Saturday, December 12, 2015

NGUYỄN LỆ UYÊN * GIỮA BIỂN KHƠI

GIA BIN KHƠI
Nguyn L Uyên
truyện ngắn




        






           Mười sáu. Hăm . Bốn ba. Đủ. Rồi. Đằng trước bước”. Đông vừa xếp những viên ngói bể vừa lầm nhẩm đếm, bắt chước giọng tên giám thị già phòng 28. Mấy người ngồi dưới tàn cây cạnh ngôi nhà đổ nát nhìn hắn mỉm cười. Hắn như không thèm để ý đến ai, chăm chú với trò chơi “quái gở” suốt ngày này sang ngày khác, mỗi khi có dịp. Hắn lủi thủi, cô độc và thỉnh thoảng hình như hắn có vẻ hâm mộ dáng bệ vệ của tên giám thị. Trong đám tù phòng 28, hắn không gần gũi, vồn vã với ai, chỉ cười hoặc gật đầu mỗi khi được hỏi đến. Vậy cũng là đủ lắm rồi. Cuộc sống bên ngoài hay chính cuộc đời tù tội đang thay đổi dần tính tình hắn. Chỉ có trời mới hiểu được. Nhưng dù sao Đông cũng là tên tù dễ chịu và ít nguy hiểm nhất. Tất cả đám tù ở 28 đều mến hắn chính ở cái vẻ lầm lì, đôi khi ngơ ngẩn đó.
          Nắng đa lên cao, chói lọi, nóng bức tưởng có thể đốt cháy mặt đất ở dưới chân. Nhưng Đông vẫn cứ ngồi đếm miệt mài và thỉnh thoảng lại phá ra cười một cách lặng lẽ. Hắn hình như mặc kệ thời gian và chẳng cần để ý đến sức nóng khó chịu. Đông lặng lẽ như cái bóng nhỏ xíu hắt nghiêng xuống nền sỏi đỏ, tội nghiệp giữa đám người đủ loại thành phần trong xã hội mà nhà cầm quyền liệt vào loại cặn bã, là nguy hiểm đến an ninh quốc gia.
          Một lúc lâu sau, Đông ném vụt những viên ngói bể, bước lại ngồi xuống cạnh tôi.
“Trưa nay anh em mình ăn cơm ở đây hay về trại, anh cả?” – Đông vẫn luôn luôn
gọi tôi là anh cả.
Thúc ngồi bên cạnh bĩu môi.
“Đồ ngốc, mày tưởng anh cả mày là giám thị chắc?”.
“Thì hỏi vậy mà” – Nó nhăn răng cười mà không có một ý nghĩ nào đọng lại trên đó.
“Thôi đi ông tướng. Đằng trước bước” –Thúc chế nhạo, và cười hố hố. Mặc Thúc cười Đông vẫn cứ tiếp tục hỏi.
“Trưa rồi, không lẽ phải kéo bộ tới bảy cây số về trại?” – Đông ngây thơ một cách tự nhiên. Tôi liệng viên sỏi ra xa, chỉ tay theo hướng đó, nhưng Đông vẫn không hiểu. Tôi đành nói.
Ăn nhằm gì”.
Bỗng hắn vỗ tay reo.
“Có xe ngựa tới kìa. Ăn cơm ở ngoài này rồi.
Tôi nhìn theo. Quả thật chiếc xe ngựa cũ kỹ, xộ xệch chạy thấp thoáng sau cánh rừng thưa. Xe ra khỏi khúc quành. Tôi thấy có hai người tù già ngồi lắc sau thùng gỗ, ở trước là tên giám thị và người lính ôm khẩu súng vượt cao lên khỏi đầu. Tất cả đều lắc theo nhịp xe nẩy xóc, thỉnh thoảng huơ tay che miệng như phẩy đám bụi mù từ dưới bánh xe và vó ngựa tung lên. Đông chăm chú nhìn theo bánh xe lăn đều như thể cơn ham muốn của nó sắp sửa choàng lên người nó. Xe tới gần. Lão giám thị 28 vẫn chưa thấy trở lại. Hắn ra phía đám bắp từ lâu và ngồi lì ở đó. Tiếng Thạch gáo nổi lên đột ngột với giọng the thé.
“Bữa nay tía mình bị táo bón rồi! Đi ỉa gì lâu quá vậy, nửa tiếng đồng hồ vẫn chưa chịu vô?”
“Thằng bá láp, lão nghe bắt đi khìu nìu bây giờ!”.
“Ngồi… lâu thì chắc chắn phải có triệu chứng gì chớ. Có ai đi ỉa tới cả tiếng đồng hồ mà không mắc một bệnh gì đó?”.
“Biết đâu thằng chả đang gặp con mẹ bẻ bắp trộm?”.
“Già quéo rồi, khéo bày đặt”.
Lão giám thị gò cương ngựa dưới bóng cây. Bụi tung mù mịt. Đám tù chợt im lặng và đứng vội lên. Cả bọn bịt mũi vừa chạy ra xếp hàng ở hai bên thùng xe. Hai tên tù già ngồi trong lòng xe dụi mắt, tỉnh ngủ, hỏi lơ ngơ.
“Ủa, tới rồi hả?”.
Người lính ôm súng đứng bật dậy la:
“Làm ơn xuống lẹ đi ông nội. Đợi khiêng nữa sao?”.
Hai tên tù già đi mang cơm bẽn lẽn tụt xuống khỏi thùng gỗ, đứng cạnh tên giám thị. Một tên nói chữa cho riêng một mình nghe.
“Buồn ngủ quá, ngủ một giấc thiệt ngon”.
Tên giám thị phụ trách chuyển cơm ngạc nhiên hỏi:
“Ủa, xếp đâu rồi, sao để tụi bay lênh nghênh vậy?”
“Đi ỉa” – tiếng la ở cuối hàng nổi lên thiệt lớn.
Hắn ta đập mạnh gót giày xuống đất sỏi, nạt:
“Xỏ lá, thằng nào đó?”.
“Thưa xếp, em” – và Thạch gáo bước ra khỏi hàng, đứng thẳng đuột như một cây cau.
Tôi đứng phía sau chót nghe một tiếng bốp như người ta lấy búa đập lên đá.
“Lần sau nhớ ăn nói lễ phép – tên giám thị lầm bầm – Trưa nay một vắt. Phạt luôn
chiều. Số mấy?”.
“Dạ thưa xếp 17”.
Hắn quay sang người lính.
“Chút nữa về, anh nhớ nhắc tôi số 17”.
Người lính hình như không nghe thấy lời gã nói, mắt dõi về phía đám bắp chạy ngút ngàn ra phía biển và la lên “ổng về kià”.
Tên giám thị trại 28 vai mang súng, tay ôm bụng nhăn nhó bước ra khỏi hàng rào cây bao đám bắp. Hắn tiến về phía đám đông một cách chậm chạp và mệt nhọc.
Tới nơi hắn vất súng bừa lên gốc cây khô, ngồi bệt xuống.
“Đau bụng quá. Ăn phải cái giải gì không biết nữa!”.
Thạch gáo quay xuống phía tôi cười cười ra ý hắn đoán chính xác. Tôi cười trả lễ.
Bữa ăn trưa diễn ra thật lẹ, gọn gàng: người lính điểm danh, chấm công rồi bắt đầu phát cho chúng tôi mỗi đứa bốn vắt cơm lớn bằng thỏi đất con nít chơi nghịch, một dúm rau muống trộn muối, hai con cá trích lớn không hơn ngón tay trỏ Đông. Riêng Thạch gáo chỉ được vắt cơm với rau muống muối ớt. Hắn bị cắt mất phần cá và ba vắt cơm. Mặt hắn tiu ngỉu ngồi nhai chậm chạp từng miếng như sợ phải ăn hết, có thì giờ ngồi nghiền nát chút chất ngọt từ những hạt cơm hẩm mốc, những gốc rau muống già còn nguyên cả rễ. Hình phạt với Thạch vẫn thường xảy ra với chúng tôi, nên không ai ngạc nhiên, cắm cúi nhai, nuốt một cách chậm rãi như cố lắng nghe một chút bổ béo lẩn khuất đâu đó từ từ luồn qua hai hàm răng, trôi qua cổ họng và nằm yên vị trong cái dạ dày luôn cồn cào, thôi thúc, réo gọi. Tôi không
hơn gì bọn họ, cũng chậm chạp nhai kỹ từng cọng rau muống, nghiền thật nát chúng dưới ham hàm răng khoẻ. Nhai đến những sớ xơ già dai nhanh nhách cũng phải tưa nát ra. Lúc mới nhập trại, cả bọn đều chê loại rau khó chịu này. Thấy tôi hào hứng với những sợi rau có thể trói chặt tay người, chúng gạ đổi lấy cá, cơm.
Và bọn họ đa gọi tôi là con heo ốm o. Tôi không phản ứng. Sau này, nhân lúc cả trại được tắm biển tôi mới giải thích cho chúng hiểu rằng một ký lô rau muống chứa chất bổ dưỡng gần bằng với ký thịt bò. Chất sắt trong rau giúp chống lại các loại bệnh tật, đon roi… Bằng cớ là mấy tháng bị giam nhốt, tôi vẫn không hề suy yếu. Cả bọn tin lời tôi và đặt cho biệt danh khác: bác sĩ. Từ đó món rau vàng úng
này đắt giá hơn là cơm hẩm, cá ươn…
Ăn xong, chúng tôi lại xếp hàng nối đuôi nhau nhận từ tay người lính nửa ca nước nhỏ xíu. Tên nào đứng sau nhận được một ca thì bữa đó coi như được chúa ban phước lành cho hắn, hoặc chỉ còn được phần năm thì là trời phạt. Cho nên thằng đứng sau là kẻ chịu thiệt thòi nhiều nhất và cũng là người may mắn nhất trần gian đối với một hoàn cảnh khốn khó như thế này. Có lúc Đông nói đùa “nếu em là con
lạc đà thì sướng biết mấy”. Nó nói đúng. Ở một lúc nào đó, hạnh phúc con người chính là con vật được hoá thân. Nhưng bằng cách này hay cách khác chúng tôi lại phải phấn đấu, chống chọi và cam chịu. Chỉ có những giây phút như hôm nay mới thật là thần tiên. Sung sướng biết bao khi được ngồi dưới tán lá cây rợp bóng râm, được thong dong ngồi ngắm những cụm mây xốp nõn trắng bay ngang qua đầu, giữa bầu trời xanh lơ, hứng ngọn gió mát thấm da, nghe sóng biển vỗ ầm ì từ xa vọng về như một khúc nhạc đồng quê có bước chân trâu trên bờ ruộng, có tiếng tiêu hòa vào tiếng ễnh ương, chẫu chuộc… trong ráng chiều óng vàng chân trời xa… Ở ngoài đời, động từ ỉa nghe thật thô tục làm sao, đôi khi trở nên ghê tởm. Nhưng trong thế giới của bọn tôi, nếu có một tên giám thị bị đau bụng như hôm nay chẳng hạn thì thật ơn phước. Nếu chúng tôi cầu nguyện để hắn luôn bị mắc chứng kiết lỵ kinh niên thì thật khổ thay cho thân hắn. Nhưng thời gian hắn đang ngồi rặn… chúa ôi, quá là may mắn cho cả . Bỡi chúng tôi không phải hì hục khiêng những tảng đá to, nặng xếp thành bức tường dọc hai bên đường đi, chúng tôi không phải lặn lội tận rừng sâu chặt từng cành khô với cơ man muỗi vắt chống trả… chỉ có ngắm mây bay và nghĩ về đất liền như một miền mơ tưởng không bao giờ thành sự thực! Đất liền có những bà mẹ nối sợi dây thương nhớ bằng những sợi nước mắt mưa, có những người vợ đêm đêm lăn trở trên chiếc giường trống lạnh…
Và người yêu… Tôi luôn tự hỏi họ sẽ nghĩ gì về chúng tôi? Có một phút giây nào chợt nhớ đến nụ hôn vội vàng? Họ có bị thời gian xóa đi như thác nước? Không thể trách được. Họ cặp tay người tình mới trên đường phố, hôn say đắm trong bóng tối nhá nhem ở những rạp xi-nê với một chút giật mình cũng quá đủ cho sự hoài
nhớ, thuỷ chung, tôi nghĩ vậy. Có thứ quyền uy nào bắt họ phải mòn mỏi chờ đợi
người tình không bao giờ trở lại. Và em, em có ở trong đám đông vội vã ấy không? Em có hát bài Ngọc Lan (mà em bảo chỉ riêng cho anh) cho ai khác thay chỗ đứng của anh? Rồi cũng những nụ hôn run rẩy, vội vàng. Tôi lắc đầu, choàng tỉnh, vuột ra khỏi cơn dị mộng với nỗi hoang mang tột cùng. Chiếc xe quay về. Hai tên tù già ngồi lắc trong thùng gỗ trông như hai hũ mắm rỗng. Cây súng của người lính đặt ngang như một khúc củi mục. Đợi cho chiếc xe khuất sau rừng cây, lão giám thị 28 ra lệnh cho chúng tôi giải tán, nghỉ. Bọn tôi mỗi người tự tìm một chỗ ngã lưng vừa ý và dư hiểu tại sao hắn có biệt nhãn với chúng tôi trong những buổi trưa đi lao dịch.
Bọn tôi cũng thừa hiểu hắn tiến ra phía lùm cây xách chiếc túi da lại chỗ gốc cây có tảng đá phẳng như tấm thớt to để làm gì. Hắn ghếch chân lên đon gỗ, súng đặt trên hai vế, từ từ lôi những gói thuốc lá như khiêu gợi sự thèm muốn. Mười đồng một điếu Bastos đen, bốn chục đồng một điếu Capstan, Ruby Quân tiếp vụ mười lăm đồng, điếu con mèo có giá từ tám chục đến một trăm đồng… Bốn mươi ba thằng người bắt đầu lật bâu áo, giở cạp quần hay mò trong giải rút lôi ra những đồng tiền cong queo. Ở xa trông chúng tôi không khác một khỉ rừng đang chụm vào nhau bắt rận. Những tờ giấy bạc chìa ra, tay kia cầm vội điếu thuốc thật chặt trong tay, như sợ có người bất ngờ giật đi mất.. Khói bắt đầu bay thành cột mỏng, vương vất, tan loãng. Cả bọn chìm lú vào khói thuốc, không một lời nói, không một tiếng động. Mọi người cố tận hưởng những cảm giác sảng khoái. Đầu óc như giãn ra. Chỉ có những giây phút này, đám tù lao dịch mới có những ảo giác mông lung thoáng chốc và có ảo tưởng như mình đang sống bên ngoài vòng đai sắt, được tự do. Tôi mua hai điếu chia cho Đông. Hắn nhận lấy châm lửa. Cả tháng nay hắn chưa được người nhà tiếp tế. Dĩ nhiên, tôi là người đầu tiên phải chia sớt cho nó chút hạnh phúc bé nhỏ. Đông ngồi dựa lưng vào gốc cây. Tôi xoãi cẳng nằm dài trên bãi cỏ khô, lơ mơ nghe tiếng gió thổi rì rào trong đám lá bắp. Gió mơm man bên tai và rì rào ve vuốt trên mặt. Ngoài xa kia, biển vỗ ì ầm rồi thì thào nho nhỏ như một hợp tấu khúc khổ nhục. Tôi thiếp dần trong giấc ngủ nặng nề và mơ thấy mình đang ngồi ở vỉa hè Sài Gòn uống ly cà phê đắng ngắt.
Mười bảy. Mười tám. Hai lăm. Ba mốt. Bốn ba. Đủ rồi. Đằng trước bước. Tám mươi sáu bàn chân đen đúa, ốm o xiêu xẹo lê qua cổng sắt. Hai người lính gát vội vàng kéo tấm cửa chằng kẽm gai tua tủa, đóng kín sau khi tên tù cuối cùng bước qua khỏi lằn ngạch. Tới vòng rào thứ hai chúng tôi đứng lại điểm danh. Vào trong sân trại, điểm danh. Giải tán. Một tốp ngồi ngoài hiên. Một tốp chui vào phòng.
Tốp khác đi quanh quẩn trong khu vực hẹp như ngóng trông, chờ đợi, tìm kiếm thứ gì. Tiếng đấm bóp bắt đầu lạch chạch nổi lên. Sau một ngày vác đá, lăn cây những bắp thịt được giãn nở dưới những bàn tay thô ráp. Tôi và Đông thay phiên nhau, kẻ nằm dán lên tấm chiếu rách, kẻ đấm ơ hờ. Đông cúi xuống hỏi nhỏ:
“Sao cả tháng nay không có chuyến tàu nào ra cả, anh?”
“Biết đâu gia đinh cậu bận” – Tôi trả lời cho qua chuyện.
“Em mong tin quá. Hôm nay là ngày hai mươi chín tháng bảy rồi. Còn một năm hai tháng hai sáu ngày là em mãn”
“Về học lại không?” – Tôi hỏi.
“Học hành gì được nữa anh. Năm nay em gần mười bốn rồi. Biết có được đi lính không nhỉ?”
“Sợ không được đi lính. Nước mình thanh bình từ hồi nào vậy?”
“Đâu biết” – Đông ngây thơ.
“Hay lấy vợ vậy” – Tôi hỏi đùa.
“Em sợ”
“Thì em đừng vác dao rượt đuổi vợ như từng rượt ông hiệu trưởngvà mấy tên cảnh sát là êm chứ gì?”
“Nhắc chi tới chuyện đó”.
Cả phòng vụt ngồi dậy im lặng. Có tiếng bước chân loạt xoạt ở bên ngoài hành lang. Đông dựng vội tôi lên như dựng một khúc cây. Trong trại này không có lệ
đấm bóp. Bị cấm ngặt. Tên tù nào lỡ bị bắt quả tang sẽ phải bị cúp khẩu phần ăn hai ngày. Cho nên giữa đám tù và bọn giám thị vẫn canh chừng nhau hoài hoài. Tiếng loạt xoạt mỗi lúc càng gần rồi ngừng hẳn trước cửa phòng 28. Tên giám thị ló đầu vào, chìa mảnh giấy, gọi:
“Ba mươi chín B đâu?”.
“Dạ, có mặt” – Tôi la lớn.
“Lên văn phòng ngay” – Giọng vừa hách dịch, vừa ban ơn.
Tôi đứng lên. Chỉ có Đông ngó tôi. Mọi người tù khác đều yên lặng, không nhúc nhích. Kêu lên kêu xuống trong trại là chuyện thường nên chẳng ai buồn để ý. Ngay cả khi những tên giám thị lôi xềnh xệch một cái xác máu me đầm đia, tả tơi như chiếc mền rách. Đám tù cũng chỉ liếc ngang thật nhanh, rồi thôi. Mỗi một thân xác ở nơi địa ngục này đều tự giữ lấy thân, cam chịu và ích kỷ. Ích kỷ trở thành bản chất tốt nhất để bảo vệ lấy mình. Tôi bước theo tên giám thị mà không thể đoán được điều gì sẽ xảy ra. Qua hai
chiếc cổng sắt và đi một đoạn khá xa, tên giám thị bảo tôi đứng chờ trước cửa văn phòng khu trại giam và bước vào trong. Đây là lần đầu tiên tôi được nhìn thấy khu vực này. Tôi dựa lưng vào thành trụ xi măng đợi vừa đưa mắt quan sát khắp lượt: những hàng cây được cắt tỉa nắn nót, lối đi trải đá cuội trắng (tôi đoán là công sức của anh em tù lặn xuống biển sâu, giữa bầy cá mập xám vớt lên), những chậu cây cảnh... Mùi hôi từ quần áo trên người xông lên tận mũi khiến tôi khó chịu. Ba ngày nay chưa được lệnh tắm rửa. Hôi hám, ghẻ lở, ốm o, chí rận, bọ chét… là dấu vết của một hình dáng rất dễ phân biệt giữa những người tù và kẻ khác ngoài đời. Bất thần có tiếng gọi:
“39B vô đi”.
Tôi lặng lẽ xô cửa bước vào.
Tên giám thị đứng dập chân, khúm núm xoa hai tay vào nhau:
“Dạ thưa sếp, đây là tên 39B phòng 28” – Rồi hắn xoay về phía tôi – “đây là ông tân giám đốc trại, phải biết lễ độ, nghe rõ chưa?”.
“Thôi được rồi, anh có thể bước ra ngoài”.
Tôi gật đầu chào ông ta. Nét mặt người trưởng trại còn hơi trẻ so với chiếc ghế ông đang ngồi, và có chút gì thởi lởi mà tôi đoán chừng là ông ta mới bước chân vào vị trí không lấy gì làm vui vẻ này. Tôi cố tìm trên đôi môi, khoé mắt, ở hàng lông mày… những nét đanh ác, dữ tợn của hầu hết những tên chúa ngục, nhưng chưa hề thấy; hay ông ta giấu kỹ đâu đó đằng sau vẻ thởi lởi kia. Chừng như hiểu được cái nhìn soi mói, dò xét của tôi, ông ta nhếch nụ cười vừa phải, hỏi:
“Thế nào?”.
Tôi nhìn xoáy vào người ông ta mà không trả lời. Ông ta đưa tay chỉ chiếc ghế đẩu trước bàn ra dấu bảo tôi ngồi xuống. Tôi chần chừ quay nhìn sang chỗ tên giám thị đứng lúc mới vào, nhưng hắn đa đi tự lúc nào.
“Không sao, anh cứ ngồi xuống”.
“Vâng, cảm ơn ông”.
“Anh đa ở đây bao lâu?”.
“Bốn năm hơn hai tháng”.
“An anh kêu bao nhiêu?”
“Năm năm”
“Tội gì?”
“Có phương hại đến an ninh quốc gía”
“Tội nặng!”
“Vâng, thưa ông”
“Ở ngoài anh hành nghề gì?”
“Đủ nghề, nhưng nghề nào cũng thất bại”
“Có một lúc anh dạy học?”
“Hai năm” – Tôi trả lời và không hiểu ông ta muốn gì.
Ông ta quẹt lửa châm hút và chìa gói thuốc mời tôi, nói tiếp:
“Hình như anh khó chịu lắm thì phải?”
Tôi đổi tư thế ngồi.
“Ở hoàn cảnh như chúng tôi, ít ai dám nói ra những điều mình suy nghĩ trong đầu”.
“Tôi không lạ. Và sau này anh có thời gian dài làm báo?”
Tôi bắt đầu cảm thấy khó chịu thật sự. Ông ta đa biết cả rồi, sờ sờ trong đống hồ sơ dày cộm kia, còn bắt tôi cung khai làm gì nữa? Ông ta sẽ bày những trò gì nữa đây.
Tôi tự hỏi và im lặng thay vì trả lời.
“Từ lúc bước vô phòng tới giờ, anh nghĩ tôi thế nào?”.
Tôi nhướng cặp mắt lên mà không nhìn vào cái gì. Bên ngoài có tiếng kiểng báo hiệu giờ cơm chiều.
“Hình như tôi vừa mới trả lời”
“Thôi được, kể từ hôm nay anh có thể thong thả đôi chút, không phải trở vào phòng cũ. Anh ở đây giúp tôi”.
“Cảm ơn tấm lòng tốt của ông. Tôi còn đứa em nuôi khi gặp nhau trong hoàn cảnh tai hại này! Dĩ nhiên một tội tù không được quyền làm như vậy nhưng nó còn nhỏ quá…”
Ông ta khoát tay:
“Tôi hiểu, tôi hiểu. Ngay sáng mai tôi sẽ cho đứa nhỏ đó lên với anh luôn. Nó sẽ tưới cây ngoài sân kia, được chứ? Anh có thể về phòng được rồi. Tạm biệt”.
Tôi chào ông, bước ra. Tên giám thị đứng chờ sẵn bên ngoài hành lang. Tôi bước theo hắn trở về trại với nỗi lòng hoang mang, không hiểu tại sao có trường hợp lạ lùng này?
Bọn tù đang ăm cơm. Đông nhận phần cho tôi và chờ tôi về. Tôi ngồi xuống bên nó, ăn chậm rãi. Đông có vẻ lo lắng, bồn chồn. Hắn muốn hỏi tôi nhưng nghĩ sao lại cúi xuống và nốt chỗ cơm còn lại trong ca. Tôi nuốt miếng cơm cuối cùng và lặng lẽ bỏ vào chỗ nằm.
Tiếng muỗi bay vo ve. Tiếng đập tay chan chát. Tiếng rên rỉ, lăn trở của mấy người tù già…. Tất cả tạo thành âm thanh mòn rỉ, lúc lớn lúc nhỏ không rõ ràng làm tôi nhức óc. Tôi cố nhắm mắt, bịt hai lỗ tai, nhưng thứ âm thanh mòn rỉ tàn tạ kia cứ len lén chui vào một cách trơn tru. Đôi ba lần xoay trở, nhưng ở phía nào cũng vẫn phải nghe. A, mày phải nhớ thân phận mày là một thằng tù, một kẻ mà đám đông nhân danh luật pháp đa đặt ra cho mày một chỗ đứng riêng biệt và cần phải được giáo dục lại một cách cẩn thận theo khuôn mẫu của các cá nhân tự cho mình có một quyền uy tối thượng. Luật pháp là một thứ đạo đức tuyệt đối bất khả vượt lên trên tất cả mọi ý niệm hữu hình hay siêu hình. Trước, y là một cục đất của toàn thể khối đất thấp cao, khô cứng. Nay, y phải trở thành một viên ngói hay một viên gạch, một chiếc trã nung bỡi vì chiếc máy đa uốn nắn y, không thể để mãi là cục đất được. Một ngày mày phải làm việc mười hay mười lăm tiếng, đổi lấy mấy nắm cơm và một dúm rau để thân thể còn có khả năng chống chịu nơi sơn lam chướng khí. Bắt buộc. Đó là một thứ triết lý sống theo kiểu ống thổi lửa. Bỡi vì một khi có làn hơi thổi vào, tức thì khói hay lửa phải bật ra. Mày chỉ là một nhánh củi khô thôi mà.
Những điều này đa làm khổ đầu óc tôi những ngày đầu không ít. Và dần dà, đa thành thói quen chịu đựng, như đêm người chồng phải nghe tiếng ngáy của vợ; như người giúp việc trở thành chiếc máy đa hiệu vậy. Vậy mà chiều nay đây, chính buổi chiều tai quái này đa đẩy cuộc đời tôi rẽ qua một ngõ khác. Sẽ được chút ít tự do, tôi tự nghĩ lao lung, có phải như thế chăng?
Một chuyện may trong đời tù tội? Trong đầu tôi bắt loé lên tia lửa của sự ngờ vực. Phòng 28. Văn phòng trại. Thoải mái. Đúng rồi. Chẳng có gì khác. Mày lao lực mười tiếng mỗi ngày. Mày ăn cơm hẩm. Mày rung đùi ngồi trên văn phòng. Xâu lại mày vẫn là một thằng tù, không thể là con người khác. Luật pháp đang cầm cây kềm đứng sau lưng. Phải, mày chỉ là một thằng tù chính hiệu một khi mày còn quanh quẩn trong cái hóc xó này. Bên ngoài trăng sáng vằng vặc. Trăng trải vàng trên khoảng sân rộng, trắng lóng lánh, ngả ngớn trên những tàu lá mã đề ướt đẫm sương, chói sáng và lấp lánh trên mái tôn của căn lều phía bên kia. Đông nằm cạnh tôi thở đều đặn. Hắn ngủ. Vi trùng mỏi mệt đa thấm đẫm trong cơ thể hắn. Vâng, mày chỉ là một thằng tù. Công việc mới của tôi là biên chép sổ sách. Mỗi ngày nhận bao nhiêu tù mới, loại nào; trả về đất liền bao nhiêu. Những tấn gạo, cá khô, muối… nhập kho và xuất bằng đơn vị ký lô gam… mỗi trại, mỗi phòng nhận…. Tôi điên đầu. Đông ngồi bên kia lật chồng báo cũ coi mấy bức tranh hí hoạ, cười một mình. Thỉnh thoảng nó cũng giúp tôi một vài công việc nhỏ sau khi đa tưới xong những hàng cây cảnh ngoài sân, nhưng không khí chung quanh vẫn căng thẳng, ngột ngạt đến khó thở. Tự dưng tôi nhớ tới Thạch gáo, đám bắp, những hầm đá, bãi biển và dòng suối trong veo… Chúng nhảy múa, hiện lờ mờ trên nhưng con số, cột dọc ngang. Đủ. Rồi. Đằng trước bước. Âm thanh đó lúc xa lúc gần xoáy tròn như cơn lốc quanh những cột số dài dặc trên cuốn sổ dày cộp. Chuông đổ leng keng. Một ngày nữa lại trôi qua. Tôi xếp sổ sách bước ra ngoài. Gió nồm thổi nhẹ, mát. Người y tá trưởng đi qua, mời tôi điếu thuốc. Cuộc đời tôi sao thay đổi quá nhanh như vầy? Thiệt tình tôi không thể nào hiểu nổi. Tất cả mọi người đều bắt nhìn với cặp mắt khác, làm như tôi không phải, không hề là thằng tù? Người y tá ném mẫu thuốc và dùng chân dí nát, nói:
“Anh đi khỏi, phòng 28 lắm chuyện. Bữa kia đánh giám thị. Nay lại phá ngục. Thôi đi nghe. May mắn” – Hắn vỗ vai tôi, bỏ đi.
(…) Ngày nối ngày liền đêm trôi qua chậm chạp và chán ngắt. Vẫn những dòng số nối nhau nặng trịch. Nếu được chút quyền, có lẽ tôi không ngần ngại xin ra trại với bọn Thạch, Lân, Mãnh, Thúc… với những tảng đá to, những đon cây súc nặng. Ngày tháng lướt thướt buồn tênh và vô vị… cho đến cái ngày định mệnh oan nghiệt xảy ra: tôi được lệnh ân xá trước hạn. Tôi không ngạc nhiên vì chuyện này, bỡi trước tôi đa có nhiều người. Nhưng kinh hoàng khi ngồi vào bàn ăn ở tư thất ông giám đốc. Một bữa ăn nhỏ để chia tay người tù đa giúp ông ta nhiều việc. Bàn ăn phủ khăn trắng, ba chiếc cốc thuỷ tinh, những con cá biển và thịt rừng với đèn đóm sáng choang. Một người tù và một người cai ngục đối mặt nhau. Mấy phút sau một thiếu phụ xuất hiện trong màu áo trứng sáo. Tôi đứng lên sững sờ. Người cai ngục đứng lên theo giới thiệu:
“Đây là vợ tôi, mới từ Sài Gòn ra chiều hôm qua, còn đây là anh Khâm được tự do kể từ 8 giờ sáng nay”.
Tôi gật chào như một cành cây xàu héo. Tôi nâng cốc chạm mời mà như thể chiếc cần vọt kéo gàu nước từ giếng sâu lên. Bữa ăn đến nghẹt thở. Những điều xảy ra trong cuộc sống mà người ta gọi là ngẫu nhiên sao lại rơi đúng vào trường hợp này? Tôi cắm mặt xuống đĩa thức ăn trắng bong như bữa ăn của tên tử tội trước giờ hành quyết. Không thể có một sự ngẫu nhiên tai ác như thế. Rõ ràng người thiếu phụ ngồi trước mặt tôi là Thảo, vợ tên cai ngục (ông ta đa giới thiệu rõ ràng như vậy). Ngọc Thảo đa hát cho tôi nghe bài Ngọc Lan trên dòng Bassac ở Cần Thơ ngày nào đây sao? Ngọc Thảo đa cho tôi ngồi trên xe lôi luồn sâu vào vườn mận chín ngày nào đây sao? Đôi mắt em, làn môi em, bàn tay thon mỏng của em và tấm thân em rung lên như con chim non ngày nào… khiến lòng tôi quặn thắt, đau nhói không cùng… Tôi đặt lát bánh mì xuống đĩa, đứng dậy và bước ra ngoài…
Bầu trời tối đen. Những ngôi sao li ti cao vòi vọi. Mặt sân như mặt biển mênh mông đen. Tôi ngã bổ nhào xuống biển sâu. Người thiếu phụ mặc áo màu trứng sáo thì dửng dưng đứng trên bờ đá.

Nguyễn Lệ Uyên
(trích Tập san Nhà Văn, số tháng 3.1975)

 

No comments: