa cam ngô, vài đĩa bánh thờ… Anh ta nói xong gục đầu xuống như gà rù, và nôn oẹ. Chị Hai Tích nhảy chồm lên như một con muông đẻ. Chỉ một bước, chị đã tới gần chồng. Chị hét vào mặt người thợ cạo:
“Tiền đâu hở? Tiền đâu hở?”
Hai Tích không thèm nói một lời. Anh đứng thẳng lên, cho tay vào túi áo trong, quẳng ra ít tiền còn sót lại.
Chị Hai Tích bò ngay ra đất và la trời. Chị khóc như trong nhà vừa mới có kẻ từ trần. Chị kể lể những chuyện từ mười năm trước. Chị oán mẹ đã gả mình cho một đứa thất phu. Chị phân bua với hàng xóm rằng mình quả là một người đàn bà nhục quá, rằng gầm trời không có ai khổ hơn mình. Chị chạy băng ra bãi, tìm đến những người đàn bà cùng cảnh…
Đêm đã khuya. Nhưng chị Tích không sao ngủ được. Chị lắng nghe tiếng ngáy của chồng nằm phủ phục trên giường, thỉnh thoảng lại ợ, nấc lên như người sắp chết.
Chị ngồi nhỏm dậy. Người đàn ông mê man không đắp chiếu. Chị vừa lo, vừa giận. Chị đứng lên đi thắp đèn soi gậm giường, soi liếp che cửa. Đêm cuối năm có thể có kẻ trộm rình mò. Chị trở lại chỗ nằm cạnh con, và nghĩ:
“Trời lạnh lắm, càng về sáng càng lạnh.”
Chị không ngủ được. Chị nhớ lại những ngày hàn vi, cực nhục của đời mình. Hai vợ chồng lấy nhau cùng xơ xác. Chị đi bán quà rong. Chồng đi cạo mặt. Cái túp lều đầu tiên trên bãi. Những ngày nhịn đói. Những ngày thai nghén, ốm đau. Những ngày bồng con chạy lụt trên bờ đê. Nước sông Nhị Hà đỏ như máu, đuổi dân cư ở bãi lên đê mỗi năm một bận. Cái lều của chị tan tành. Những người mất con, mất của than khóc chung quanh. Ai cũng khổ, cũng rách, cũng kêu trời. Chị ôm con ngồi đợi nước rút, đói khát và không có sữa cho con…
Nhưng, hai đứa bé ngày nay đã lớn. Một đứa đi đánh giầy mũ thuê trong thành phố. Một đứa đi theo bọn trẻ con làm xiếc trên xe điện. Hai đứa đã kiếm ra tiền. Còn đứa con gái nhỏ? Nhớn lên nó sẽ đi khâu, đi bán hạt bí rang, nó sẽ giúp được chị. Trời sinh voi sinh cỏ, không có gì phải sợ. Người ta cứ đắp đổi lần hồi là được cả. Trời không để chết ai.
Hai Tích cựa mình, lại nói mê lảm nhảm.
Người vợ nhìn chồng cảm động:
“Hắn làm ăn suốt cả năm…”
Chị lại đứng lên, đi tìm chiếc chiếu mới, nhè nhẹ tay, đắp lên mình người say rượu. Hai Tích cựa mình. Anh nói với một người khách quen, giọng thiết tha:
“Cháu xin cụ thế thôi… Không dám… cụ lại nhà…”
Chị Hai Tích bỗng thấy tức cười.
Chị mím môi, thấy tiêu tan hết thảy giận hờn trong bụng.
Gió thổi vào các khe hở của gian nhà trên bãi vi vu như sáo.”
(Đăng trong Sách Tết 1957)
Hoàng Yên Lưu

BÙI BẢO TRÚC * CẦU AN

Thư gửi bạn ta :Cầu an

Bùi Bảo Trúc
Một câu trong bản hiến pháp Hoa Kỳ, câu “all men are created equal”, tất cả mọi người sinh ra đời đều bình đẳng nhất định không đúng trong tất cả mọi trường hợp. Câu này cũng đã bị mấy con heo trong cuốn Animal Farm của George Orwell sửa lại khi nó được viết trên bức tường của cái lẫm lúa nơi bọn gia súc họp với nhau trong những buổi tối. Mấy con heo gian ác đã thêm một câu vào phía sau để thành: “All animals are equal, but some animals are more equal.” Tất cả mọi thú vật đều bình đẳng nhưng vài con thú thì bình đẳng hơn.
Mới đọc thì thấy không ổn, nhưng nghĩ lại thì cũng thấy xuôi tai. Không phải con thú nào cũng như con thú nào. Những con ngựa đua thì được săn sóc, được đối xử tử tế hơn những con ngựa thồ, những con ngựa kéo xe thổ mộ gầy ốm tội nghiệp ở Việt Nam. Làm thế nào chúng bình đẳng với nhau được.
Luôn cả những đồ vật cũng vậy. Đôi giầy của Kate Middleton chắc chắn được đối xử nhẹ nhàng hơn những đôi giầy của chúng ta chẳng hạn. Chắc chắn là như vậy. Chiếc xe tôi đang đi cả hai tháng nay không được những bàn tay của mấy ông Mễ vỗ về đánh bóng. Thế thì làm gì có chuyện xe cộ bình đẳng với nhau tuy cũng cùng ra đời ở mấy cái xưởng sản xuất xe hơi ở Đức cả đấy chứ.
Vì thế, chẳng chỉ thân gái như hạt mưa sa (hạt vào gác tía, hạt ra cánh đồng) mà luôn cả những cái xe cũng vậy. Chiếc xe của tôi chạy cả hai chục năm nay bị đối xử chẳng thể nào được coi là tử tế ngoại trừ đúng ngày, đúng tháng hay mấy cái đồng hồ hiện lên vài ba câu hăm dọa hay nhắn nhủ thì mới thay nhớt, điều chỉnh cái này, sửa lại cái kia.
May mà cái xe của tôi không biết đọc báo chứ nếu nó mà đọc được mấy tờ báo trong nước thì không biết nó nghĩ về tôi như thế nào nữa. Cũng là xe cả, mà tôi đối xử với nó thua xa cách đối xử của một đại gia ở tỉnh Kiến An hôm tháng trước. Đúng ra là ngày 21 tháng 01 năm 2015. Chàng mới mua một chiếc Porsche, hình như đó là một chiếc 911 mầu trắng. Chàng liền thuê mấy ông sư (chắc là quốc doanh) đến đọc kinh cầu an cho cái xe của chàng. Xe mới mua, trước khi chạy những cây số đầu tiên, chàng kiếm sư nhờ, (nhưng chắc là thuê), vì chắc không có sư (?) nào chịu cầu an chùa (?) cho chàng cả. Trong ba tấm hình đi kèm theo bản tin cầu an cho xe, người ta thấy có hai người đàn ông mặc áo tu đi vòng quanh chiếc Porsche. Một người tay cầm lọ nước, chắc là nước phép để vẩy lên xe. Người kia chắp tay cung kính theo sau.
Chao ôi là sư với chả sãi! Tu hành không biết bao nhiêu năm để rồi vì vài triệu tiền công phải chắp tay cung kính với cái Porsche. Hai người đàn ông này cầu xin những điều gì cho cái đống sắt ấy, cho dù là nó được mua với cả trăm ngàn đô la?
Có thể là như thế này: Lạy Phật, Phật phù hộ độ trì cho cái Porsche này cho nó chạy ngon lành đừng nằm đường bậy bạ, không bị mấy đứa ghen ghét cào trầy sơn cho bõ ghét. Phật phù hộ chủ nó lái không nhắm mấy cái gốc cây, mấy cái cột đèn mà nhào đến, có chở theo con nào thì thỏa sức vui chơi, khỏi bị thằng C. đô la qua mặt hay mấy em chân dài đi những chiếc xe “khủng” khác át giọng. Phật phù hộ chủ nó an toàn trên xa lộ, không bị bọn chống tham nhũng cuội đòi chứng minh lấy tiền đâu mua xe, đòi xem giấy chủ quyền dọc đường xin tiền mãi lộ. Cầu Phật phù hộ cho mấy con chân dài ham ăn ham chơi không chịu làm cháu ngoan bác Hồ được thả cửa ăn chơi trước khi bị lừa bán vào động điếm bên Trung quốc…
Chắc phần cầu an cho chiếc Porsche phải đại khái như vậy.
Nhưng đã có trò cầu an cho chiếc xe Porsche thì chắc mấy ông sư này sẵn sàng bảo gì làm nấy, cứ chi cho ít tiền là lại kinh kệ xuống đường ê a đọc kinh ngay chứ gì. Chao ơi, lúc ấy thì tha hồ hốt bạc. Các thí chủ muốn mấy ông sư quốc doanh này làm gì là các ông làm ngay. Có người nhờ cầu an cho cái mũi plastic cũng được ngay. Người kia nhờ cầu an cho hai bịch silicone, cho cái bộ phận vừa được làm nhỏ như thời con gái chắc hai ông sư này cũng làm liền.
Vui kể gì.
Có một chi tiết khác cũng nên biết ở đây, đó là chủ chiếc xe Porsche này là một cán bộ nhà nước. Không biết lương lậu bổng lộc được bao nhiêu mà còn làm kiêm luôn… đại gia rồi còn mua được cả xe Posche nữa. Không hiểu được.
Bùi Bảo Trúc

Friday, February 27, 2015

HUYỀN CHƯƠNG QUÝ * VƯỢT BIÊN ĐƯỜNG BỘ

Vượt Biên Đường Bộ
Tác giả: Huyên Chương Quí
Bài số 3006-28306-vb5093010

Tác giả Huyên Chương Quí nhận giải thưởng Việt Báo Viết Về Nước Mỹ 2009 và hình bìa sách mới. Trân trọng giới thiệu sách Khát Vọng Tự Do của Huyên Chương Quí với thân hữu Viết Về Nước Mỹ. Mua sách, xin liên lạc tác giả, KHAI HUY, Địa chỉ: 1250  S. Euclid St. # I - 350 Anaheim, CA 92802, USA. Giá sách: 17 Mỹ kim (Thêm cước phí $2 trong nước Mỹ, $5 ngoài nước Mỹ)
Tác giả Huyên Chương Quí, tên thật là Khải Huy, giải thưởng Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2009, vừa báo tin vui: đã hoàn tất việcï xuất bản  tác phẩm đầu tay.Tập Truyện “Khát Vọng Tự Do”. Sách hiện đã sẵn sàng gửi tới bạn đọc, và sẽ chính thức ra mắt trong tháng 10 sắp tới.
Là một sinh viên Saigon, sau tháng Tư 1975, tác giả từng  bị chế độ cộng sản xua đi làm “nghĩa vụ quân sự” tại chiến trường Kam Pu Chia. Cuối năm 1980, Quí một
một mình vượt biên đường bộ,  qua biên giới Thái Lan, hai lần vượt ngục khi bị quân của Khờ Me Đỏ và sau đó là Khờ Me Tự Do bắt giam, định cư tại Mỹ từ 1982. Hồi ký sau đây  trích từ sách Khát Vọng Tự Do, kể lại những gian nan của người vượt biên đường bộ, từng chứng kiến thảm cảnh người vượt biên bị quân Khờ Me Đỏ cướp bóc, hãm hiếp, tàn sát.

***
Vượt Biên Giới
Nước Thái ở hướng Tây Campuchia. Khi mới vào rừng, tôi cứ nhắm hướng Tây đi tới, gần gần con đường mòn, để tránh bị lạc hướng. Lần lần, có nhiều cây rừng rậm rạp che khuất, hoặc nhiều vũng bùn lầy rộng chắn lối, tôi phải đi vòng đến những nơi thưa cây nên xa dần đường mòn, bị lạc luôn trong rừng.
Trời không trăng. Trong đêm tối, tôi phải vẹt cây gai, cây dại dầy đặc nên tốc độ đi rất chậm. Thời khắc trôi qua theo từng bước chân, tôi chẳng biết đi được bao xa rồi. Nếu muốn quay về cũng không biết đi theo hướng nào. Thôi, cứ bước tới. Tối nay tìm chỗ ngủ sớm, đợi ngày mai xem mặt trời, sẽ dễ định ra hướng Tây.
Rán đi tiếng nữa, bụng cồn cào. Tôi chợt nhớ từ xế chiều đến giờ chưa ăn gì. Nhịn đói thôi. Mai tìm trái cây rừng để ăn. Đến một vũng nước, tôi vốc nước uống đầy bụng rồi đi tiếp. Hai năm trước theo đơn vị hành quân, vài lần đóng quân trong rừng, nhưng có đồng đội chung quanh, nên không có gì sợ hay buồn. Bây giờ, một mình trơ trọi, chung quanh là màn đêm thăm thẳm, tôi thấy sợ sợ. Thêm cái cảm giác thật cô đơn, buồn bã khi nhìn lại mình như một bóng ma trơi trong rừng đêm. Thấm mệt rồi, nhịn đói ngủ thôi.
Tôi bứng nhiều bụi cỏ đem đến lót nơi một lùm cây rậm rạp. Tiết trời mùa đông ban đêm, lúc đi không thấy lạnh, nhưng khi nằm xuống cỏ, thấy lạnh kinh khủng. Chỉ mặc cái quần sọt và áo thun ngắn tay mỏng manh, nên cả người tôi run lên cầm cập. Tôi nằm co quắp người lại cố dỗ giấc ngủ. Cái lạnh, cái đói hành hạ, lại có nhiều tiếng ù u, ù u vang vang ở xa xa, và tiếng sột soạt của thú rừng đi ăn đêm, tôi không thể nhắm mắt.
Thao thức đến trời tờ mờ sáng, tôi ngủ luôn một giấc say sưa. Thức dậy, đã 12 giờ trưa. Nắng chang chang chói hai con mắt. Tội tìm vũng nước rửa mặt và vốc nước uống. Mặt trời ngay trên đỉnh đầu. Thế này, biết hướng nào là hướng Tây"
Giải quyết cái đói trước đã. Tôi đi vòng vòng tìm trái cây rừng. Tìm cả tiếng vẫn không thấy một loại cây nào có trái. Mặt trời đã hơi nghiêng về phía Tây. Nhịn đói đi vậy. Tôi phải luồn lách qua nhiều khu cỏ gai, tránh những đám cây rậm, vòng qua những đầm nước rộng, nên có  lúc phải rẽ sang Nam, lúc quẹo qua Bắc, rồi mới tiếp tục đi theo hướng Tây. Mệt thì ngồi nghỉ chút, thấy đói thì uống nước vũng cầm hơi. Đi sáu tiếng rồi vẫn không thấy biên giới Thái đâu.
Mặt trời dần tắt nắng. Bóng tối dần phủ xuống cả khu rừng. Tôi lại phải dò dẫm đi từng bước. Gai cào sước khắp tay, chân, đau buốt. Bao tử, ruột, gan muốn nát vụn vì sự cào cấu của cơn đói. Hai ngày rồi không ăn gì. Lần đầu tiên tôi mới thấm thía cái đói thật sự như thế nào. Thèm cho vào bụng bất cứ cái gì, dù là vỏ cây, lá cây hay cỏ dại để có thể qua được cơn đói. Tôi còn đủ lý trí không làm như vậy vì sợ bị trúng độc, sẽ ngã bệnh. Bệnh nặng trong cảnh một thân, một mình nơi rừng sâu lạnh lẽo thế này đồng nghĩa với cái chết. Sẽ bỏ xác trong rừng sâu không ai biết đến. Chỉ còn biết uống nước vũng dằn bụng. Rán đi thêm hai tiếng nữa, tôi lại bứng cỏ lót chổ nằm trong lùm cây rậm.
Vừa chợp mắt ngủ được một chút thì mưa gió trùm phủ khu rừng. Tôi ngồi dậy, co rúm người vì lạnh. Nước mưa tạt xối xả lên người. Tôi chui vào một bụi cây rậm nhất, vẫn không tránh được nước mưa. Người tôi run lên từng hồi như bị mắc kinh phong. Mưa càng lúc càng to. Gió rít liên hồi, cây rừng nghiêng ngả. Đến sáng, mưa bớt dần, không dứt hẳn.
Suốt đêm không ngủ, phải chịu đựng mưa gió, tôi mệt quá, nhưng cũng cố gắng lên đường. Đi loanh quanh suốt buổi trong trời mưa rỉ rả. Lại xui, đôi dép bị đứt quai. Đành đi chân không. Rừng thẳm âm u trong cảnh trời tù mù không thấy mặt trời kéo dài năm ngày liền. Tôi không phân biệt được phương hướng, cứ đi lòng vòng mãi. Chỉ thấy rừng tiếp nối rừng. Đi chân không trong rừng là cả một cực hình. Hai chân chảy máu, bắt đầu sưng lên. Tôi đi cà nhắc từng bước một.
Nhịn ăn bảy ngày rồi. Bao tử đã tê liệt nên tôi không còn cảm giác biết đói nữa. Nước vũng kéo dài sinh mạng tôi. Thân xác rã rời, nhiều khi ngất xỉu, không biết bao lâu, tỉnh dậy lại loang choạng bước đi. Tôi không còn ý thức ngày và đêm nữa, có lúc cảm thấy tuyệt vọng lắm. Quý ơi ! Mày không thể chết lặng lẽ trong rừng sâu thế này. Phải sống, phải tiến tới để tìm được bến bờ tự do. Tôi quỳ xuống khấn nguyện Ơn Trên thiêng liêng phù hộ cho tôi vượt thoát khu rừng. Với ý chí sinh tồn mạnh mẽ, cùng với niềm tin có Ơn Trên cứu độ, tôi cứ cà nhắc từng bước đi tới.
Mưa đã dứt hẳn. Tôi có được một đêm ngủ thật say đến 2 giờ trưa hôm sau. Có sức lực, thêm trời nắng tốt và mặt trời chỉ hướng Tây, tôi lần ra được dấu vết xe bò hằn trên cỏ. Đi theo đường xe bò bốn tiếng, rừng thưa dần, và trước mặt tôi là một khu vườn chuối. Đã ra khỏi rừng.
Tính ra, tôi bị lạc trong rừng tám ngày, đêm. "Được sống rồi...Được sống rồi !" Tiếng reo to của tôi đem đến sự hiểm nguy. Hai tên lính Polpot không biết từ đâu lù lù hiện ra. Tôi bị chúng chỉa súng đưa đến một căn lều tranh lụp xụp trong vườn chuối. Lúc đó, có sáu người vượt biên khác cũng đang bị một toán lính Polpot dẫn tới. Chúng tôi bảy người, bốn đàn ông và ba phụ nữ trẻ đẹp bị chúng bắt cởi hết quần áo. Hai tên đứng chĩa súng, bốn tên lục các quần áo tìm vàng, bạc. Còn ba tên lần lượt khám xét từng người chúng tôi để lấy nữ trang, đồng hồ. Tôi chỉ có cái đồng hồ đeo tay bị chúng lột ngay. Ba người phụ nữ bị hai tên lính vừa khám xét lấy nữ trang vừa mò mẫm khắp chổ kín. Lục xét xong, chúng cho bốn đàn ông được mặc đồ lại và ngồi xuống một góc nhà, còn ba phụ nữ vẫn bị bắt đứng trần truồng như nhộng trước mắt mọi người.
Trời chạng vạng, bọn lính Polpot tụm lại ăn cơm. Họ không cho chúng tôi ăn uống gì. Cơm nước xong, ba tên cầm súng ra đứng canh trước cửa, sáu tên còn lại trong nhà kéo ba cô gái nằm xuống đất để thỏa mãn dục vọng. Các cô dẫy dụa, la hét, van xin. Nghe tiếng nói, tôi nhận ra hai cô người Việt, một cô người Tàu.
Mặc cho các cô kêu gào, khóc lóc thảm thiết, chúng vẫn tiếp tục hành vi cầm thú. Một anh trong nhóm ba đàn ông bị bắt chung bổng hét lên "Đ.M... Tao liều chết với tụi mày" rồi nhảy vào kéo bật hai tên lính Miên ra khỏi thân thể trần truồng của hai cô gái Việt. Một người đàn ông Việt khác cũng nhảy ào tới giúp sức cho anh. Có lẽ hai anh là người thân của hai cô gái. Cả ba, bốn tên lính Miên cùng nhào vào đấm, đá túi bụi hai anh. Sự uất ức biến thành sức mạnh, hai anh can đảm chống đỡ và đánh trả lại. Thấy cảnh hổn chiến kéo dài, một tên lính Miên cầm súng gác ở cửa chạy vào dùng báng súng nện liên tục lên đầu một anh. Máu trên đầu anh tuôn xối xả; anh ngã lăn kềnh ra mặt đất, nằm bất động. Tiếp theo là hai, ba tiếng súng nổ. Anh thứ hai bị trúng đạn cũng đổ nhào cả thân người xuống đất. Tên lính Miên còn điên cuồng dí họng súng gần mặt xác chết bắn thêm vài phát nữa. Bấy giờ, tôi đã ngồi thụp xuống ở xó lều. Thừa lúc lộn xộn đó, trong màn đêm bao phủ, tôi từ từ bò ra vườn chuối. Khi bò khá xa căn lều tranh, tôi đứng dậy đi cà nhắc theo đường xe bò. Nhiều tiếng súng nổ sau lưng. Với lòng cầu sống, dù chân bị sưng, tôi vẫn chạy thục mạng, nhanh như gió. Không biết bao lâu, đuối sức, tôi nằm ngã ra trên một bãi cỏ. Máu chảy dầm dề ở hai bàn chân, nhức nhối không tả xiết.
Trời tối đen. Chung quanh yên tĩnh. Giờ này cũng khuya. Tôi cố gắng vẹt cỏ tranh bò tới. Đường xe bò được tiếp nối bằng một con đường đất khá rộng. Tiếp tục bò theo con đường đất, khoảng tiếng sau, trước mắt tôi hiện ra một bờ hào cao, dài tít tắp, có bóng  người lính cầm súng đứng trên một vọng gác. Tôi đoán đây là biên giới Thái. Lòng mừng rỡ như được thấy cha mẹ sống lại, tôi chậm chạp bò đến gần bờ hào. Nhờ trời tối, lính Thái không nhìn thấy, tôi vượt qua biên giới Thái dễ dàng. Con đường dẫn đến bến bờ tự do đang thênh thang phía trước. Tôi không ngờ... vẫn còn nhiều hiểm nguy đang chờ đón tôi !
Vướng Cảnh Lao Tù
Qua khỏi biên giới, trước mắt tôi là đường lộ nhựa. Quên hẳn cơn đau của hai bàn chân, tôi đứng dậy đi tới. Khoảng 30 phút sau, thấy có nhiều ánh đèn leo lét trong những ngôi nhà ở xa xa hai bên đường, tôi đoán là nhà dân nên quẹo vô một lối mòn, đi đến khu nhà bên trái. Tôi vào trúng một căn nhà bếp, có sẵn cơm, thức ăn trong vài cái nồi trên bếp. Đã nhịn đói suốt tám ngày, nên quên chuyện phải xin phép chủ nhà, tôi vội lấy dĩa, muỗng bới cơm, lấy thức ăn. Trong lúc vội vàng, tôi làm rớt cái nắp nồi gây nên tiếng động lớn trong đêm. Có tiếng người chạy đến. Tôi nhảy ngay xuống đường mương sau bếp. Vài phút sau, một họng súng M16 chỉa xuống đầu tôi. Thì ra đây là trại lính Thái. Tôi bị bắt, đưa vào một ngôi nhà rộng. Tôi nói bằng tiếng Anh là tôi đói bụng lắm, họ lấy cho tôi dĩa cơm với trứng chiên. Tôi ăn ngấu nghiến thoáng cái đã sạch dĩa. Vừa ăn xong, tôi bị một anh lính Thái chỉa súng lục vào đầu, tra khảo :
-  Are you vi xi " ( VC )
Hiểu họ đoán tôi là bộ đội Việt cộng, tôi vội trả lời :
-  No vi xi. I am student from Saigon.
-  Why you coming here"
-  I’m looking for freedom. I just want to go to America
Anh lính Thái gằn giọng:
-  I don t believe. You are vi xi.
Ngay sau câu nói là anh đấm vào mặt tôi, và hét lớn:
 - You, vi xi., vi xi.
Tôi cũng hét lên :
-  No ! I am not a vi xi.
Người lính Thái càng tức giận, đấm, đá tôi liên tục, còn lấy súng lục nện vào đầu tôi. Vừa khi thấy máu đầu chảy xuống lênh láng trên mặt, trên áo thì tôi ngất xỉu. Sáng tỉnh dậy, đã thấy một người lính Thái già đứng trước mặt. Ông nói tiếng Việt :
-  Tôi là trung tá, tư lệnh ở đây. Sao em bị đánh như vầy"
Tôi mếu máo :
-  Dạ. Họ nói em là Việt cộng nên đánh em. Em là sinh viên ở Sài Gòn đi tìm tự do.
Vừa nói, tôi vừa lấy ra bọc ni long có vài hình ảnh người thân và thẻ sinh viên đưa cho ông, nói tiếp:
- Ông xem giùm, em là sinh viên trường đại học Văn khoa. Em vượt biên qua đây để xin đi Mỹ.
Ông trung tá Thái xem qua giấy tờ, gật đầu :
-  Được rồi. Em chờ đây, chút có xe đến chở em vào trại tị nạn. Hồi trước tôi có tham chiến tại miền Nam Việt Nam. Tôi có vợ Việt ở Gia Định. Em an tâm nhé.
Mừng quá, tôi yên trí ngồi chờ. Khoảng nửa tiếng sau, xe đến chở tôi đi, nhưng không chở đi trại tị nạn mà chở đến Ty công an A Ran. Công an Thái tịch thu hết giấy tờ, hình ảnh trong bọc ni long của tôi và tống tôi vào nhà tù.
Sau ba ngày giam giữ, họ chở tôi vào trại lính Khmer Tự do ở trên phần đất Campuchia sát biên giới Thái. Tôi cứ đinh ninh đây là thủ tục phải như vậy trước khi được cho vào trại tị nạn. Ngờ đâu, lính Khmer Tự do đem nhốt tôi vào một cái chuồng gỗ thấp lè tè, phải khom khom người khi xê dịch. Trong chuồng gỗ đã có hai thanh niên người Việt gốc Hoa. Một người có vẻ lớn tuổi hơn cho biết họ là anh em ruột, ở Chợ Lớn, bị bắt nhốt vào đây nửa tháng rồi.
Hàng ngày, chúng tôi bị lính Khmer Tự do bắt đi lao động, đào hầm, hố, đốn cây, chẻ củi. Họ cho chúng tôi ăn ngày hai bửa cơm trắng với muối. Mỗi cuối tuần được ăn một bửa cơm với cá hộp. Tôi lo lắng, không biết phải chịu đựng kiếp lao tù này đến lúc nào"!.
Một buổi trưa, sau khi đào xong cái mương, được cho ngồi nghỉ, tôi hỏi một anh lính Khmer Tự do biết tiếng Việt :
-  Anh có biết chúng tôi chừng nào được cho vào trại tị nạn không "
-  Không biết nữa. Khi nào "ông lớn" thấy vui thì thả các anh.
Tôi than thở :
-  Tôi bị nhốt ở đây gần tháng rồi. Biết chừng nào "ông lớn" vui đây" Anh có thể thả tôi đi không "
-  Đâu được. Anh muốn tôi bị nhốt như anh hở" Ông lớn nghiêm lắm.
Tôi hỏi dò :
-  Hình như trại tị nạn ở gần đây phải không anh"
-  Ừa. Có trại tị nạn NW9 cách đây hai cây số.
 Tôi chỉ ra hướng con đường ở xa xa ngoài trại lính, hỏi :
-  Thỉnh thoảng tôi thấy có xe Jeep cắm cờ thập tự đỏ chạy ngang. Họ là ai vậy"
-  Là Hồng thập tự Quốc tế. Họ lo cho dân tị nạn trại NW9, và cũng thường cung cấp gạo cho trại lính chúng tôi để đổi lấy người tị nạn bị "ông lớn" bắt giữ.
-  Vậy sao "ông lớn" các anh không trao đổi chúng tôi "
-  Thì vừa rồi tôi có nói, khi nào  ông lớn" vui sẽ trao đổi các anh để lấy gạo.
Được anh nói chuyện cởi mở, tôi hỏi thêm :
-  Các anh có phải lính của chế độ Lonnol không "
-  Phải, nhưng bây giờ là lực lương Khmer Tự do của tướng Sonsann.
-  Tôi cũng có người anh rễ phục vụ trong chế độ Lonnol từ năm 1970. Anh rễ tôi tên Thạch Vọng, cấp bực sau cùng là thiếu tá.
Anh lính Miên ngạc nhiên :
-  Hả" Thiếu tá Thạch Vọng hả" Phải ổng có vợ người Việt không" Bả tên Mùi, có hai con trai.
  Tôi muốn hét lên, nhưng kịp ngăn lại, nói trong xúc động:
-  Đúng rồi. Đúng rồi... Anh chị của tôi đó. Rồi tôi hỏi dồn dập :
- Anh quen với ảnh chỉ hở" Bây giờ ảnh chỉ ở đâu " Có ở đây không "
Người lính Miên lắc đầu:
-  Chết hết rồi. Khi Polpot vào Nam Vang, đơn vị do ông Vọng chỉ huy rút vào rừng kháng chiến, đóng trại gần biên giới Thái. Được một thời gian, lính Polpot tấn công vào trại, tiêu diệt tất cả. Ông bà thiếu tá Vọng và hai con trai đều bị chúng giết.
ôi sững sờ trước cái tin buồn bất ngờ này. Niềm hy vọng có ngày anh chị em được trùng phùng đã tan thành mây khói! Tôi bật khóc nức nở.
Tối hôm đó, tôi không ngủ được. Hình ảnh chị Mùi, anh Vọng và hai cháu cứ chập chờn trong đầu tôi. Vậy là hết, anh Phùng, anh Thiện, em Hỷ đã mất vì đất nước, bây giờ thêm tin chị Mùi chết thảm cùng với gia đình, tôi thật sự không còn người thân ruột thịt nào nữa ở trên đời!
Biết được ngoài trại có xe Hồng thập tự thường chạy ngang qua, tôi lập kế hoạch trốn thoát. Sau hơn một tháng bị nhốt, lao động khổ sai, tôi không thể chờ đợi thêm cái ngày được "ông lớn" của trại Khmer Tự do này vui vẻ tha cho.
Một buổi chiều, sau giờ lao động gần con đường lớn ngoài trại, tôi giả vờ đau bụng và xin phép người lính Miên cho tôi đi giải quyết. Người lính Miên đứng chờ. Tôi chui vào một lùm cây rậm. Khi thấy người lính Miên châm thuốc hút và lơ đãng nhìn đi nơi khác, tôi vụt chạy ào ào một quãng xa rồi phóng ra khỏi hàng rào trại. Vài tiếng súng nổ ở phía sau, nhưng tôi đã chạy tới đường lớn cách trại khoảng trăm mét. May mắn thay, từ xa có xe Jeep cắm cờ Hồng thập tự chạy tới. Tôi đứng giữa đường, giơ hai tay lên. Xe ngừng lại trước mặt tôi. Hai người Mỹ xuống xe hỏi:
-  Are you Vietnamese"
Tôi mau mắn trả lời:
-  Yes! I am Vietnamese. I came from Saigon. I looking for freedom. Please help me.
-  OK! We help you.
Tôi mừng rỡ như chết đi sống lại, nhảy lên xe Jeep. Nghe tôi khai bị đói, lạnh trong rừng suốt tám ngày đêm, Hồng thập tự chở tôi vào một bệnh viện dã chiến trong vùng Khmer Tự do, nằm dưỡng bệnh ba ngày. Tôi được cho uống thuốc, ăn cháo và các trái cây bổ dưỡng. Đươc sự che chở và chăm sóc của Hồng thập tự, tôi đã thật sự hồi sinh, nhìn thấy trước mắt một tương lai tươi sáng. Tôi thầm cảm tạ Trời cao thiêng liêng và Ông Bà, Cha Mẹ, Anh Chị Em linh hiển đã phù hộ cho tôi được chuyển nguy thành an.
Sau khi khỏe mạnh, tôi được Hồng thập tự chở vào trại tị nạn NW9. Bấy giờ là giữa tháng 1/1980. Tôi mừng rơi nước mắt. Cảm ơn Hồng thập tự Quốc tế. Cảm ơn những tấm lòng nhân ái của nhân viên Hồng thập tự và Cao ủy Liên hiệp quốc.
Trại Tị Nạn
Trại NW9 là trại tị nạn dành cho người vượt biên đường bộ. Trại nằm trên lãnh thổ Campuchia nhưng ở sát bờ hào biên giới Thái. Một cây cầu nhỏ bắc ngang từ bờ hào biên giới qua đến cổng trại. Hàng ngày, nhân viên Hồng thập tự từ bên đất Thái chỉ bước vài bước trên cầu nhỏ này là vào trại để làm việc. Ngày đầu được vào trại, lòng rộn ràng vui sướng, tôi hớn hở nhìn những người tị nạn khác đang tập trung ở gần văn phòng trại xem bảng niêm yết tin tức hay thư từ. Đồng bào Việt Nam tôi đây. Tôi có cảm giác thân thiết với tất cả mọi người, luôn miệng cười với người này, người nọ. Tôi được xếp cho một chổ ngủ trong một dãy lều dài thuộc khu dân sự. Vài hôm sau, được vài thanh niên cho biết, nếu là bộ đội Việt cộng tị nạn chính trị sẽ được cứu xét cho đi Mỹ nhanh hơn. Tôi lên văn phòng khai mình đã từng là bộ đội, được chuyển ngay qua một dãy lều trong khu bộ đội. Tất cả bộ đội nơi đây đều từ các đơn vị Việt cộng ở gần biên giới đào ngũ chạy qua Thái.
Dân tị nạn trong trại sinh hoạt rất vui vẻ. Dù việc ăn uống có hơi thiếu thốn, nhất là nước, mỗi người chỉ được bốn lít mỗi ngày để uống và tắm rửa, nhưng ai ai trong trại cũng được yên ổn sống qua ngày. Vài ba tối thì có nhiều người tụ tập liên hoan đưa tiễn người được xuất trại. Chỉ với nước trà và bánh, kẹo đơn sơ, họ mời nhau và đàn ca, nhảy nhót với nhau thật vô tư. Họ an tâm từ nay không còn phải sống với cộng sản nữa. Qua những buổi liên hoan đó, tôi quen thân với một người bạn tên Khúc duy Viễn, cũng là bộ đội tị nạn chính trị.
Tôi viết thư thăm anh chị Hải Vân và các bạn thân ở thương xá Rex như
Phuợng, Đức, Minh... Một tháng sau, nhận được thư anh Vân và các bạn, tôi nhảy tưng tưng. Ở trại tị nạn, người ta rất khát khao thư từ người thân. Nhận được thư là người ta vui lắm. Vui nhất là những người có thân nhân ở các nước tự do gửi cho tiền. Nhờ đọc báo Văn nghệ tiền phong, tôi liên lạc được một hội thiện nguyện ở bang Kansas, xin hội làm hồ sơ bảo lãnh. Tháng rưởi sau, tôi nhận được giấy tờ bảo lãnh của bà hội trưởng Mai Liên. Nhờ có hồ sơ bảo lãnh này, sau bốn tháng ở trại NW9, tôi được chuyển đến trại Sikiu, cũng là trại tị nạn đường bộ nhưng ở sâu trong đất Thái.
 Trại Sikiu được chia thành hai khu. Khu gia đình và phụ nữ ở chung. Khu khác dành cho thanh niên độc thân, có hai building giống như nhà tù, bị cách biệt với khu gia đình bằng một vòng rào kẻm gai cao lút đầu. Building 1 gồm nhiều thanh niên ở trại trên một năm vì không có thân nhân bảo lãnh, là building nhà giàu, có bàn đánh ping pong và ai cũng có máy hát nghe nhạc, tiền bạc tiêu xài rủng rỉnh. Đời sống họ sung túc trong hoàn cảnh tị nạn nhờ họ, ai cũng giả tên con gái đăng báo Văn nghệ tiền phong, mục tìm bạn bốn phương, dụ dỗ đàn ông độc thân ở Mỹ gửi tiền, quà cho họ. Tên cô "đực rựa" nào cũng đẹp: Hồng Ngọc, Thu Thảo v.v... Rồi họ gửi hình của thiếu nữ xinh đẹp nào đó mà họ có được, làm cánh đàn ông ở Mỹ chết mê, chết mệt. Thời đó, đàn ông độc thân bên Mỹ chịu cảnh khan hiếm đàn bà,  khao khát tình cảm lắm, nên dốc túi gửi tiền và quà lia chia cho các cô bạn  "đực rựa”  này, hy vọng sẽ bảo lãnh được một cô vợ đẹp như tiên.
Building 2 là building nhà nghèo gồm những bộ đội tị nạn chính trị mới đến như tôi. Đa số là dân bộ đội có gốc rễ ở Sài Gòn hay miền Tây, trong hoàn cảnh tị nạn nghèo rớt mùng tơi vẫn còn tánh ăn chơi. Hàng đêm các chàng ta tụ tập thành từng nhóm ca hát, ôm nhau nhảy đầm, rồi kết bè, kết đảng quánh lộn, thường bị an ninh trại kéo ra ngoài building đánh cho một trận. Tôi cứ an phận sống qua ngày tháng. Ban ngày thì lặng lẽ đi vòng vòng trong khu độc thân, nhìn cảnh sinh hoạt mua bán nơi cổng trại, hoặc trò chuyện với Viễn. Mỗi tối, tôi thui thủi một mình trên cái chiếu trải trên sàn nhà ở một góc building. Đi tìm đời sống tự do, không phải là tự do kết bè đảng để đánh người hay bị người đánh !.
Hai tháng sau, tôi được phái đoàn Mỹ vào trại làm hồ sơ phỏng vấn, chụp hình. Thêm ba tháng rưởi nữa, tôi được chuyển đến trại Phanatnikhom. Được rời trại Sikiu, tôi mừng như người vừa  ở tù ra.
Trại Phanatnikhom là trung tâm tị nạn lớn nhất ở Thái Lan, gồm người vượt biên từ các trại đường bộ và đường biển đã có hồ sơ bảo lãnh của thân nhân hay hội đoàn. Họ được chuyển đến đây để chờ được phái đoàn các nước thứ ba phỏng vấn chính thức, quyết định cho đi định cư hay không. Ở trung tâm này có đủ các sắc dân tị nạn: Việt, Miên, Lào. Vì quá đông nên trại không tổ chức phát cơm canh nấu sẵn cho người tị nạn, mà mỗi tuần phát thực phẩm cho từng tổ độc thân hay từng gia đình để tự nấu ăn. Tổ độc thân tôi có năm thanh niên. Cả tổ lãnh thực phẩm về rồi chia nhau ai muốn nấu ăn sao thì tùy. Sinh hoạt ở trung tâm vui nhộn như trong một thị trấn. Có chợ bán đủ loại hàng hóa và nhiều hàng quán bán thức ăn, thức uống như cơm dĩa, hủ tíu, cà phê, bánh mì, nước sinh tố... Dân tị nạn có thân nhân gửi tiền thì tha hồ vui chơi, tiêu xài ở chợ và các hàng quán này. Phượng, Đức ở thương xá Rex giới thiệu tôi với người bạn của hai cô ở bang California tên Nguyễn ngọc Lưu. Tôi được Lưu gửi cho 50 dollars. Nhờ vậy, thỉnh thoảng tôi cũng vào quán phong lưu chút đỉnh sau gần một năm gian truân khổ ải trong hành trình viễn xứ.
Giữa tháng 11 / 1980, tôi được phái đoàn INS Mỹ chính thức phỏng vấn và chấp thuận cho tôi đi Mỹ. Nhìn hai chữ OK của nhân viên INS phê vào hồ sơ, tôi mừng quá cỡ, cả người nhẹ hẫng như muốn bay lên trời.
Tình Đầu Đời Tị Nạn
Nỗi mừng được phái đoàn Mỹ chấp thuận chưa tiêu hóa xong thì qua hôm sau tôi lại có thêm một niềm vui khác không thể nào ngờ trước được. Tôi từ cửa phòng thư tín chen ra khỏi đám đông, vừa đi vài bước thì gặp một thiếu nữ đang đi tới. Cô mặc áo thun trắng ngắn tay bó sát thân mình và cái quần Jean xanh. Nhìn phục sức trẻ trung và khuôn mặt kiều diễm của cô, trông quen quá. Tôi ngẩn người nhìn cô một thoáng và bật reo lên :
-  Trời ơi...Diệu !
Cô gái ngỡ ngàng nhìn tôi rồi cũng reo lên :
-  Anh Quý ! Sau tiếng reo là Diệu nhào tới quàng hai cánh tay qua hai vai tôi, ôm chặc lấy tôi và nói trong xúc động :
- Anh Quý. Em không ngờ được gặp anh ở đây.
Tôi cũng ôm chặc cô, lòng bồi hồi, vui sướng. Trong hoàn cảnh tị nạn xa xứ này lại được gặp cố nhân. Người con gái xinh đẹp ở Thị Nghè ngày nào có với tôi tình thân thiết, và một thời gian tôi đã nhớ nhung cô muốn phát điên vì ám ảnh nụ hôn đầu đời do cô chủ động ban cho. Buông nhau ra, tôi mời Diệu vào quán. Chúng tôi ngồi sát bên nhau, vừa ăn uống vừa chuyện trò vui vẻ. Tôi nói :
-  Từ sau tháng 4 / 1975, không còn gặp Diệu, anh nhớ quá chừng.
-  Sao anh không đến gặp em"
-  Ngay ngày 1 tháng 5 anh có đến tìm Diệu mà cả nhà Diệu đi vắng. Sau đó, phải lo toan đời sống mới nhiều khó khăn, anh không có dịp đến thăm em. Khoảng tháng 11 / 1975, anh nhớ em quá nên đến nhà em ở xóm chợ Thị Nghè thì em đã dọn nhà đi đâu rồi. Thấm thoát đã năm năm rưởi rồi hở Diệu.
-  Đời sống mới trong chế độ Việt cộng khó khăn thiệt. Bố em bị đi tù "cải tạo". Mẹ bán nhà để lấy tiền nuôi Bố, nên dọn đến căn nhà nhỏ khác. Em sống đời con gái nhà nghèo, hết vui chơi phóng túng như trước.
Tôi nhìn Diệu mỉm cười :
-  Đời sống con gái nhà nghèo mà Diệu vẫn đẹp. Bây giờ Diệu đẹp hơn xưa nhiều lắm.
Diệu cũng mỉm cười, không phủ nhận sắc đẹp của mình :
-  Có đẹp hơn mà tình thì thiếu vắng !...
Sau câu nói, Diệu nhìn tôi với ánh mắt long lanh. Tôi muốn chìm sâu vào đôi mắt đẹp của Diệu. Sự rung động của cái tình nam nữ mà từ lâu tôi đã quên đối với Diệu bây giờ lại nổi lên mạnh mẽ trong tim tôi...
Ăn uống xong, Diệu nói :
- Thôi, mình đi anh. Về chổ em chơi nhé. Gặp mẹ em luôn. Mẹ em cũng hay nhắc đến anh.
Ra tới đường, Diệu nhoẻn miệng cười nhìn tôi  :
-  Anh nắm tay em đi. Như hồi ở Thị Nghè vậy.
 Tôi nắm lấy bàn tay mềm dịu, mịn màng của Diệu, lòng lâng lâng vui sướng. Trời buổi chiều mùa Đông se se lạnh. Diệu đi nép vào tôi như người tình bé bỏng. Diệu hỏi :
-  Anh Quý đã có vợ chưa"
-  Đã ai yêu anh đâu mà có vợ.
-  Vậy anh đi Úc với em nhé.
-  Hôm qua, anh mới được INS phỏng vấn cho đi Mỹ.
-  Tiếc quá! Em cũng thích đi Mỹ lắm. Nhưng em có người chị ruột ở Úc, nên mẹ muốn đi Úc. Vài ngày nữa mẹ và em sẽ được phái đoàn Úc phỏng vấn.
Về tới chổ Diệu ở, dì Sáu, mẹ Diệu, cũng vui mừng khi bất ngờ gặp lại tôi. Nói chuyện một hồi, dì Sáu nói : "Hai con cứ nói chuyện đi, mẹ qua thăm bà bạn mới đến trại". Khi dì Sáu đi rồi, Diệu kéo tấm màn che chổ ngủ của cô. Hai đứa tôi có khoảng không gian riêng tư để tâm tình. Tôi hỏi : -
-  Còn bố đâu Diệu "
Diệu buồn rầu trả lời:
-  Bố em mất rồi. Bố chết rất thảm trên biển...
Diệu lấy tay dụi đôi mắt vì xúc động rồi kể cho tôi nghe hành trình vượt biển của cô : "Bố em đi tù cải tạo về vài tháng thì cùng mẹ và em vượt biên. Thuyền em có 43 người, gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Đi được sáu ngày, tàu chết máy, lênh đênh trên biển. Rồi một tàu hải tặc Thái áp sát. Chúng 13 tên trang bị nhiều vũ khí nhảy sang tàu em. Chúng lục soát tất cả mọi người, cướp hết mọi thứ vàng, bạc, nữ trang. Sau đó, chúng lôi các cô trẻ đẹp ra để thỏa mãn thú tính. Em cũng..." Diệu ngập ngừng không nói tiếp, rồi gục vào vai tôi. Tôi hiểu chuyện gì đã xảy ra cho Diệu. Tôi xúc động nắm chặt bàn tay Diệu, im lặng. Vài phút trôi qua, Diệu kể tiếp "Bố thấy em bị làm nhục thì nhào tới chống cự, bị hai tên hải tặc túm đánh, lấy súng nện liên tục lên đầu bố rồi ném xác bố xuống biển. Sau khi thỏa mãn, chúng về lại tàu rồi cho tàu húc lủng thuyền em. Nước tràn vào và thuyền lật. Em và mẹ mỗi người may mắn bám được một mảnh gỗ trôi vào bờ, được người Thái đưa vào trại Songkhla. Vào trại rồi em mới được gặp lại mẹ. Nghe mẹ nói, số người trên thuyền bị chết hết 23 người".
Kể xong chuyện buồn, Diệu im lặng, mắt có ngấn lệ. Tôi không biết nói gì để an ủi Diệu, chỉ biết bóp nhẹ bàn tay Diệu, im lặng cảm thông. Một lát sau, bổng Diệu ôm ghì lấy tôi, đôi mắt lá răm tuyệt đẹp nhìn sâu vào mắt tôi như hớp hồn tôi, rồi hôn tôi say đắm. Lần thứ hai tôi được Diệu chủ động hôn. Nụ hôn lần này kéo dài càng ngọt lịm bờ môi, truyền dẫn vào người tôi cảm giác đê mê, ngây ngất. Không tự chủ được trước hương sắc và sự nồng nàn của Diệu, tôi cũng ôm chặt cô, say sưa hôn lại. Diệu thỏ thẻ ngọt ngào bên tai tôi:
       -  Anh Quý. Em đã yêu anh từ hồi còn ở Thị Nghè.
    Tôi cảm động :
       -  Sao em không nói cho anh biết "
       -  Tại em thấy anh có vẻ không yêu em. Anh chỉ coi em như bạn. Anh có hỏi em, người em thật sự yêu là ai. Em không nói vì... chính là anh đó.
    Lòng xao xuyến, tôi nói với giọng run run :
       -  Anh cũng yêu em... Chẳng qua hồi đó... anh có nhiều mặc cảm...
       -  Vậy bây giờ...anh yêu em đi...
    Diệu vừa nói với giọng nhiều cảm xúc vừa quàng hai cánh tay trắng nõn nà quanh cổ tôi, kéo tôi cùng nằm xuống...Từ hôm đó, tôi luôn khăng khít bên Diệu. Một tuần sau, tôi có tên trong danh sách xuất trại đi đảo Galang, Indonesia. Ngày cuối ở bên nhau, Diệu tha thiết nói:
- Chúng mình đã có với nhau kỷ niệm đẹp tuyệt vời. Mai đây mỗi người một phương trời, chúng mình sẽ vẫn luôn nhớ đến nhau. Nha anh.
Tôi xúc động :
-  Anh cảm ơn em...Anh sẽ nhớ mãi về tình yêu em dành cho anh.
Hôm sau, Diệu tiễn tôi lên đường. Phút biệt ly giữa hai người yêu nhau buồn não nuột. Diêu rươm rướm nước mắt. Chúng tôi ôm nhau thật lâu lần cuối. Tôi hôn lên hai má Diệu rồi lặng lẽ đi theo đoàn người chuyển qua Transit Center, đối diện với Trung tâm Phanatnikhom.
Ngoái nhìn lại, thấy Diệu vẫn còn đứng nhìn theo với đôi mắt buồn vời vợi, tôi giơ tay vẫy vẫy. Diệu vẫy tay lại. Chào biệt Diệu. Chào biệt cuộc tình đầu đời tị nạn !...
Tự Do Ơi...Tự Do !
Sau bốn ngày ở Transit Center, tôi và nhiều người được xe Bus chở đến một trạm chuyển tiếp gần thủ đô Bangkok, nằm chờ ba ngày.
Khi có chuyến bay, chúng tôi được phát mỗi người một túi thức ăn và lên xe Bus đến phi trường Bangkok. Cảnh đêm thủ đô Bangkok thật đẹp với muôn ánh đèn màu. Ngồi chờ ở phi trường hai tiếng thì đoàn người tị nạn lần lượt lên máy bay. Nửa tiếng sau, máy bay cất cánh. Lòng tôi phơi phới, vui như ngày lễ hội. Khoảng ba tiếng sau, máy bay đáp xuống phi trường Singapore. Hôm sau, chúng tôi được chuyển đến đảo Galang, Indonesia bằng thuyền lớn. Tại đảo, tôi gặp lại Viễn, đến trước tôi một tháng. Chúng tôi càng thân với nhau hơn. Rồi Viễn cũng lên đường đi Mỹ trước tôi. Nghe theo lời Viễn, tôi chuyển hồ sơ đi theo bảo lãnh của người anh bà con Viễn là anh Dương Minh Hiệp ở bang South Dakota.
Sau bốn tháng rưỡi ở Galang 2, học văn hóa Mỹ và thêm chút tiếng Anh, tôi được rời đảo ngày 21/4/1982. Ở thêm ba ngày trong trạm chuyển tiếp Singapore, tôi chính thức được lên đường đi định cư tại Hoa Kỳ ngày 24/4/1982.
Hành trình viễn xứ của tôi đã tới đích. Khát Vọng Tự Do của tôi giờ đây được toại nguyện. Tôi đã thật sự đặt bước chân lên miền đất Tự Do mà tôi hằng mong ước từ bao năm qua. Xin chào UNITED STATES OF AMERICA - Đất nước tự do, dân chủ, văn minh, nhân bản và giàu mạnh nhất thế giới. Một lần nữa, tôi thầm cảm tạ Trời cao thiêng liêng, Ông Bà, Cha Mẹ, Anh Chị Em linh hiển đã phù hộ cho tôi, trong hành trình nhiều gian truân, trắc trở, được may mắn chuyển nguy thành an. Tự Do ơi...Tự Do ! Tôi đã có được Người !
....
Xin cảm ơn Chính phủ Mỹ, Nhân dân Mỹ đã nhân ái dang rộng vòng tay đón nhận tôi và cưu mang tôi 28 năm qua.
Trưa nay, trời cuối thu se se lạnh, tôi đến viếng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam trong khuôn viên nghĩa trang Westminster, tọa lạc trên đại lộ Bolsa góc đường Hoover, quận Cam. Tôi cúi đầu thật lâu trước Tượng Đài để tưởng niệm tất cả vong linh Đồng bào Việt Nam đã bỏ mình trong Hành Trình Tìm Tự Do.
Đã có khoảng 200 ngàn người Việt tử nạn trên biển cả trùng khơi hay nơi rừng sâu, nước độc bởi đói khát, bão tố, biển động, hay hải tặc hãm hiếp, giết chết. Trước Tượng Đài có tấm bảng đồng ghi:
"Tưởng niệm đến hàng trăm ngàn Thuyền Nhân, Bộ Nhân Việt Nam đã chết trên đường tìm Tự Do, Nhân Phẩm, Nhân Quyền. Gợi nhớ về cuộc hành trình đầy đau thương và khổ nạn của hàng triệu người Việt rời bỏ Quê Hương sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 vì không chấp nhận chế độ Cộng sản. Lưu truyền chứng tích đến các thế hệ mai sau về nguyên nhân sự hiện hữu của người Việt tại Hoa Kỳ và các quốc gia Dân Chủ, Tự Do trên thế giới".
         
Tôi lại cúi đầu thật lâu trước Tượng Đài. Những Thuyền Nhân, Bộ Nhân đã chết trên đường vượt biển hay đường bộ để cho nhiều người thân ruột thịt được sống, được đến bến bờ Tự Do an toàn. Nhờ đó, ngày nay đã có hơn ba triệu người Việt được sống đời an bình, thăng tiến tại hải ngoại. Và mai đây, sẽ có biết bao nhiêu người con ưu tú của Tổ quốc Việt thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba trở về quê hương Việt không cộng sản, đem tài năng, kiến thức học được nơi xứ người để xây dựng nước Viêt nhanh chóng trở thành cường quốc.
Cá nhân tôi ngày rời xa quê hương, hành trang lên đường là ý chí của Tống Biệt Hành : "Ly khách! Ly khách! con đường nhỏ. Chí lớn không về, bàn tay không. Thì không bao giờ nói trở lại...". Nên tôi cũng đang âm thầm hoạt động trong một tổ chức chính trị, với hoài bão được đóng góp tất cả tâm trí, tài sức vào công cuộc đấu tranh chung của toàn dân Việt trong và ngoài nước, nhằm xoá tan bóng tối đêm đen trên quê hương Việt Nam. Cho những đau thương, thù hận của một thời nô lệ ngoại bang sẽ bị nhạt nhòa, tiêu tán vào dĩ vãng của lịch sử đã sang trang. Cho những xiềng xích, chuyên chế, hung tàn, bạo ác của cộng nô phải bị sụp đổ, tiêu vong. Cho viết lên trang sử mới của bình minh nước Việt ngày xanh tươi rạng rỡ, huy hoàng, kiến tạo nên một xã hội mới thật sự dân chủ, tự do, văn minh, nhân bản, công bình, bác ái để toàn dân Việt mãi mãi được sống an hòa, vui sướng, hạnh phúc.
Kính nguyện cầu Đấng Thiên Thựợng Đế tối cao và Hồn thiêng sông núi phù hộ cho toàn dân Việt sớm có ngày "đắc lộ thanh vân", đưa nước Việt lên đỉnh đài vinh quang thịnh trị ngàn đời.
- Ghi dấu 30 năm rời xa quê hương:  1980  - 2010
HUYÊN CHƯƠNG QUÝ
(Trích sách “Khát Vọng Tự Do”






HOÀNG HẢI THỦY * HỎA LÒ

HỎA LÒ

Từ năm 1980 một số người viết của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, quốc gia bị diệt năm 1975, thoát ra được nước ngoài — Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Anh, Đức — đã viết và ấn hành nhiều tác phẩm Hồi Ký tố cáo chính sách đàn áp, bỏ tù nhân dân tàn bạo của những người cộng sản Việt Nam; những hồi ký tù đày viết bằng máu và nước mắt từng làm xúc động người đọc, liên tiếp ra đời trong mười năm — 1980-1990 — Nhà Tù, Trại Tập Trung của Duyên Anh, Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Đáy Địa Ngục của Tạ Tỵ.. Thật nhiều, tôi không được đọc hết, không thể kể hết. Những hồi ký tù đày của những người viết Quốc Gia VNCH chỉ viết về những người tù VNCH.
Hoa LoNgày tháng trôi đi, cuộc sống tiếp tục… Từ năm 1990 những người viết miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa thế chân những người viết VNCH viết chuyện ngục tù cộng sản, tố cáo tội ác cộng sản, đây là những tội ác cộng sản làm với những người dân miền Bắc XHCN: 1992 Bùi Tín, sau khi ra khỏi mước, viết Hoa Xuyên Tuyết, Mặt Thật, 1998 Vũ Thư Hiên xuất hiện ở hải ngoại với Đêm Giữa Ban Ngày, 2000 Bùi Ngọc Tấn từ Hà Nội gửi ra hải ngoại Chuyện Tình năm 2000; năm 2001 Nguyễn Chí Thiện cho ấn hành tập truyện Hỏa Lò.
Năm 1979 Nguyễn Chí Thiện, sau nhiều năm tù đầy ở miền Bắc XHCN, đã làm một hành động trước anh không một văn nghệ sĩ nào sống trong chế độ cộng sản — không phải chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới — dám làm hay nghĩ đến chuyện làm: chạy vào Tòa Đại Sứ Anh Quốc trao tập thơ, nhờ họ đưa ra nước ngoài. Đó là tập thơ Tù Cộng Sản giá trị nhất, tập thơ được ấn hành ở Hoa Kỳ có hai tên “Bản Chúc Thư của Một Người Việt Nam” và “Tiếng Vọng từ đáy vực.” Theo tôi, đây là những “tiếng kêu từ đáy vực,” không phải “tiếng vọng.”
Những năm 1976, 1977, ở Sài Gòn Cờ Máu, có lần tôi đọc một bài viết sau 1975 của Nguyễn Tuân. Bài viết nói đến cái đèn dầu của nông dân Nam Bộ, bầu đựng dầu có hình thù giống cái trứng vịt nên nhân dân gọi là “đèn hột vịt”, Nguyễn Tuân tấm tắc:
Sao nhân dân ta giỏi đặt tên đồ vật đến như thế.. vv
Nguyễn Tuân cũng như đa số những người viết miền Bắc XHCN thường ca tụng nhân dân, nông dân hết lời, họ luôn luôn nhận vơ — danh từ của họ là “vơ vào” — nhân dân là của họ, của Đảng, nhân dân đứng về phe họ. Tôi nghĩ:
Dân thành thị đặt tên đồ vật còn hay hơn: đồng hồ quả quít, mũ nồi, mũ chào mào, mũ lưỡi trai, áo đuôi tôm, nhà Hỏa Lò.. vv..”

Chi HoaNhững năm mới mười tuổi đời — 1940 – tôi đã nghe mấy tiếng “Nhà Hỏa Lò”, tôi đã biết “Nhà Hoả Lò” là “Nhà Tù”, rất ít người nói Nhà Tù, Nhà Pha Hà Nội, người ta chỉ nói Nhà Hỏa Lò. Và nói Nhà Hỏa Lò là ai cũng biết đó là nhà tù ở Hà Nội, dường như nơi chính quyền Thực Dân Pháp xây lên Nhà Tù Hỏa Lò trước đó là phố bán hỏa lò — bếp nấu ăn bằng đất — nên nhân dân gọi Nhà Tù đó là Nhà Hỏa Lò” Nhà Tù ở phố Hỏa Lò. Tôi, kẻ viết bài này thấy những góc tường của nhà tù có những vọng gác nhô lên, trông như cái



hỏa lò, nên nhân dân gọi là Nhà Hỏa Lò, tất cả mọi người đều nhận cái tên đặt ấy. Nhưng có thuyết nói trướ đó khu ấy có những nhà bán hỏa lò — bếp bằng đất nung — nên có tên là phố Hỏa Lò. Về sau nhà tù được xây lên ở đó, tên Pháp là Maison Centrale — nhân dân gọi là Nhà Tù Hỏa Lò.

Nguyễn Chí Thiện đã sống trong Nhà Tù Hỏa Lò sáu năm trong lần bị bắt thứ hai của anh, ngay sau khi anh từ Tòa Đại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội trở ra, sự việc xẩy ra năm 1979. Ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh, mười mấy năm sau ngày sống sót ra khỏi Hỏa Lò, ở hải ngoại Nguyễn Chí Thiện nhớ lại và viết về cuộc sống cùng tâm trạng của một số tù nhân Hỏa Lò.

Tôi không viết bài này như một bài phê bình hay giới thiệu sách, vì Nguyễn Chí Thiện sống sáu năm trong Nhà Tù Hỏa Lò, tôi sống năm năm trong Nhà Tù Chí Hòa, nhân đọc Hỏa Lò của Nguyễn Chí Thiện, tôi so sánh Hỏa Lò Hà Nội với Chí Hòa Sài Gòn — so sánh từ hình thể đến những luật lệ áp dụng cho tù nhân trong hai nhà tù nổi tiếng nhất của đất nước, đối chiếu đời sống của tù nhân trong hai nhà tù.

Những chuyện rất thường trong nhà tù, quá thường với những người không bị tù, những người chưa từng sống ngày nào trong ngục tù cộng sản, nhưng lại rất quan trọng với người tù Việt Nam trong những nhà tù cộng sản, chẳng hạn như tù nhân Hỏa Lò bị cấm không được hút thuốc lào, thuốc lá, bị bắt có thuốc lào, thuốc lá là bị phạt nằm xà-lim, cùm chân, tù nhân Chí Hòa hút thuốc tự do, đồ căng-tin do cán bộ cai tù Chí Hòa bán cho tù để kiếm lời có thuốc lào, thuốc rê. Đây là một đoạn tả về chuyện thuốc lào ở Hỏa Lò:

Hỏa Lò, trg 49 — Trích:
Lão già đứng nhìn, lắc đầu. Tên quản giáo vẫn ngồi uống trà, phì phèo điếu thuốc trên miệng, chưa buồn ngó tới lão. Lão vứt cái bị cói xuống thềm, uể oải ngồi xuống. Mấy tên tự giác đứng canh bọn tù ngồi ăn, đợi lệnh. Lão già chẳng bao giờ để ý tới bọn quản giáo. Nhiều năm ở tù rồi, lão thấy bọn chúng: dù trẻ, dù trung niên, dù già, dù gầy, dù béo, dù cao, dù thấp, dù da trắng, da ngăm ngăm, dù mắt lồi, mắt sâu, mắt sếch, mắt lươn, mắt lé… đa số đều có một điểm chung là nhìn người tù lừ lừ, khinh miệt, thù hận, mê muội..
– Thằng nào vừa gặp gia đình?
Tiếng tên quản giáo, hỗng hách, đầy quyền uy.
– Thưa ông, cháu.
Một tên tù đương ăn vội vã đứng lên, lụng bụng đáp lại. Tên quản giáo hất hàm cho mấy tên tù tự giác:
– Khám.
Hai tên tự giác xăm xăm tới.
– Cởi áo ra!
Hai bàn tay gã tù lở loét, bê bết xôi, nhầy nhụa mỡ thịt, loay hoay cởi khuy. Một tên tự giác sờ nắn, rũ rũ cái áo. tên tự giác khác bắt tên tù dơ hai tay lên cao, quay trước, quay sau.
– Cởi quần ra!
Gã tù trút bỏ chiếc quân ni-lông ra. Lại sờ nắn, rũ rũ.
– Báo cáo ông, không có gì.
Tên quản giáo nhăn mặt, nhíu mũi khi nhìn thân hình ghẻ lở, loang lổ máu. Thấy dáng điệu gã tù có vẻ hồi hộp, hắn quát:
– Cởi quần đùi ra!
Gã tù lom khom cởi nốt cái quần đùi, mặt tái nhợt, hai tay úp che hạ bộ.
– Bắt nó chổng mông lên! Nhìn lỗ đít nó xem có cái gì không?
Hai tên tự giác ấn gã tù chổng mông. Rồi một tên ngồi xuống, lấy hai tay vạch hậu môn, nhìn vào. Phát hiện thấy có vật gì trong đó, hắn quát:
– Rặn mạnh ra!
Loay hoay một lúc, hắn lôi ra một cục ni-lông tròn, dài.
– Báo cáo ông.. thuốc lào.
Tên quản giáo đắc ý:
– Mày qua mắt ông nội mày thế nào được! Con muỗi bay qua, ông cũng phân biệt được con nào là con đực, con nào là con cái. Nhìn cái điệu của mày, ông đã biết thế nào cũng có vấn đề. Mày ở ngoài là nhà báo, mày không đọc được nội quy sao?
– Thưa ông, giải quyết thằng này thế nào?
Một tên tự giác khúm núm hỏi.
– Tịch thu toàn bộ quà. Bắt nó nuốt chỗ thuốc lào ấy! Mày nhét vào lỗ đít, tưởng qua mắt nổi ông. Bây giờ ông nhét vào lỗ mồm mày. 

Chuyện kể tự nó nói lên những gì nó cần nói, nó mang trong nó, tôi sẽ không phụ đề Việt ngữ gì nhiều về những chuyện Hỏa Lò của Nguyễn Chí Thiện. Như chuyện trên đây, không cần tôi viết thêm: độc ác, thằng cai tù cộng sản không còn là người — đọc chuyện bạn cũng thấy tính cách ác độc khủng khiếp, ác độc đến không thể ngờ được, của bọn Cai Tù CS đối với đồng bào của chúng — đồng bào ruột thịt..! — nếu bạn may mắn chưa từng nếm mùi tù đầy cộng sản, tôi nghĩ đọc những hồi ký tù đày do chúng tôi viết bạn sẽ thông cảm và bạn sẽ biết vì sao những cựu tù nhân chính trị nạn nhân cộng sản chúng tôi không sao có thể nguôi được lòng căm thù chế độ cộng sản ở quê nhà, chúng tôi không sao có thể thỏa hiệp, dù là giai đoạn, với những người cộng sản..

 Chúng tôi đã bị hành hạ tàn nhẫn, chúng tôi thoát chết nhưng anh em chúng tôi đã chết, thê thảm, oan ức, vô ích, chúng đã tàn ác giết anh em chúng tôi, chúng tôi đau, chúng tôi thù hận chúng. Chúng tôi không thể trả thù được chúng, chúng tôi không thể bắt chúng đền tội, trả nợ máu, chúng tôi chỉ có thể kể tội chúng. Không kể tội chúng với đồng bào là chúng tôi có tội.

Năm 1981, ba người chúng tôi cùng ở tù về gặp nhau: Dương Hùng Cường, Vương Quốc Cường và tôi. Cường Vương là thẩm phán, đi tù ở ngoài Bắc, Cường Dương và tôi tù ở trong Nam, tôi nghe Cường Vương kể:

— Bọn tù ngoài ấy phải gọi bọn cai tù là ông, bà, xưng con. Tôi thấy cảnh mấy con mụ cai tù nó trói các em tù vào cột, nó đánh bằng roi mây, các em lậy van thảm thiết: “Con lậy bà.. Con chừa rồi.. Bà tha cho con..”
Hai bạn tôi, Dương Hùng Cường, Vương Quốc Cường, đều đã qua đời, Dương Hùng Cường, sĩ quan, đi tù “ngụy quân”, trở về Sài Gòn năm 1980, bị bắt lần thứ hai năm 1984, chết thảm trong xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, Vương Quốc Cường, chánh án Quảng Ngãi, đi tù “ngụy quyền”, trở về Sài Gòn năm 1980, mất tích trong một chuyến đi vượt biên; anh là người đi không đến đích, một ra đi là không trở về, tôi chắc anh đã chết trên biển. Có thể anh bị chết vì chính bọn công an CS nhận đưa anh đi, lấy vàng của anh và giết anh, vùi xác anh đâu đó.

Tù chính trị VNCH chúng tôi chỉ phải gọi cai tù là “cán bộ”, xưng tôi. Lên Trại Tù Khổ Sai Z 30 A tôi nghe tiếng: “Thưa ban..” lạ tai, “ban” đây là “ban lãnh đạo”, nếu nói cả câu là “Thưa cán bộ ban lãnh đạo..”, vắn tắt là: “Thưa ban..”, tiếng “ban” dùng để gọi mấy anh Trại Phó, Trại Trưởng, để phân biệt mấy anh với bọn cai tù tầm thường. Tiếng “..Thưa ban..” từ những ngục tù miền Bắc đi vào những ngục tù VNCH.

Năm 1973 khi dịch The First Circle của Alexandre Solzhenytsin — Tầng Đầu Địa Ngục — tôi đã thấy Solzhenytsin viết: “Tù cộng sản ghê sợ nhất là cái đói..” Tác giả kể có lần bọn tù khổ sai ở Sibéria đào được xác một con khủng long chết đã 5.000 năm nhưng nằm sâu trong tuyết nên thịt vẫn còn tươi. Chỉ một thoáng sau đám tù đói đã ăn hết thịt con khủng long, khoa học mất một dịp hiếm có để tìm hiểu về đời sống trên trái đất thời tiền sử.
Đó là chuyện CS Nga bỏ đói tù nhân Nga ở tận cuối trời xa, đây là chuyện CSVN bỏ đói tù nhân ở trong cái gọi là bệnh xá Nhà Hỏa Lò, thủ đô nước Việt Nam Cộng Sản:

Hỏa Lò. Trang 42. Trích:
– Cháu tới giường thằng đau tim. Định khuyên nó viết thư về nhờ bố mẹ bán cái xe đạp của nó đi, tiếp tế cho nó. Nó có cái đồng hồ, cái bút máy, lúc nhập trại phải gửi quản giáo. Coi như mất. Có ai lúc vội vã đi trại, đòi lại được những vật gửi. Nó nằm chùm chăn kín đầu. Cháu mở chăn ra. Nó đã chết. Mắt trợn trừng, trắng dã. Mồm méo sệch. Cháu toan gọi báo cáo cán bộ có người chết. Thằng bạn ho lao nhổm dậy, ngăn lại, thì thầm:
– Báo bây giờ, nhà bếp cắt cơm nó. Để chia cơm xong, hãy báo.
Cháu tán thành ý kiến của nó. Bọn kiết lỵ, tháo tỏng vẫn ngồi chùm chăn, ôm nhau, chưa biết gì. Như vậy, ba thằng ho lao chúng cháu sẽ được ăn bốn suất cơm…

… Ba thằng ho lao chúng cháu ngồi quây lấy xác chết. Bốn suất cơm để trước mặt. Cháu vốn tin con người có linh hồn, nên lâm râm khấn mời tên chết về dùng cơm, và tha tội cho chúng cháu. Suất cơm gian lận được chia đều. Ấm bụng hơn một chút. Ông chú chưa bị đói triền miên bao giờ, nên không thể hiểu nổi tầm quan trọng của thìa cơm trong cảnh tù tội. Phạng nhau vỡ sọ cũng vì nó. Đến trưa, cháu muốn gọi báo gã đau tim chết. Thằng bạn ho lao tham lam, muốn tối mới báo. Làm thêm một suất cơm chiều nữa. Cháu cương quyết không nghe. Cháu sợ nhỡ bị phát hiện, quản giáo mang cùm vào, cùm chân lại. Ở bệnh xá, mọi vi phạm nội quy, như hút thuốc lào chẳng hạn, đều bị cùm hàng tuần, kể cả đang ốm nặng. Có thằng đã chết trong cùm. 

Nhà Tù Chí Hòa không cấm tù nhân hút thuốc nhưng chỉ cho hút trong giờ làm việc, tức từ 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, từ 2 giờ trưa đến 5 giờ chiều. Vào giờ này có tù ra làm lao động cho lửa cho tù trong phòng giam hút thuốc. Sự cho phép và cấm đoán ấy hết sức vô lý, ngớ ngẩn và độc ác với những người nghiện thuốc. Trên luật thì như thế nhưng thực tế Người Tù trong các phòng tù Chí Hòa vẫn tự chế lấy lửa hút thuốc.

Cai Tù Chí Hòa cấm tù nhân giữ riêm, chế lửa, viện cớ ở những phòng tù hình sự thường xẩy ra chuyện những chú tù lép vế bị bọn đại bàng — ở Hỏa Lò là bọn đầu gấu — áp chế, bóc lột, đánh đập, lén bỏ những miếng ni-lông vào lon sữa bò, dùng ni-lông cuốn lại châm lửa đốt, nấu cho ni-lông trong lon chẩy ra thành nươc — gọi là “hỏa tốc” — cầm cả lon “hỏa tốc” hắt vào mặt đại bàng. Nhiều vụ trả thù như thế đã xẩy ra, thường là bọn đại bàng đang nằm phây phây ngủ, không đề phòng, bị tạt “hỏa tốc” vào mặt, la rú khủng khiếp. Cả Chí Hòa nghe tiếng la rú rợn người. Mặt người bị tạt “hỏa tốc” bị phỏng như mặt quỉ, đỏ loét, bị chất nylon lỏng, nóng, đốt cháy mũi, trơ xương má, mù mắt.. vv. Vì cái nạn tạt hỏa tốc Cai Tù Chí Hòa ra luật cấm tù nhân không được giữ riêm, tự chế lửa, ai tự chế lửa hay giữ riêm, giữ lon sữa bò, bị bắt, bị nằêm xà-lim, cùm chân bẩy ngày. Tù chính trị Chí Hòa ở riêng một khu, không bao giờ giết nhau, chỉ dùng hỏa tốc để nấu chút nước sôi pha trà, ăn mì, cũng bị cấm không được giữ riêm, tự chế lửa.

Tù Chí Hòa, tù Hỏa Lò cùng có cách tự chế lửa như nhau mà không cần riêm, không cần bật lửa. Năm 1985 tôi vào Nhà Tù Chí Hòa, thấy anh em dùng cái “chẹc” chế lửa, tôi thán phục quá xá. Ai là người nghĩ ra cách chế lửa tài tình như thế? Người dùng thấy đơn giản thôi, nhưng phải có người nghĩ ra. Tôi chắc người nghĩ ra cái “chẹc” để chế lửa trong nhà tù phải nhớ chuyện ông cha ta ngày xưa dùng hai cục đá đập mạnh vào nhau mà cũng chế được ra lửa.

Ở ngoài, thông thường khi bật lửa hết xăng, người ta chịu không sao có lửa. Trong tù, tù nhân lấy cái cán bàn chải đánh răng cắt ngang, dùi một lỗ, nhét viên đá lửa vào đó, để sẵn miếng giấy kẹp dúm bông gòn ở đầu, dùng mảnh thủy tinh, xiết lên cái chẹc, lưỡi thủy tinh sắc xiết trên cục đá lửa, làm bắn ra đốm lửa, đốm lửa bắn vaò dúm bông gòn, dúm bông gòn bùng cháy, lửa bắt vào miếng giấy kẹp bông. Và thế là phòng tù có lửa hút thuốc lào. Hút thuốc lá dễ có lửa hơn, vì có thể truyền lửa từ điếu thuốc đang hút cho nhau, hút thuốc lào phải có lửa cháy. Không dùng chẹc người tù hút thuốc lào cũng dễ có lửa bằng cách vò nát tờ giấy, vo tròn, châm lửa thuốc lá, thổi vào chỗ bị cháy cho lửa bùng lên.


Người tù khó dấu riêm, bật lửa nhưng dễ dấu những viên đá lửa. Khi bị xét phòng chỉ cần vứt cái “chẹc”, mảnh thủy tinh đi là xong, thiệt hại không bao nhiêu. Xét phòng xong chỉ năm phút sau là có cái chẹc khác. Chỉ cần 10 viên đá lửa là cả phòng có lửa thoải mái trong cả tháng. Những mảnh thủy tinh lấy từ những lọ chao. Bông gòn có thể do người nhà gửi vào, hay giặt thật sạch những miếng mền len, xé tơi, dùng làm bông. Bông tự chế phải thật sạch, thật khô, thật tơi mới dễ bắt lửa.

Hỏa Lò. Trg 56
– Trong phòng, vào giờ hành chính, mấy trăm tù ngồi bó gối, xếp hàng đầy cả hai bên sàn nằm.
Tù Hỏa Lò ở phòng tập thể phải mặc quần áo chỉnh tề, ngồi ngay ngắn trong giờ hành chính, tức tù Hỏa Lò phải ngồi xệp trên sàn xi-măng 8 tiếng một ngày. Tù Chí Hòa, Tù Số 4 Phan đăng Lưu, suốt ngày đêm ở trần, quần sà lỏn, nằm ngồi thoải mái, đánh đô-mi-nô, cờ tướng thả dàn. Cai tù đến cửa gọi anh nào “đi làm việc”, tức đi lấy khẩu cung, đi chịu thẩm vấn, anh ấy bận quần áo ra khỏi phòng, toàn phòng tỉnh bơ. Mức độ tàn ác của Việt Cộng giảm đi nhiều khi họ vào đến Quốc gia VNCH.
Đây là hình ảnh một Nàng Kiều XHCN trong Hỏa Lò Hà Nội:

Hỏa Lò. trg 56 — Trích:
Đột nhiên, “bóng hồng nhác thấy nẻo xa”. Những thằng tù no tiếp tế gia đình, ngừng ăn, trố mắt. Một cô gái tuổi chừng đôi mươi, đi tới. Theo sau cô mươi thước là một mụ quản giáo, dáng dấp như một tên du côn. Cô gái trông mảnh mai, nét mặt trái soan, xanh nhợt, ủ ê, nhưng khá đẹp. Một tên tự giác đứng cạnh đám tù ngồi ăn, khi cô gái đi tới gần, gã nhe răng, nhăn nhở:
– Em làm nghề “lấy lỗ làm lãi”, phải không?
Một tên tù khác, mắt hấp háy, toe toét:
– Trông thơm quá. Cho anh yêu một cái đi!
Cô gái đi ngang qua chỗ lão già ngồi ăn, làm lão ọe một cái, nôn ra một ít bánh mì. Một mùi tanh tưởi, tệ hơn mùi chuột chết, từ đũng quần cô gái, ập vào mũi lão.
Tên trực trong cười hềnh hệch:
– Loại “phò” này mà sốc nách, nhấc bổng lên, lắc mạnh mấy cái, là rơi xuống đầy một sọt “gậy gộc”!
Cô gái lẳng lặng đi. Thoáng thấy mấy lá bánh chưng còn dính vài cục bánh con con, cô nhào tới rãnh nước, nhặt lên, đưa vào mồm, liếm lấy, liếm để.
Mụ quản giáo the thé:
– Con nhà thổ. Bà sẽ cùm mày lại!
Mụ chạy xốc tới, nắm mớ tóc bù xù của cô gái, giật mạnh, tát tới tấp. Cô gái lí nhí kêu lậy.
Hỏa Lò. Trg 66.
Trưởng phòng lau mồ hôi nhễ nhại, nhìn chiếc quạt trần cao chót vót lừ đừ quay, như hết hơi.
– Treo cái quạt này làm đéo gì. Đù mẹ chúng nó, chơi khăm thật! Cùng ở Hỏa Lò cả, mà quạt ở các buồng quản giáo thì vù vù như vũ bão.
Phòng tù tập thể Hỏa Lò có gắn quạt trần? Không biết những quạt trần này được gắn ở đấy từ thời nào? Phòng tù Chí Hòa thoáng mát vì chỉ có ba bức tường, một mặt là song sắt nhìn ra hành lang, rồi một hàng song sắt nữa là tới trời. So với Hỏa Lò, kiến trúc Chí Hòa văn minh, hiện đại hơn rất nhiều. Không biết đích xác Hỏøa Lò được xây xong tháng nào, năm nào, cứ cho là Hỏa Lò có mặt ở Hà Nội năm 1900, Nhà Tù Chí Hòa ra đời sau Hỏa Lò năm mươi năm. Theo hiểu biết không được chính xác của tôi Nhà Tù Chí Hòa được người Pháp khởi xây vào khoảng năm 1942, 1943, được hoàn thành khoảng năm 1946, bắt đầu tiếp khách năm 1947. Từ 1985 đến 1989 tôi sống trong Nhà Tù Chí Hòa, nhiều lần tôi có ý định khi được ra khỏi Chí Hòa tôi sẽ viết về Nhà Tù Chí Hòa, tôi sẽ tìm tài liệu đích xác ai là kiến trúc sư vẽ kiểu Nhà Tù Chí Hòa, xây năm nào, năm nào hoàn thành, tốn phí bao nhiêu..?? Năm 1990 ra khỏi tù, tôi quên ý định viết về Chí Hòa. Ra ngoài tôi nghĩ những người từng ngồi tù Chí Hòa chẳng ai muốn đọc chuyện viết về Chí Hòa, nhiều người còn biết về Chí Hòa nhiều hơn tôi, những người chưa từng ở tù Chí Hòa chẳng ai đọc chuyện nhà tù Chí Hòa làm quái gì, ai théc méc chuyện nhà tù Chí Hòa do kiến trúc sư nào vẽ kiểu, được xây năm nào… vv
Tháng 5, 1975 tôi thấy anh Huỳnh tấn Phát trên màn ảnh TiVi. Lúc ấy anh là Thủ Tướng cái gọi là Chính phủ Lâm Thời Miền Nam VN. Anh được phỏng vấn. Rõ ràng là anh quá sướng, sướng vì không ngờ anh vào được Dinh Độc Lập. Mặt mũi anh phớn phở, anh không biết nói gì cả. Chưa đầy một năm sau, Lê Duẩn phóng tay dẹp Mặt Trận GPMN và chính phủ miền Nam. Huỳnh tấn Phát biến mất từ đó. Hai mươi mấy mùa lá rụng sau tôi gặp lại họ Huỳnh trong Hỏa Lò.
Hỏa Lò. Trg 127 — Trích:
Gã thanh niên cười:
– Mai em về rồi, cần gì quà.
– Mừng cho mày. Nhưng sao biết trước. Được báo à?
– Nói thật với ông anh. Ông anh biết nhà thơ Nguyễn xuân Sanh không?
– Ông ta, trước năm 45, ở trong nhóm Xuân Thu, cùng với Đoàn phú Tứ. Tao có đọc thơ ông ta, biết tiếng ông ta thôi, chưa gặp mặt bao giờ. Xem nào, tao còn nhớ câu thơ: “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà”. Thơ ông ta đấy.
– Em là con ông ấy đấy.
– A, thế mày là con ông ấy à? Tiêu chuẩn mày là được đi Nga, đi Tiệp học. Sao lại vào nằm đây?
– Học hành quái gì! Máu em thích ăn chơi sả lán. Cách đây hai tháng, em “đánh quả” ở một sứ quán, bị chộp.
Gã giáo viên, vẻ nghi ngại:
– Tội này ít ra cũng mười năm tù. Mày có chắc mày về không?
– Chắc như đinh đóng cột. Ông cụ đã cứu em nhiều lần. Ông cụ bảo lần này là lần chót.
Gã thanh niên hạ giọng, nói nhỏ:
– Ông cụ làm việc cho công an đấy.
– À, tao hiểu. nhưng tao khuyên mày dừng lại ở đây. Ông cụ không xin mãi cho mày được đâu. Gia đình mày có túng thiếu gì mà phải…
– Ông anh không biết. Chúng em đập phá mạnh lắm. Gia đình nào cung cấp xuể. Ngay thằng con ông Huỳnh tấn Phát cũng phải xách súng đi ăn cướp. Bố nó xin cho nó nhiều lần rồi. Nó có chừa được đâu. Nó ở phòng 12…
Đây là một cảnh tù đói ở ngoài sân Nhà Tù Hỏa Lò:
Hỏa Lò. Trg 182. Trích:
Lão không nói gì, đứng dậy quay nhìn về phía bên kia sân. Lão kinh hoàng trố mắt. Cách lão chùng ba nươi thước thôi, một cảnh tượng suốt đời không thể phái mờ đối với lão. Trong nắng chiều vàng ủng như nghệ, hàng trăm tên tù trần truồng, sám xịt, lủng củng xương da, đứa nằm, đứa ngồi, đang bốc cơm ăn. Có những tên không còn cầm nổi cái bát, cơm rơi đổ cả xuống đất, lẩy bẩy bò xuống, vốc nhặt đưa lên miệng. Tất cả diễn ra im lìm, như một màn kịch câm. Như những bóng ma. Hai bóng ma, đầu trọc lốc, mắt sâu hoắm, đờ đẫn, ngồi đối diện nhau. Bốn bàn tay bám vào bát men đựng cơm, giơ lên, run run, từ từ đưa đi, đưa lại. Phải nhìn một lúc, lão mới hiểu là hai đứa đương giành nhau bát cơm của một tên nằm gục bên cạnh, không ăn nổi. Chúng không còn sức để nói, để chửi, để giằng mạnh. Một chiếc xe bò lọc cọc đi vào. Hai tên tù tự giác vào phòng, lần lượt khiêng năm xác chết trần truồng, đặt lên xe, kéo đi. Những tên tù ăn xong, đứng lên, máu mủ từ hậu môn rỏ xuống…
Nhạc Trịnh Công Sơn được nhắc đến trong Hỏa Lò,
Trang 243.Trích:
– Rận rệp là bạn đồng hành của tù. Không cách nào trừ nổi. Viết xong thư cho em chưa?
– Xong rồi. Yêu đương trong này chỉ để tiêu sầu thôi. Rồi ra, mỗi người một ngả.
Gã đầu gấu hát ong ỏng:
– Ngày chủ nhật buồn, còn ai, còn ai. Môi em nồng nàn..
Phó Nhòm chửi:
- Đù mẹ chúng nó. Đương lúc chiến tranh, chết chóc như thế mà lúc nào cũng môi em với vai em. Đúng là nhạc phản chiến. Không hiểu chúng nó là cái giống gì?
Hỏa Lò, trg 249. Trích:
Lão tới các buồng nữ, cảm ơn những người cho lão quà mừng sinh nhật. Lão cho cô ca sĩ, cô diễn viên kịch nói, gã đầu gấu mỗi người một bao thuốc lá. Tới buồng bà Sài Gòn, lão đưa cho bà một bao:
- Chị không nghiện. nhưng mỗi ngày, sau bữa cơm, hút một điếu cho thơm. Không hại gì đâu.
Có lần tôi nghe Nguyễn chí Thiện nói:
— Trong “Anh phải sống,” Khái Hưng cho chị vợ anh lái đò nói với chồng trước khi buông tay trôi theo giòng nước, để anh chồng có thể thoát chết chìm, sống mà nuôi đứa con của anh chị. Chị nói: “Anh phải sống..” Đấy là lời Khái Hưng nói chứ không phải lời chị lái đò. Chị lái đò không thể nói câu “Anh phải sống” đó..
Theo tôi câu nói của lão tù trong Khu xà lim Hỏa Lò Hà Nội: “Không nghiện.. Sau bữa cơm, hút một điếu cho thơm.. Không hại gì..” là lời Nguyễn chí Thiện. Anh hút thuốc lá khá nặng. Tôi từng hút mỗi ngày 60 điếu Lucky, Philip, Pall Mall ròng rã trong ba mươi năm, tôi bỏ hút đã được 10 năm; tôi thấy người hút Nguyễn chí Thiện đã rất chủ quan khi nói như thế về thuốc lá. Những người không nghiện thuốc không thú vị gì với khói thuốc lá. Khói thuốc chỉ làm họ khó chịu, nhức đầu, khản cổ, ho, hôi miệng. Ngày nào Nguyễn chí Thiện bỏ thuốc lá, có thể anh sẽ ngửi thấy mùi khói thiu thiu, tanh tanh, trong lỗ mũi của người đàn bà nào đó nghiện thuốc lá. Khi bỏ thuốc rồi, tôi mới biết trong ba mươi năm tôi đã can tội hành hạ vài ba người đàn bà bằng mùi khói thuốc thiu thiu, tanh tanh trong hai lỗ mũi tôi.
Tôi nói với tác giả Hỏa Lò sao anh không tả cho người đọc biết về đại thể kiến trúc Nhà Hỏa Lò ra sao, anh tả phòng tù tập thể giam 200 tù, mỗi bữa cơm tù ra sân ngồi ăn, tù ở những phòng khác thì sao? Vào giờ đó tù ở các phòng khác cũng ra hết ngoài sân ư? Cả ngàn tù ra sân cùng một lúc cai tù làm sao giữ được trật tự? Anh trả lời:
— Đây là truyện ngắn, tôi không viết chi tiết về Hỏa Lò, sợ làm loãng truyện. Hỏa Lò có 4 khu xà-lim, 14 phòng giam chung. Trước kia, thời Pháp sân nhà tù là sân chung, người đi trong sân có thể đi khắp các phòng, Việt Cộng xây tường ngăn riêng mỗi phòng. Tù mỗi phòng chỉ biết, chỉ được ra khoảng sân riêng của phòng mình. Vì có tường ngăn nên khi ra sân ăn cơm tù không nhìn thấy tù phòng bên. oảa Lò là sân chung, ra sân la dđi dđuược khăép các phòng,nhà tù là sân chung, có Tôi sẽ viết một tiểu thuyết về đời tù trong Hỏa Lò, dự định khoảng 600 trang; trong đó tôi sẽ viết chi tiết hơn về Hỏa Lò.
Nhà Tù Chí Hòa cũng bị Việt Cộng xây tường ngăn cách ra từng khu như Hỏa Lò. Điều khác là Nhà Tù Chí Hòa có lầu, một tầng duới đất, ba tầng lầu, trước 1975 mỗi tầng có hàng lang đi vòng tất cả các phòng, sân chung, phòng giam tập thể mở cửa từ 8 giờ sáng đến 6 giờ chiều, tù nhân ra sân chơi thong thả, tắm giặt, hớt tóc, mua đồ thực phẩm, đi gặp nhau, tối mới phải về phòng. Đại khái thế thôi, muốn tả Nhà Tù Chí Hòa một trăm trang chưa đủ.
Hỏa Lò. Trg 124 — Trích:
Một tên tự giác giơ chiếc áo sợi của một gã tù dở điên, dở dại, kêu lên, khiếp sợ:
– Toàn rận với trứng! Phải hàng nghìn con!
Tên quản giáo ngồi trong phòng uống trà, ra lệnh:
– Đốt nó đi!
Gã tâm thần dằng lại, rên rỉ:
– Rét lắm! Để chúng nó cắn tôi! Tôi thương chúng nó lắm! Tôi chỉ có cái áo đó. Không được đốt.
– Đốt! Cho nó một cáo áo “cung”!
Tên tự giác chạy vào kho, lấy ra một cái áo dù, quẳng cho gã thần kinh, rồi bật lửa châm đốt cái áo đầy rệp, rận ngay tại sân.
Trong những chuyện viết về cuộc sống của những quân nhân VNCH bị đưa ra những trại tù khổ sai miền Bắc XHCN thấy có trại VC dùng những bộ quân phục rằn ri của quân ta cho tù mặc. Đã thấy đau lòng. Đọc Hỏa Lò của Nguyễn Chí Thiện ta xót sa hơn khi thấy những bộ quân phục binh chủng Nhẩy Dù của quân đội ta bị VC dùng làm áo cho những tù nhân ở Hỏa Lò mặc khi đi chịu thẩm vấn.
Hỏa Lò. Trg 183. Trích:
Đột nhiên, bên kia đường, từ một căn nhà, the thé tiếng kêu la. Rồi cửa bật mở. Một người đàn bà chạy ra, đầu tóc rũ rượi. Một người đàn ông cầm một thanh củi đuổi theo, hầm hầm:
– Ông đập chết mẹ mày. Con ác phụ!
Mấy anh xích-lô ùa tới, giữ gã lại. Người đàn bà chạy sang quán nước bên kia đường, chu chéo:
– Thằng khốn nạn, mày bỏ vợ con, đi theo con đĩ đó. Bà không nhịn được nữa. Bà sẽ tố cáo cho mày mất chức hiệu trưởng, cho mày bị khai trừ khỏi Đảng!
Chị ta lấy tay vỗ bành bạch, hét lên:
– Thằng chó dái, cái này là cái gì! Nó không phải là “cái mả bố mày” sao, mà mày phải vục đầu vào cái của con nhà thổ?
Hoạt cảnh xã hội XHCN người tù thấy khi bị giải trên tù xa, xe ngừng ở thị trấn Văn Điển. Hai nhân vật trong hoạt cảnh là vợ chồng một nhà giáo XHCN, anh chồng là hiệu trưởng, chị vợ là giáo viên. Đàn bà nông thôn Bắc kỳ có đặc điểm là mặc váy — vừa mặc váy vừa mặc quần — đàn bà Trung kỳ, Nam kỳ chỉ mặc quần, không mặc váy. Đây là tình hình trước năm 1950, tôi nghĩ bây giờ, năm 2000, ở miền Bắc chỉ những bà già 90 là còn mặc váy. Vì mặc váy nên mới có chuyện sáng trăng suông em nghĩ tối trời, em ngồi em để cái sự đời em ra…” Nếu em mặc quần, em có ngồi hớ hênh đến mấy cái sự đời của em cũng không để ra được. Và đàn bà nông thôn Bắc kỳ còn một đặïc điểm nữa mà đàn bà nông thôn Trung kỳ, Nam kỳ không có là khi chửi nhau, lấy tay vỗ bem bép, bèm bẹp, bôm bốp, bành bạch vào cái “số ta “rồi tung bàn tay vừa vỗ về phía địch thủ, miệng nói lớn lời thuyết minh:
Cả nhà mày chia nhau ăn cái này của bà này… Cha tiên nhân bố mày…Mang cái này của bà về bầy lên bàn thờ cho ông bà, ông vải nhà mày ăn..”
Trong Hỏa Lò, tác giả ghi sơ sài: “Chị ta lấy tay vỗ bành bạch, hét lên..” những người đọc Hỏa Lò năm nay tuổi đời bốn bó, kể cả năm bó, chưa từng sống ở miền quê Bắc Việt một ngày, có thể tưởng là chị giáo viên miền Bắc XHCN chỉ vỗ tay xuông, họ mất dịp được biết điệu múa độc đáo của đàn bà nông thôn miền Bắc. Nghe nói có phái đoàn nước bạn XHCN, Nga, Tiệp, Ba lan chi đó, thời những đảng viên cộng sản những nước ấy chưa bị nhân dân nước họ bợp tai, đá đít đuổi đi, đến tham quan miền Bắc XHCN, thấy bốn năm phụ nữ Việt đứng ở ngoài đồng, cứ vỗ tay bôm bốp vào bụng dưới rồi tung về phía nhau, miệng nói, các đồng chí bèn hỏi phụ nữ Việt Nam anh hùng, ba đảm đang.. làm cái gì thế, hướng dẫn viên Việt bèn trả lời:
Đó là vũ điệu của dân nước tôi, phụ nữ nước tôi thường múa vũ điệu ấy trong khi lao động xã hội chủ nghĩa..”
Đoạn truyện “Vỗ bành bạch..” trong Hỏa Lò gợi tôi nhớ lại lời của nhà văn nữ Dương Thu Hương khi trả lời phỏng vấn của Đài Little Saigon; diễn tả bộ mặt của các lãnh tụ cộng sản Việt Nam, Nhà Văn Nữ ví chúng:
“..sằng sằng như.. cái gì của đàn bà bị nước sôi..”
Và tôi hiểu: phải là địa phương có nền văn hiến, văn hóa cao như xứ Bắc kỳ mới có thể sản xuất được vũ điệu đàn bà vỗ bèm bẹp rồi mời ông bà, ông vải nhau ăn của quí như vũ điệu độc đáo của phụ nữ nông thôn miền Bắc XHCN, và chỉ ở cái đất có vũ điệu bèm bẹp ấy mới có thể có Nhà Văn Nữ “sằng sằng..” như Nữ Văn sĩ Dương Thu Hương.
Đoạn truyện còn làm tôi nhớ lại một chuyện điển hình đàn bà Bắc kỳ nặc nô, đanh đá, chanh chua, ăn nói sống sượng, tục tĩu tôi nghe được khi tôi nằm trong Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu năm 1984-1985. Tháng 5 năm 1984 khi tôi xách túi đi vào biệt giam số 10 khu C Một Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, anh Vương văn Bách đã nằêm ở biệt giam số 11 ngay cạnh biệt giam 10. Rồi anh và tôi cùng sang phòng tập thể 6 khu này, chúng tôi ăn chung, nằm cạnh nhau.
Quản đốc Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu năm ấy là anh Năm Tốt. Anh này là dân kháng chiến Nam bộ tập kết ra Bắc năm 1954 khi anh còn trai tơ, anh lấy chị vợ Bắc kỳ tên là Thị Loan — chắc là tên rởm, mụ nặc nô đó mà Loan, mà Phượng ký gì — Thị Loan to béo, bụng to hơn ngực, mông đít một ề, mặt gẫy như mặt chó Fox. Vì chồng thị là quản đốc, thị giữ việc nhận thuốc và phát thuốc cho tù. Dịch vụ nhận thuốc Tây béo bở nhất nhà tù. Tù không được giữ thuốc gia đình gửi, Thị Loan thu giữ hết. Khi cần thuốc người tú có thuốc phải nhờ tù ra làm lao động báo với Thị Loan, xin dùm; thuốc gia đình gửi mười, người tù lấy được bốn, năm là may. Thị Loan ăn chặn thuốc của tù, bán cho các tay lái thuốc. Một tối tôi nghe anh Bách kể rất dí dỏm:
— Các cậu biết không, con mụ Loan nó đanh đá ghê lắm. Nó chửi Năm Tốt tối tăm mặt mũi. Năm Tốt sợ nó, nín khe. Nó nói: “Anh Năm à.. Anh gà kẹt giỏ, gà nuốt dây thung mà cũng đua đòi chơi bời.. Anh chơi tôi không cấm, tôi chỉ yêu cầu anh con nào hai l.., bốn vú thì anh hãy chơi, còn con nào chỉ một l.., hai vú thôi thì anh đừng chơi. Tôi cũng có..”
Nghe chuyện anh kể, théc méc, tôi hỏi anh:
— Con vợ Năm Tốt nó chửi thằng chồng nó ở nhà nó, anh nằm biệt giam, làm sao anh nghe được?
Anh tủm tỉm cười:
— Cậu tưởng tôi bịa ra chuyện đó à? Con vợ thằng Năm Tốt nó chửi thằng chồng nó công khai ở chỗ đông người, càng nhiều người nghe nó chửi chồng nó càng thích. Bọn công an nghe được đem ra nói với nhau, bọn tù ra làm lao động nghe được kể cho nhau nghe, tôi đứng ở cửa gió biệt giam, tôi nghe được chuyện bọn tù nói.
Tôi thấy anh nói có lý. Anh, hay bất cứ người viết truyện nào, cũng không có thể bịa ra được những chuyện đời linh động, sống thực, những ngôn ngữ đầy tính người như chuyện vợ Cai Tù VC Năm Tốt chửi chồng. Một trong những năng khiếu, và bổn phận, của người viết tiểu thuyết là ghi nhận những sự kiện đặc sắc, những mẫu người điển hình trong cuộc sống, để diễn tả trong tác phẩm. Tỷ dụ thành ngữ “lấy lỗ làm lãi” trong Hỏa Lò, như “hai l.., bốn vú” trong Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu. Người viết nghe, ghi nhận, và đưa vào tác phẩm của mình những ngôn ngữ của nhân dân, người viết không chế ra những câu ấy.
Tết năm 1985, Năm Tốt đi một vòng các phòng, gọi trưởng phòng ra cửa, ban lệnh:
— Ba ngày Tết tôi để các anh vui Tết thoải mái. Sau Tết anh nào đánh bạc bị bắt tôi phạt biệt giam bẩy ngày, trưởng phòng tôi cho đờ-mi tăng!
Đờ-mi tăng” của Năm Tốt là tù phạm kỷ luật bị phạt 7 ngày nằm sà-lim, cùm một chân, trưởng phòng để tù đánh bạc bị phạt nằm biệt giam, còng chân ba ngày rưỡi. Tôi nghĩ không có nhà văn nào có thể tưởng tượng ra tiếng “đờ-mi tăng” của Năm Tốt, lại càng không có nhà văn nào, dù lớn đến đâu, đặt ra được câu “hai l.., bốn vú” như câu vợ Năm Tốt nói. Mụ vợ Năm Tốt không phải là người sáng tác ra bốn tiếng gợi hình ấy, tác giả câu ấy là nhân dân Việt Nam.
Hỏa Lò. Trg 196. Trích:
– Chuyện dân lái xe bọn tớ thì kể muôn đời không hết. Không phải vô cớ là nhân dân gọi bọn tài xế xe tải là giặc lái. Thời chiến, bọn tớ chỉ cần đi một chuyến vào Quảng Bình đất lửa, là được thưởng 300 đồng, bằng sáu tháng lương cán bộ. Chẳng thằng nào muốn vào chỗ chết đâu. Nhưng không đi cũng không được. Đoàn xe tải chúng tớ tới đậu ở đâu, là dân sợ như sợ dịch hạch. Họ thường xuyên bị chết oan, khi máy bay Mỹ tới bắn phá. Sợ thì sợ đấy, nhưng đêm đến, suốt tuyến đường từ Ninh Bình đến Quảng Bình, chị em nông dân vẫn kéo tới chỗ đoàn xe chúng tớ đậu. Bọn giặc lái chúng tớ chỉ cần chi ra ba, bốn cái tem gạo bộ đội 250 gam, là đưa các nàng vào gầm xe. Đủ kích, cỡ. Từ thiếu nữ dậy thì mười bốn, mười lăm, tới bà xồn xồn gần năm choạc. “Nhớn bùi, bé mềm”, bọn tớ sơi tái. Đúng là cái thời kỳ “Đường ra trận mùa này đẹp lắm..” Có điều cơ thể các nàng đói, còm quá, giảm mất hứng. Gặp em nào khéo chiều, tớ “nhân đạo” cho thêm gói kẹo, gói mì ăn liền. Em cảm động rưng rức…”
Bọn “giặc lái XHCN” là bọn tài xế lái quân xa, tôi hỏi tác giả Hỏa Lò về tem gạo, thường được người miền Bắc gọi là tem phiếu — chế độ tem phiếu không được VC áp dụng ở miền Nam — anh cho biết tem gạo của bộ đội có thể mua gạo ở bất cứ đâu, tất nhiên là mua ở cửa hàng lương thực Nhà nước XHCN, và ai cầm tem là được mua gạo, vì bộ đội thường đưa tem cho người nhà đi mua gạo.
Hỏa Lò. Trg 292. Trích:
– Xã hội đói, khó tránh khỏi những chuyện như vậy lắm. Bỏ tù bao nhiêu cũng vô ích. Từ mấy chục năm nay, các trại đầy ắp lưu manh. Lớp nọ kế tiếp lớp kia, ngày càng đông đảo. Thời Tây, ở Hà-Nội giỏi lắm đếm được gần trăm tên trộm cắp, tụ tập ở chợ mấy Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Mơ, chợ Đuổi. Phần lớn đều mồ côi, mồ cút. Con cái những nhà nghèo lắm mới phải đi bán kem, bán báo, đánh giầy, đánh mũ. Ở nông thôn, chỉ thỉnh thoảng xẩy ra chuyện ăn trộm con gà, con qué. Tôi chưa thấy một giáo viên, một học sinh nào đi ăn cắp cả. Bây giờ thì nhan nhản. Xã hội đã lưu manh hoá mất rồi. Vào rạp xi-nê mà bỏ dép, để chân lên ghế trước, là y như rằng mất biến. Mới tháng tám, mà số nhập Hỏa Lò của tôi đã là 4257. Như vậy hàng năm, Hỏa Lò phải bắt vào ít nhất là 6000 tù.
Chừng một tháng sau ngày tôi bị bắt lần đầu năm 1977, một sáng cai tù đập cửa phòng biệt giam, lần thứ nhất tôi nghe tiếng “danh chỉ bản”: bảng tên, tuổi và dấu chỉ tay.
— Đi làm danh chỉ bản.
Trong một khoảng sân hai cái bàn dài được đặt, toán làm danh chỉ bản từ Sở đến làm việc. Đến lượt tôi lăn tay, tôi nghe một em công an chừng hai mươi tuổi, em này là con nhà Việt Cộng, có bố, chú, bác là Việt Cộng nên em được vào làm công an, nhan sắc và học vấn em thuộc loại tôi vẫn gọi là “chuối chiên, vịt lộn”. Em théc méc nói với anh công an ngồi ở bàn :
Sao người bị bắt nhiều quá? Mới tháng trước mình vào đây làm giấy cho bao nhiêu người, hôm nay lại bao nhiêu là người..
Gã công an đàn anh trạc ba mươi, có vẻ là công an Bắc kỳ vào Nam, bình thản nói một câu xanh rờn:
Bị bắt thì mới từng này thôi, chưa bị bắt thì còn mấy triệu người nữa.
Tôi chịu câu “.. chưa bị bắt thì còn mấy triệu người nữa” của anh công an Thành Hồ quá xá. Anh ta nói câu đó không có ý mỉa mai hay cười cợt. Đúng vậy. Có thể nói toàn thể dân Sài Gòn không ưa Việt Cộng, viết “không ưa” là quá nhẹ, là viết bậy, viết đúng là “toàn dân Sài Gòn thù hận Việt Cộng, khinh ghét Việt Cộng” và trước mắt bọn Bắc Việt Cộng toàn thể dân Sài Gòn có tội với VC, nếu VC có thể làm như bọn Khờ Me Đỏ Pon Pot, ít nhất ba triệu dân Sài Gòn đã bị bỏ tù, hai triệu mạng đã chếtø. Từ lúc nghe câu nói ấy tôi vẫn định ngày nào viết được tôi sẽ viết một bài với đề tựa “Còn mấy triệu người nữa..” Thấm thoắt vậy mà đã hơn ba mươi năm vèo qua kể từ buổi sáng tù đầy tôi nghe ba tiếng “danh chỉ bản” lần thứ nhất ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu.
Đây là lời một đảng viên cộng sản tù nhân Hỏa Lò:
Hỏa Lò. Trg 204. Trích:
Đất nước thống nhất, tôi có dịp đi công tác vào Nam ngay. Qua vùng đồng bằng sông Cửu Long, tôi thấy tận mắt nông dân dùng cả gạo để nuôi lợn. Quá no đủ. Đầy tình người. Đặt chân tới thành phố Sàigòn, tôi giật mình. Phồn thịnh quá, hạnh phúc quá! Trẻ con ngoan ngoãn, lễ phép. Hóa ra tuyên truyền toàn bố láo. Cả một cuộc sống như vậy mà không biết giữ lấy. Thật đáng tiếc! Thật đáng trách!
Anh bạn tôi về thăm Hà Nội năm 1980, trở vào anh bảo tôi:
— Cậu phải về Hà Nội. Cậu phải về để thấy bọn miền Bắc chúng nó sống ra sao, về để cậu nghe những con vợ nó chửi thằng chồng, những thằng con nó chửi bố mẹ, những thằng trẻ nó đ.m. những ông bà già ở ngoài đường. Cậu phải về để thấy bọn chúng nó sa đọa, đốn mạt đến là chừng nào, để thấy bọn mình trong này mới là người, chúng nó ngoài ấy không phải là người.
Anh kể những chuyện linh tinh, những chuyện thật nhỏ, thật thường nhưng nói lên thật nhiều sự thật:
— Buổi sáng ở ngoài đường có những ông già tập thể dục, một ông hô.. một.. hai.. ba.. bốn. Bọn trẻ chúng nó la theo nhịp “Tham.. sống.. sợ.. chết..” Buổi trưa ăn xong, tôi nằm ngủ lơ mơ, thấy thằng nhỏ con chủ nhà thì thụt, sầm sì gì với mấy thằng bạn. Chúng nó chạy đi. Một lúc sau thấy chúng nó trở về, lại sầm sì. Tôi hỏi, chủ nhà nói: “Chúng nó đi làm kế hoạch nhỏ. Nhà trường ra chỉ tiêu mỗi thằng phải nộp 10 viên gạch để sửa trường. Gạch ở đâu chúng nó có? Có cái nhà đang sửa gần đây, chúng nó đến lấy trộm gạch, đem về dấu đi, mai nộp cho trường.”
- – – – – – – – – – – – – – – – – – – – -
Bạn đã đọc đoạn Nguyễn Chí Thiện viết về một nàng Kiều người đầy chấy rận, liếm lá gói bánh vứt dưới cống ở Nhà Tù Hỏa Lò, Hà Nội, mời bạn đọc lại bài thơ cũng của Nguyễn Chí Thiện, làm ở Hỏa Lò năm 1983:
Những nàng Kiều…
Cộng sản kết tội phong kiến và xót thương
Nàng Kiều ngày xưa trong văn chương!
Còn những nàng Kiều ngày nay trong Hỏa Lò, ai thương?
Ghẻ lở đầy, gầy giơ xương
Vét ăn từ hạt cơm dưới rãnh
Cũng cùm kẹp, đòn đánh
Cũng lén hút thuốc lào như những ông mãnh lưu manh
Gót sen lướt qua là sặc mùi tanh!
Bạn đã đọc truyện Nguyễn Chí Thiện viết về cái đói của người tù trong nhà Hỏa Lò, đây là Thơ Nguyễn Chí Thiện viết về cái đói của người tù miền Bắc XHCN:
Sự đày ải
Sự đày ải đã man gấp trăm lần đem bắn
Có kẻ chết bụng mổ ra toàn vỏ sắn
Có người ăn cả cỏ như trâu
Dù họ làm ra đủ thứ hoa mầu
Hoa mầu đó Đảng dùng nuôi lợn. (1979)
Xuất cơm tôi
Xuất cơm tôi một hôm đánh đổ
Tôi còn đương đau khổ nhìn theo
Thì nhanh như một đàn heo
Bốn, năm đầu bạc dẫm trèo lên nhau
Bốc ăn một lúc sạch lầu
Miếng cơm, miếng đất, lầu bầu chửi nhau! (1966)
Lâu rồi tôi đã thấy Thơ là Tinh Hoa của Ngôn Ngữ, đọc Thơ và Truyện của Nguyễn Chí Thiện tôi lại càng thấy Thơ là Tinh Hoa của Ngôn Ngữ. Những ý tình, những chuyện đời mà hai người viết truyện Nguyễn Chí Thiện, Bùi Ngọc Tấn viết, kể trong năm bẩy trang sách, bằng ít nhất ba, bốn ngàn chữ viết, được chứa đựng đầy đủ, cô đọng, hàm súc trong một bài thơ 10 câu, 100 chữ của Nguyễn Chí Thiện. Truyện Nguyễn Chí Thiện làm tôi xúc động, Thơ Nguyễn Chí Thiện làm tôi xúc động hơn. Như:
Có phải em là
Có phải em là em bé
Bố tập trung xa cách đã mười năm
Bố dượng em là bác da ngăm ngăm
Là đồng chí bí thư nơi mẹ em công tác?
Anh là bạn tù của bố em, từ tỉnh khác
Về tìm em để nhắn hộ tin
Bố em giờ đau ốm cần xin
Ít ký-ninh, ít đường đen bồi dưỡng
Bố dặn mẹ hãy an lòng, đừng ngượng
Bố hiểu cảnh tình, rất thương mẹ và em..*
Cả một truyện ngắn đau thương gói gọn trong 10 câu thơ lục bát. Viết đến đây nỗi buồn sầu làm tâm trí tôi rời rã. Từ 35 năm nay những tác phẩm văn chương sáng giá nhất của chúng tôi là những tác phẩm viết về tù đày, về thù hận, oan khiên, về chuyện người Việt hành hạ, giết tróc người Việt. Dân tộc chúng tôi còn đau khổ đến bao giờ?
Tôi buồn tôi viết không còn lửa. Xin tạm ngừng nơi đây.
 HOÀNG HẢI THỦY