Tuesday, December 15, 2015

DU SINH DU HỌC

 

Về hay ở?

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-12-14
000_Hkg10120669
Một buổi lễ tốt nghiệp đại học được tổ chức tại Văn Miếu, Hà Nội vào ngày 18 tháng 11 năm 2014.
AFP photo

Du học là một ước mơ lớn của tất cả những học sinh Việt Nam từ xưa đến nay. Có rất nhiều người đã đỗ đạt thành danh và quay trở về. Nhưng hình như, thời gian đã chứng minh đó là những người của “muôn năm cũ’. Còn những học sinh thời nay, khi có cơ hội nhận được nền nền giáo dục nước ngoài, thì đa số họ chọn con đường ở lại. Điều này gần đây trở thành một vấn đề được đưa ra tranh luận rất nhiều, và có nhiều phản ứng khác nhau về việc “về hay ở”.
Tư duy quản lý cũ kỹ
Trong tuần vừa qua, dư luận trong nước và cả cộng đồng mạng có rất nhiều tranh luận liên quan đến việc Tiến sĩ Doãn Minh Đăng, giảng viên trường ĐH Kỹ thuật-Công nghệ Cần Thơ, người mà truyền thông trong nước cho là đang bị gây khó dễ do nói xấu nhà trường trên facebook cá nhân.
Vấn đề đáng chú ý đó là Doãn Minh Đăng cũng chính là cựu thí sinh của cuộc thi nổi tiếng Đường lên đỉnh Olympia, tốt nghiệp một trường đại học danh giá ở Hà Lan bằng ngân sách của thành phố. Sau đó anh đồng ý về VN công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy.
Sau khi sự việc của Doãn Minh Đăng được nói đến trên truyền thông, rất nhiều những người từng là thủ quân, á quân của Đường lên đỉnh Olympia, lên tiếng về sự lựa chọn ở lại quốc gia mà họ đã tiếp nhận nền giáo dục. Quan điểm của họ nhận được nhiều sự ủng hộ của cộng đồng Việt Nam. Ví dụ như Nguyễn Thành Vinh, á quân của mùa Olympia đầu tiên, sang Úc du học sau khi giành được học bổng của chính phủ Úc. Hiện nay, Nguyễn Thành Vinh đang có cuộc sống và công việc ổn định ở thành phố Perth, miền Tây nước Úc. Trong cuộc trả lời phỏng vấn truyền thông trong nước về sự việc của Tiến sĩ Doãn Minh Đăng, anh nói rằng: “Câu chuyện của Doãn Minh Đăng là một trong những lý do để một số du học sinh như chúng tôi cảm thấy mình cần có những lựa chọn khác mà không nhất thiết phải về nước làm việc.”
Trong rất nhiều những lý do Nguyễn Thành Vinh cho là không nên quay về sau khi học xong, thì câu nhận định “về nước là lãng phí cho cả hai bên’ của cựu thí sinh này gây chú ý nhiều nhất cho dư luận.
Một người nữa, đó là Đỗ Thị Hồng Nhung, á quân mùa thứ hai của Đường lên đỉnh Olympia, hiện tại đang hoàn tất khoá học thạc sĩ ở Phần Lan, việc trở về nước cũng đang được cô suy tính.
Rất nhiều lý do được chính người trong cuộc và dư luận đưa ra. Trong đó, lý do lớn nhất mà theo cuộc khảo sát của viện John Von Newmann thuộc trường Đại học quốc gia VN đưa ra đó là môi trường làm việc ở VN không thích hợp cho việc nghiên cứu và làm việc của họ.
Câu chuyện của Doãn Minh Đăng nói riêng và những du học sinh khác nói riêng, được giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, người từng là một trong ba sinh viên xuất sắc của Việt Nam nhận học bổng du học tại vương quốc Bỉ, và sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy ở châu Âu, ông quay về nước và làm cố vấn cho trường Đại học Việt Đức, cho biết nhận định của ông.
“Ở Việt Nam hiện nay, tuy có một số trường tương đối là có một chút tiến bộ. Nhưng đại bộ phận các trường Việt Nam thì tư duy quản lý của họ cũng rất là cũ kỹ, và họ vẫn chưa tôn trọng cái tự do học thuật, tự do chọn lựa của nhà khoa học đã thành danh, tiến sĩ của các nước tiên tiến về nước làm việc. Do đó có những mâu thuẫn xảy ra. Các nhà khoa học trẻ khi làm việc thì gặp rất nhiều những khó khăn, đừng nói là những khó khăn về tài chánh, ngay cả môi trường làm việc cũng gặp những khó khăn rất nan giải.”
“Rừng nào cũng như rừng Amazon thì đâu cần người trồng cây nữa”
Bên cạnh những người ủng hộ quan điểm của người ở lại, như Nguyễn Thành Vinh, thì cũng có những người nhìn sự việc về hay ở bằng một cái nhìn khác. anh Nguyễn Quang Thạch, người đã bỏ ra gần 20 năm để xây dựng chương trình Sách hoá nông thôn nhìn sự đóng góp của từng cá nhân ở một góc độ khác. Anh cho biết:
“Theo tôi thì để xã hội Việt Nam để tốt đẹp như những quốc gia mà các bạn đang sống ấy, thì tôi nghĩ hiện tình xã hội Việt Nam là một mảnh đất màu mỡ cho mọi người cống hiến và sáng tạo. tôi nghĩ rằng đang còn sa mạc thì cần người trồng cây, còn rừng nào cũng như rừng Amazon thì đâu cần người trồng cây nữa. Nghĩa là mỗi cá thể hãy đối diện với mình thật rõ ràng để xem mình có năng lực gì để cống hiến cho xã hội cho đất nước, đừng sợ rằng mình không được sử dụng, không được xã hội thừa nhận. Cứ hãy có sản phẩm đi đã. Chừng nào sản phẩm của ông ở mức nào thì xã hội thừa nhận mức đó.
Tôi vẫn luôn luôn cổ vũ cho việc các bạn trẻ Việt Nam khi học đã thành tài, đỗ đạt, qua thời gian tập sự thì tôi luôn cỗ vũ là quay về Việt Nam để giúp cho việc phát triển nền đại học của Việt Nam.
- Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng
Chẳng hạn như khi tôi mới đặt mục tiêu vận động cấp trường làm tủ sách phụ huynh thì cấp trường thừa nhận và áp dụng. Đến khi tốt rồi thì phòng giáo dục áp dụng và thừa nhận. Đến khi cấp sở áp dụng và có văn bản nhân rộng ra khắp tỉnh. Cái nỗ lực của tôi và người khác đã được thừa nhận và áp dụng. Bây giờ cấp Bộ đã mời chúng tôi, đối thoại với chúng tôi để tạo ra những chiến lược chủ trương hoá bằng văn bản.”
Có lẽ dư luận có sự quan tâm đến câu chuyện của Doãn Minh Đăng nhiều hơn vì cũng mới vào đầu tháng 11 vừa qua, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Hoà, TP Hồ Chí Minh đã đưa ra câu hỏi về việc vì sao đa số sinh viên VN đi du học và chọn con đường ở lại. Ông dẫn chứng chính trường hợp của 13 học sinh nhận học bổng sang Úc du học của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” và 12 người trong số họ không quay về nước sau khi kết thúc chương trình học.
Như đã trình bày ở trên, tuy rằng Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng có đưa ra những nhận định của ông về thực trạng của môi trường giáo dục và điều kiện phát triển chuyên môn ở Việt Nam, nhưng ông vẫn có những thông cảm cho quyết định của người không quay về.
“Tôi vẫn luôn luôn cổ vũ cho việc các bạn trẻ Việt Nam khi học đã thành tài, đỗ đạt, qua thời gian tập sự thì tôi luôn cỗ vũ là quay về Việt Nam để giúp cho việc phát triển nền đại học của Việt Nam. Tôi là người luôn cổ vũ cho việc này. Tuy là tôi thông cảm cho những sự lựa chọn khác. Tôi nghĩ là có nhiều người có những chân đứng, có vị trí mà nó phù hợp để họ phát triển, cống hiến cái tài của họ mà họ ở lại. Và cũng có thể vì những lý do gia đình. Thú thật là tôi cũng thông cảm. Tôi thông cảm vì cái điều kiện ở Việt Nam có nhiều vấn đề đặt ra cho những người giáo viên trẻ này không có cái dũng khí, kiên nhẫn để mà thắng được những thách thức thì sẽ có rất nhiều khó khăn.” 

Qua nhiều nhận định khác nhau của nhiều người thì có lẽ câu hỏi của ông đại biểu quốc hội Nguyễn Ngọc Hoà vẫn còn là một câu hỏi lớn chưa có lời đáp.
 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/stay-or-coming-back-after-graduated-in-oversea-cl-12142015143555.html



 

Vì sao du học sinh không quay về phục vụ đất nước?

Chân Như, phóng viên RFA
2014-08-14
anh1-416x234-305.jpg
Du học sinh Việt Nam tại Oklahoma tổ chức tiệc Tết Giáp Ngọ 2014.
Courtesy sinhvienusa.org


Gần đây, ngưòi dân trong nước, đặc biệt là cư dân cộng đồng mạng lại dậy sóng về chuyện 13 nhà vô địch của chương trình “Olympia” được Úc cấp học bổng từ cuộc thi. Sau khi tốt nghiệp tại nước ngoài thì chỉ có 1 người duy nhất quay về Việt Nam làm việc. Tất cả những người khác đã sử dụng chất xám của họ ở tại ngay nước họ được đào tạo. Vì sao lại có quá ít những người đi du học và thành đạt lựa chọn ở lại nước ngoài mà không quay về lại quê hương để đóng góp cho đất nước? Đó cũng là chủ đề cho diễn đàn bạn trẻ kỳ này cùng với sự tham gia của các bạn Khanh Nguyễn, Tuyết Minh và Thanh Tuấn, các bạn là những du học sinh, hiện đang học tại Hoa Kỳ.

Muốn được thể hiện

Chân Như: Các bạn thấy việc ở lại nước ngoài hay quay về nước cống hiến cho đất nước, quyết định nào là sáng suốt và vì sao?
Khanh Nguyễn: Theo em, đối với những người nghĩ nước Việt Nam, văn hóa tốt, con người thân thiện hoặc có ý định là muốn quay về để giúp nước thì người ta nghĩ quyết định đó là sáng suốt. Còn một số người nghĩ rằng họ sẽ lo cho gia đình họ có cuộc sống tốt bên này, có điều kiện để làm việc, để học tập và sinh sống thì người ta sẽ lựa chọn ở lại để có cuộc sống tốt hơn.
Thanh Tuấn: Em nghĩ đa phần đi du học tuổi trẻ cỡ từ 16 tới 20 hoặc 22. Khi qua rồi thì họ tiếp xúc với nền văn hóa mới, cuộc sống mới và có nhiều sự lựa chọn mới sau khi tốt nghiệp. Em nghĩ đối đế lắm một số người mới quay về còn lại thì họ đã tìm thấy được con đường của mình, hoặc thấy được sự khác biệt giữa cuộc sống Việt Nam, cuộc sống bên này (Hoa Kỳ).
Một số bạn nhà có cơ sở ở Việt Nam muốn quay về làm cho nhà thì cũng tốt, nhưng đa số mọi người muốn ở lại chứ không muốn đi về tại vì cuộc sống bên này tốt và thoải mái hơn.
-Thanh Tuấn
Chẳng hạn như vấn đề xin việc làm hay vào công ty của Việt Nam thì phải là con ông cháu cha, phải đút lót. Bên này, vấn đề đó dựa vào thực lực của mình nhiều hơn. Và bên này, tốt nghiệp ra đi làm với đồng lương căn bản mới bắt đầu thì mọi người vẫn sống đủ chứ không phải quá chật vật như bên Việt Nam. Còn với một số bạn nhà có cơ sở ở Việt Nam muốn quay về làm cho nhà thì cũng tốt, nhưng đa số mọi người muốn ở lại chứ không muốn đi về tại vì cuộc sống bên này tốt và thoải mái hơn. Hơn nữa là tự do hơn và được thể hiện hơn.
Tuyết Minh: Ý kiến của em cũng giống như của anh, thường người ta sẽ không thích về Việt Nam một khi đã bước chân qua Mỹ. Còn trường hợp những bạn nhà có điều kiện bên Việt Nam, đúng là các bạn đi du học để sau nay giúp đỡ cho gia đình thì các bạn sẽ về. Ví dụ em chỉ là du học bình thường, nhà cũng không có công ty hay gì bên Việt Nam nên em cũng thoải mái trong việc có về hay không quay về. Nhưng lý do khiến đa số muốn ở lại Mỹ là về Việt Nam chính quyền không biết trọng dụng nhân tài. Giống như anh có tiền nhiều anh sẽ được chức cao hoặc công việc tốt; Còn nếu anh không có tiền cho dù có tài cũng không có được.


Chân Như: Chân Như nhận thấy rằng chính sách của Việt Nam cũng là một rào cản khiến các du học sinh quay lưng với đất nước vì có rất nhiều trường hợp tài năng của họ không thực sự được trọng dụng. Còn theo các bạn thì nguyên nhân chính dẫn đến việc các du học sinh quyết định không quay về nước làm việc là gì?


Khanh Nguyễn: Theo em có hai lý do chính. Thứ nhất điều kiện làm việc ở Việt Nam đối với du học sinh nước ngoài chưa có. Nền giáo dục của Mỹ và Việt Nam là hai nền giáo dục hơi khác nhau. Gần đây, giáo sư Ngô Bảo Châu có nói là giáo dục đại học không được tốt nên cần đổi mới vì không có tính thực tiễn và chỉ áp dụng lý thuyết là nhiều. Do vậy khi ra trường khó có cơ hội có việc làm. Khi du học sinh về làm việc sẽ có một sự mâu thuẫn giữa sinh viên Việt Nam và sinh viên du học và chắc chắn là hai bên sẽ không làm việc được với nhau. Lý do thứ hai nhà nước vẫn chưa tạo được điều kiện tốt cho những người đi du học làm việc chẳng hạn như về vấn đề lương bổng, về tư chế làm việc. Tóm lại, do không có một sự đảm bảo cho cuộc sống gia đình chính bản thân của những du học sinh, họ không mặn mà với chuyện quay về Việt Nam làm việc.
000_Hkg2799208-250.jpg

Sinh viên, học sinh VN tìm hiểu về du học tại một hội chợ du học tổ chức ở Hà Nội năm 2009. AFP photo/Hoang Dinh Nam.
Tuyết Minh: Nói chung là do những ngành nghề ở Việt Nam. Nhiều khi một bạn rất đam mê một ngành nhưng ngành này lại không phát triển ở Việt Nam thì bạn đó buộc phải ở lại bên đây để theo đam mê của mình. Cái đó cũng là một lý do chính đáng để ở lại chứ không phải vì quay lưng với nước nhà.
Thanh Tuấn: Nếu mà trên đường suy nghĩ để vòng về, theo em, khó mà để làm ăn chính trực tại Việt Nam và có thể lo đầy đủ cuộc sống của mình. Thứ hai nếu đã vào với những công ty của nhà nước mà làm thì cũng hơi khó. Nói thẳng ra rằng vấn đề con ông cháu cha là thứ nhất; Thứ hai người ta thường nói là “ăn từ trên ăn xuống dưới”: đã vô nhà nước làm là phải theo guồng máy; Ai cũng phải làm theo, nên tất cả vào sẽ bị biến chất. Nên hướng của em là sẽ tự kinh doanh. Vấn đề tự kinh doanh ở Việt Nam cũng hơi khó vì làm ra thì đủ các giấy tờ; Phải chung chi cho người này, chính quyền kia mỗi tháng hay đầu tháng; Cuối năm lương bổng, lễ lộc. Còn nếu ở bên này có xíu vốn và đi làm vài năm và muốn tự mở kinh doanh thì cũng dễ hơn, vấn đề giấy tờ cũng rõ ràng; Chỉ cần đạt đủ điều kiện tiêu chuẩn của chính phủ Mỹ yêu cầu. Theo em vấn đề sáng suốt là vẫn nên ở lại đây rồi lo cho gia đình sau. Đối với em, thành phần đi du học thì đa số gia đình đều khá giả nên gia đình cũng không yêu cầu hay đòi hỏi con em mình phải lo lại nhiều. Chủ yếu là làm để tương lai con em mình được sống thoải mái và có một cuộc sống tốt hơn sau này, nên em không nghĩ gia đình mong con mình trở về hay lo lắng. Mong thì mong trở về, nhưng không nghĩ phải lo lắng cho gia đình hay phải trả lại. Em không nghĩ đó là áp lực để mọi người trở về.

Có nên trách du học sinh?

Chân Như: Nhiều người cho rằng cũng không nên trách các du học sinh, bởi cá nhân ai khi có cơ hội tốt cho tương lai của mình thì cũng không muốn bỏ lỡ; Nhất là cơ hội đó lại là ở những nước tiên tiến, văn minh. Tuy nhiên nhiều người khác lại cho rằng điều kiện và môi trường sống ở nước ngoài đã làm thay đổi con người. Các bạn nhận định như thế nào về những ý kiến này?
Khanh Nguyễn: Theo em, ý kiến như thế cũng có thể đúng cũng có thể sai tùy vào mỗi người thôi. Đối với em nó đúng một phần bởi vì văn hóa Việt Nam với văn hóa Mỹ nó khá là khác nhau. Mình tiếp thu những nền văn hóa khác nhau thì mình sẽ có những nhận định khác nhau về cuộc sống cũng như những dự định của mình trong tương lai. Với em, cũng có một phần tác động nhưng em chỉ cảm nhận những điều đúng sự thật thì em tiếp thu. Đa số du học sinh sẽ cho rằng điều kiện và môi trường sống ở nước ngoài tác động đến cuộc sống của con người bởi vì đa số sẽ quyết định ở lại bởi vì họ thấy cuộc sống ở Mỹ tự do, văn minh. Mặt khác đa số bộ phận người Việt Nam sống bên này họ cũng có tư tưởng giống người Mỹ. Họ nhận định cuộc sống bên này ổn định, có tiềm năng hơn so với ở Việt Nam cho nên người ta coi đó là cơ hội mà không bỏ lỡ được.
Đa số bộ phận người VN sống bên này họ cũng có tư tưởng giống người Mỹ. Họ nhận định cuộc sống bên này ổn định, có tiềm năng hơn so với ở VN cho nên người ta coi đó là cơ hội mà không bỏ lỡ được.
-Khanh Nguyễn
Tuyết Minh: Em cũng nghĩ giống như anh Khanh. Nếu so sánh giữa môi trường Việt Nam với Mỹ thì Mỹ tốt hơn rất nhiều. Ba mẹ em cũng muốn em ở lại Mỹ vì sẽ có tương lai tốt hơn. Thứ nhất là văn minh, an toàn. Em cũng có người bạn du học ở Đức. Học xong chị quyết định quay về vì đồng lương ở Đức nếu đổi ra tiền Việt Nam nhiều thật, nhưng nếu với mức sống bên đó thì cũng thuộc dạng bình thường. Nếu lấy bằng rồi quay về Việt Nam, mức lương ví dụ 1 ngàn rưỡi một tháng thì với mức lương đó sẽ sống dư giả còn hơn bên Đức. Em thấy quyết định của chị cũng được nhưng Việt Nam dạo này không có an toàn nên nếu là em thì em sẽ không muốn về.
Thanh Tuấn: Quan điểm của em sống là không chờ đợi. Có cơ hội là em sẽ làm và phân định được cái nào đúng cái nào sai và cái nào nên làm cái nào không làm. Tuổi trẻ không có bao nhiêu hết. Lúc đã qua thời, qua tuổi thì khó có thể lấy lại nhiệt huyết, khó lấy lại những năng lượng để làm việc như lúc trẻ. Nếu ở Mỹ mà có cơ hội là em sẽ bắt tay làm liền. Nói chung là chụp giật, đánh đổi để làm được cái em muốn. Còn vấn đề điều kiện và môi trường sống ở nước ngoài, tất nhiên, nó tốt hơn hẳn Việt Nam rất nhiều: từ khí hậu thời tiết, giao thông, an sinh xã hội... Chẳng hạn như bảo hiểm du học sinh mua, nếu bị bệnh hoạn hay có vấn đề gì thì vẫn chi trả đầy đủ. Nói chung, đồng tiền mình bỏ ra nó đáng chứ không như Việt Nam bỏ ra mua để cho có; Hay là mua để đối phó mà không xài được hay là mua rồi vô bệnh viện đối xử mình khác. Nên em nghĩ điều kiện làm thay đổi thì cũng đúng. Ở Việt Nam, du học sinh thường sống trong vòng tay cha mẹ không tự lập, không biết bươn chải. Khi qua đây, một thân một mình, đa số đều đi làm thêm nên biết quý đồng tiền mình làm ra và biết quý cuộc sống của mình hơn. Em thấy là như vậy nên em nghĩ cái thay đổi là cái thay đổi tốt, điều kiện và môi trường tốt đã dừng chân du học sinh. Ai cũng vậy thôi người ta thấy cái nào tốt người ta sẽ ở lại làm. Ai cũng có sự lựa chọn cho riêng mình hết. Và cái đúng cái sai cũng tùy vào suy nghĩ của mỗi người và qua sự lựa chọn đó của mình có đúng hay không.
Chân Như: Nếu bạn là thủ tướng Việt Nam, bạn làm gì để các bạn du học sinh luôn sẵn sàng đặt Việt Nam là lựa chọn hàng đầu khi quyết định cho tương lai của mình và người Việt không còn mang ý tưởng thoát khỏi Việt Nam?
Khanh Nguyễn: Nếu em làm thủ tướng có 3 điều em sẽ làm đầu tiên. Thứ nhất có chính sách nào đó để đãi ngộ những du học sinh, ví dụ lương bổng, những điều kiện làm việc cho du học sinh. Thứ hai là thay đổi cuộc sống của người dân Việt Nam, chẳng hạn như cuộc sống có văn minh, thay đổi tình trạng trộm cắp hay những văn hóa ứng xử của người Việt Nam vẫn đang bị lên án rất nhiều. Nên thay đổi để cho du học sinh thấy được rằng con người Việt Nam cũng như con người khác trên thế giới đều như nhau và cũng có lối sống văn minh. Thứ ba nữa là Việt Nam nên có chương trình giáo dục ở Việt Nam và nước ngoài để người du học sinh và sinh viên Việt Nam có thể làm việc chung trong môi trường để xây dựng đất nước Việt Nam tốt hơn.


Tuyết Minh: Em nghĩ về chính sách đãi ngộ với việc tiền lương thì dĩ nhiên là du học sinh sẽ phải được tốt hơn. Mặt khác, em nghĩ đó lại là một thiệt thòi cho mấy bạn sinh viên Việt Nam. Bây giờ nếu mà áp dụng chính sách đó cho du học sinh thì nếu có 10 hồ sơ nộp vô một công ty thì em nghĩ chắc chắn những bạn du học sinh sẽ được xếp lên trước. Em nghĩ điều đó là thiệt thòi cho các bạn sinh viên Việt Nam. Còn nếu là thủ tướng thì em nghĩ cần phải thay đổi chính sách này nọ rất nhiều. Tại vì một khi du học sinh qua Mỹ rồi thì họ sẽ so sánh tại sao Việt Nam lại cổ hủ, không công bằng. Em nghĩ việc đó (giải pháp) rất là khó nên em cũng không có ý kiến nhiều trong câu này.


Thanh Tuấn: Theo em nghĩ để giữ chân du học sinh quay về nước hay là không còn ý định thoát khỏi Việt Nam thì rất khó làm và khó thực hiện tại vì cơ cấu của Việt Nam đã vậy rồi. Để mà thay đổi được giống như Khanh nói thì chính sách đãi ngộ là thứ nhất. Tuy nhiên về rồi, Việt Nam đãi ngộ, nhưng đãi ngộ theo cách nào, trọng dụng nhân tài theo cách nào? Hay lại là vẫn vấn đề con ông cháu cha? Nếu để đãi ngộ thì phải kết thúc vấn đề con ông cháu cha trong nước trước. Thứ hai nên tạo nhiều điều kiện hơn để cho du học sinh đi học ví dụ như mở thêm quỹ, thêm tiền đầu tư cho nhiều du học sinh đi học. Nếu học bằng tiền của nhà nước và có ký hợp đồng với nhà nước và có một sự ràng buộc nào đó thì học xong là chắc chắn sẽ phải quay về. Thứ ba, vấn đề môi trường đời sống và mức lương nói chung, chứ không đãi ngộ không dành cho du học sinh hay những người học ở Việt Nam. Ai có tài thì làm được nhiều tiền cao, chứ không phải ưu đãi quá cho du học sinh là tại vì tự bỏ tiền ra đi học. Nhiều người đi du học mà về làm vẫn không bằng người học trong nước. Cái đó có chứ không phải không. Do đó không hẳn phải ưu tiên cho du học sinh. Phải trả tiền ưu đãi cho đúng người, đúng việc và đúng năng lực. Em nghĩ là vậy.


Chân Như: Xin cám ơn 3 bạn Khanh Nguyễn, Tuyết Minh và Thanh Tuấn đã dành thời gian để đến với chương trình hôm nay.
Chân Như cũng hy vọng các bạn đang nghe/xem chương trình cũng sẽ tham gia vào hội luận để hầu nêu lên chính kiến của mình, đó là quyền bày tỏ mà mỗi con người trên trái đất này đều phải có.
Các bạn có thể gởi email về cho chân như qua hoangc@rfa.org hay theo dõi chân như qua facebook tại facebook.com/Channhu.rfa mến chào và hẹn gặp lại quý vị và các bạn vào chương trình kỳ sau.
 http://www.rfa.org/vietnamese/programs/YouthForum/y-studts-refu-retrn-home-after-stu-abr-cn-08142014072409.html




Những người biến giấc mơ du học thành sự thật

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2014-03-06
defense-305.jpg
Bạn Nguyễn Hữu Phước Nguyên chụp hình cùng bố mẹ và hội đồng phản biện hôm bảo vệ luận án tiến sĩ.
Hình do Phước Nguyên cung cấp


Tiếp tục bài kỳ trước về VEF, Quĩ Giáo Dục Việt Nam, một cơ quan độc lập của chính phủ liên bang Hoa Kỳ, khởi sự hoạt động tại Việt Nam từ năm 2003, đã cấp học bổng cho 466 sinh viên Việt Nam sang Mỹ học chương trình hậu đại học và nghiên cứu trong 11 năm qua.

Từ học trò nghèo đến tiến sĩ khoa học

Hôm nay, mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi giới thiệu những bạn trẻ đã tốt nghiệp và về nước hoặc đang còn là nghiên cứu sinh ở Mỹ qua tài trợ của VEF. Bạn thứ nhất, Nguyễn Hữu Phước Nguyên:
“Em sinh ra ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, gần thượng nguồn con sông Lam. Nghệ An là tỉnh nghèo mà Thanh Chương là huyện miền núi thì là nghèo của nghèo đấy. Trước đấy Thanh Chương không có điện, hồi ấy bọn em phải học đèn dầu. Mãi sau này, đến tầm Lớp Bốn Lớp Năm gì đấy bắt đầu mới có điện.”
Lên 12 tuổi, theo cha mẹ, đều là giáo viên, về thành phố Vinh, ước mơ cháy bỏng của Nguyễn Hữu Phước Nguyên là học thật giỏi để đi du học. Tốt nghiệp trung học, Nguyễn Hữu Phước Nguyên ra Hà Nội học năm đầu tại Đại Học Bách Khoa Hà Nội:
“Rất may là cuối năm thứ nhất của đại học thì em là một trong 10 người của Việt Nam nhận được học bổng của Tập Đoàn Dầu Khí Petronas để đi học ở Malaysia. Từ năm 2002 đến 2007 là em học theo học ngành cơ khí ở đại học Malaysia . Trường ấy là Đại Học Kỹ Thuật Petronas chuyên về ngành dầu khí.”
Từ năm thứ ba ở Đại Học Kỹ Thuật Petronas Malaysia, Nguyễn Hữu Phước Nguyên đã ghi danh trên mạng theo chương trình học bổng của VEF Quĩ Giáo Dục Việt Nam:
“Vì em đã có kế hoạch trước và năm thứ ba đại học Malaysia thì em đã nộp đơn cho học bổng VEF rồi và theo đuổi quá trình ấy là 2 năm. Trong thời gian đấy em có về Việt Nam hai lần để dự quá trình thi tuyển của VEF, thì cũng là nỗ lực của bản thân thôi.”
Năm 2007, kết thúc 5 năm học ở Malaysia, Nguyễn Hữu Phước Nguyên đi tiếp sang Hoa Kỳ:
“Năm 2007 thì em qua học ở trường đại học University Of Michigan, em học về cơ khí. Trong hai năm em vào ngành thạc sĩ về Cơ Điện Tử. Đến khi học tiến sĩ thì em quyết định chuyển ngành và em học ngành Khoa Học Nano. Năm 2013 em tốt nghiệp tiến sĩ đại học Michigan, sau đấy em về Việt Nam luôn.”
Tháng Giêng 2014, Nguyễn Hữu Phước Nguyên trở về Việt Nam, bỏ lại sau lưng hai đề nghị công việc với mức lương hứa hẹn:
Thu nhập thì cao nhưng mà cống hiến cho đất nước thì không có, và đấy cũng không phải mục tiêu lúc em ra đi.
-Nguyễn Hữu Phước Nguyên
“Trước lúc ra đi thì nguyện vọng của em là trở về và nếu mà trở về thì về càng sớm càng tốt. Thực ra điều kiện làm việc ở Việt Nam thì không bằng điều kiện làm việc ở Mỹ đâu. Thứ nhất là về mặt điều kiện làm việc, thứ hai nữa hai nữa về mặt thu nhập thì rõ ràng ở bên kia em được đề nghị đến 6 chữ số, rất là lớn đối với người Việt mình. Thu nhập thì cao nhưng mà cống hiến cho đất nước thì không có, và đấy cũng không phải mục tiêu lúc em ra đi.”
Từ 2008, khi đã sang Mỹ học một năm, Nguyễn Hữu Phước Nguyên thành lập Hội Du Học Sinh Nghệ Tĩnh để biến những giấc mơ du học của người cùng quê thành sự thật như giấc mơ đi xa của chính anh:
“Quê hương Nghệ Tĩnh rất nghèo nhưng có truyền thống hiếu học, học sinh sinh viên ở đấy học rất giỏi nhưng mặt khác thông tin về du học rất thiếu. Đó là cái thứ nhất.
Cái thứ hai nữa, niềm tin là mình có thể đi du học rất là xa vời, các bạn không có niềm tin là mình sẽ thực hiện được. Thiếu thông tin và thiếu niềm tin thì rất khó mà phát triển. Em là người xuất phát từ vùng quê nghèo Thanh Chương, xuất phát đỉểm thấp như thế mà con đường du học em đã thực hiện được, nhìn lại thì em thấy không có gì là ghê gớm, căn bản là phải có niềm tin.
Trong 5 năm qua thì hội của em đã giúp đỡ được hàng ngàn bạn trẻ ở Nghệ An, cung cấp các nguồn thông tin về học bổng và du học. Quan trọng hơn là hàng năm bọn em tổ chức hội thảo gọi là Hội Thảo Du Học Truyền Lửa.”
Năm 2012, Hội Thảo Du Học Truyền Lửa, do Hội Du Học Sinh Nghệ Tĩnh tổ chức, lôi cuốn được 1.000 người trẻ:
“Đó là cả một dấu ấn rất lớn đối với Nghệ Tĩnh , gọi là truyền lửa mà, đó thực sự là cơ hội cung cấp thông tin, truyền niềm tin và truyền cảm hứng du học để cơ bản là phải thực hiện được ước mơ du học của mình.
Mặt khác chúng em cũng kêu gọi các nhà tài trợ từ các công ty và các nhà hảo tâm để trao các suất học bổng để các bạn vượt khó và thực hiện ước mơ du học của mình. Bên cạnh đó, bọn em cũng hỗ trợ tư vấn và thông tin, tức là các anh chị du học sinh đi trước thì hỗ trợ cho các em đi sau. Từ năm 2008 cho đến gần đây nhất là 2013 bọn em đã tổ chức được năm kỳ Hội Thảo Du Học Truyền Lửa. Trước hết là phải có một giấc mơ, một khát khao du học rất lớn rất mãnh liệt. Thứ hai, có giấc mơ rồi thì cần có một kế hoạch hợp lý. Thứ ba, cần có sự kiên nhẫn. Mặt khác, không hẳn giỏi là đi du học được đâu, quan trọng hơn giỏi là mình phải năng động tìm kiếm thông tin, năng động liên lạc với các giáo sư và những người đi trước. Phải chủ động về mặt thông tin hơn những người khác thì mình mới có thể đi được.”
Mới đây nhất, tuần trước, Trường Kỹ Thuật của Đại Học Michigan, University Of Michigan, loan báo trao giải Distinguished Leadership Award, Nhà Lãnh Đạo Nỗi Bật, cho Nguyễn Hữu Phước Nguyên:
“Em cũng có tham gia vào hoạt động xã hội của trường, em là một trong hai co-organiser của Hội Nghiên Cứu Sinh, mục đích là tổ chức những cuộc hội thảo và các khóa huấn luyện để thúc đẩy những nghiên cứu. Cả thành viên khoảng vài trăm người thì em là một trong hai người trụ cột ở đấy. Họ cũng xem xét về hoạt động của em ở Việt Nam, về tổ chức Du Học Sinh Nghệ Tĩnh thì bạn em có biết và nêu tên em. Ngày 16 tháng Ba này họ có buổi lễ trao giải nhưng em đang ở Việt Nam nên không dự được.”
Đó là Nguyễn Hữu Phước Nguyên, tiến sĩ nghành Khoa Học Nano từ University Of Michigan thông qua chương trình học của VEF.

Mong Việt Nam phát triển

IMG_5420-250.jpg
Bạn Khổng Hiệp trong lần đi dự hội thảo VEF Annual Conference ở trường University of Missouri (Columbia, Missouri).
Bạn thứ hai, Khổng Hiệp, đến với VEF khi đang là sinh viên năm 3 ngành Công Nghệ Sinh Học, Đại Học Khoa Học Tự Nhiên ở Sài Gòn. Sang Mỹ năm 2010, theo ngành Miễn Dịch Học Immunology, hiện tại Khổng Hiệp ở năm thứ tư và đang là nghiên cứu sinh VEF tại Trung Tâm Nghiên Cứu Ung Thư MD Anderson thuộc University Of Texas at Houston:
“Trên giấy tờ thì quá trình đào tạo PhD tiến sĩ là 5 năm, em theo học năm 2010 thì dự kiến năm 2015 em ra trường. Em muốn ở lại Mỹ học thêm hậu tiến sĩ, còn gọi là Postdoc. (Postdoctoral Training), bởi vì em thấy ra trường mà về Việt Nam ngay thì mình có kiến thức nhưng lại chưa đủ kinh nghiệm. Đặc biệt đối với nhóm ngành Y Sinh thì ngoài chuyện có chuyên môn mình cần phải hiểu hệ thống làm việc như thế nào.”
Vì sao đề cập đến chuyện liên quan tới thời gian học hậu tiến sĩ, còn gọi là Postdoctoral Training, Khổng Hiệp giải thích:
“Thực ra quĩ học bổng VEF ngày xưa, các khóa trước 2010, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ thì người ta cho thêm 3 năm Post Academic Training để làm hậu tiến hoặc xin việc làm ở một công ty nào đó để lấy kinh nghiệm. Đến 2010 trở đi, tức từ năm của em, VEF giới hạn lại còn 18 tháng. Mười tám tháng thì khá là ngắn, sợ không đủ cho một hậu tiến sĩ. Có thể là có rất nhiều bạn sau này được học bổng qua đây sẽ cảm thấy hơi tiếc. Đó là hạn chế duy nhất mà em thấy ở VEF.”
Không chỉ ngại thiếu kinh nghiệm, điều làm Khổng Hiệp ngại và cảm thấy chưa muốn về ngay là vì những bất cập trong môi trường làm việc bên nhà:
“Cái em thấy thiếu ở Việt Nam là thiếu một hệ thống làm việc hiệu quả. Nhìn những người Việt thành danh ở nước ngoài thì em thấy giống như người ta chỉ cần “plug in” tức là “cắm” cái tài năng của người ta vô cái hệ thống đã có sẵn. Em muốn làm sao về Việt Nam mà em build up được cái hệ thống này. Tất nhiên một người không làm được nhưng có thể tìm những người chung tư tưởng với mình. Trước mắt là tìm hiểu coi những cái nào có thể cải thiện được.
Điều kiện nghiên cứu ở đây thì đúng là hơn hẳn bên nhà về mọi mặt. Thứ hai tiền bạc rất minh bạch, cạnh tranh công bằng.
-Khổng Hiệp
Điều kiện nghiên cứu ở đây thì đúng là hơn hẳn bên nhà về mọi mặt. Thứ hai tiền bạc rất minh bạch, cạnh tranh công bằng, ngân sách dành cho nghiên cứu của Mỹ dù nói là giảm đi nhiều nhưng so với Châu Âu hay Úc thì vẫn còn cao hơn nhiều. Em thấy rất may mắn được học tập ở đây, có điều kiện làm việc đầy đủ. Không những học về kiến thức mà còn về cách làm việc. So với những bạn đồng trang lứa, cũng học tiến sĩ như em nhưng ở Việt Nam, em thấy các bạn có nhiều trở ngại hơn. Ngoài điều kiện cơ sở nghiên cứu, môi trường khoa học gần như là không có. Làm nghiên cứu thì mình phải có sản phẩm đong đo đếm được, ứng dụng được. Sản phẩm đó chính là tờ báo khoa học mà mình đăng lên những tạp chí quốc tế.”
Có lẽ nỗi suy tư sau cùng này của Khổng Hiệp, một Tạp Chí Khoa Học chuyên nghiệp và đúng nghĩa, sẽ tan biến nếu bạn biết một đàn chị  VEF là Trần Ngọc Ánh Mai, đã về nước và đang thực hiện dự án có tên Vietnam Journal Of Science:
Làm việc hai năm sau khi tốt nghiệp Đại Học Nông Lâm ở Việt Nam, năm 2007 đậu học bổng VEF, sang Hoa Kỳ vào University Of Texas at Houston, tháng Chín năm 2013 Trần Ngọc Ánh Mai trở về nước với văn bằng tiến sĩ Sinh Hoc Ung Thư, hiện là giảng viên Khoa Công Nghệ Sinh Học, Đại Học Quốc Tế thành phố Hồ Chí Minh:
“Đây là một trường đại học ở Việt Nam mà giảng dạy bằng tiếng Anh. Thật ra những trường đại học quốc tế ở Việt Nam thì rất nhiều, chủ yếu mở ra cho ngành business, nhưng mà đặc biệt trường này có những ngành về khoa học. Thực sự em rất thích môi trường làm việc của trường em đang dạy bởi vì đồng nghiệp của em toàn bộ là tiến sĩ từ các nước không chỉ Mỹ mà ở Đức, ở Thái Lan và nhiều nước Châu Âu khác. Em cảm thấy rất tương thích với nguyện vọng và trình độ của mình khi làm việc với họ, cộng thêm cái là em có thể giảng dạy bằng tiếng Anh thì em thích như vậy hơn.”
Trở lại cùng dự án VJS Vietnam Journal Of Science mà cô cùng một số bạn đang khởi đầu lâu nay, tiến sĩ Sinh Hoc Ung Thư Trần Ngọc Ánh Mai trình bày tiếp:
“Dự án này có mục tiêu là làm cầu nối cho các nhà khoa học trong nước và các nhà khoa học thế giới. Tụi em đã và đang đăng ký với một tạp chí quốc tế để các nhà khoa học trong nước có thể công bố bài và giới thiệu những công trình nghiên cứu của mình, và cũng để các nhà khoa học trên thế giới trao đổi qua lại về khoa học.”
Đến với VJS Vietnam Journal Of Science đều là các tình nguyện viên, dự án còn trong giai đoạn cũng cố, gây quĩ để phát triển:
“Tụi em cũng đã có một số bài viết khá ổn định. Dự định cuối tháng Ba này tụi em sẽ xuất bản số đầu tiên, hy vọng sẽ tiếp tục xuất bản mỗi hai tháng một lần. Hiện nay thì đang trong quá trình hình thành website, cuối tuần này hay cuối tuần sau thì website cũng đã xong rồi.”
Nếu thành công, Vietnam Journal Of Science sẽ là Tạp Chí Khoa Học đầu tiên của Việt Nam mà chủ xướng phần lớn là những sinh viên tài năng được đào tạo từ VEF Quĩ Giáo Dục Việt Nam.


Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi đến đây tạm ngưng. Thanh Trúc kính chào và xin hẹn thứ Năm tuần tới.
Liên lạc góp ý với Thanh Trúc: nguyent@rfa.org
 http://www.rfa.org/vietnamese/programs/OverseasVietnamese/vef-fellows-n-their-dreams-4-vn-tt-03062014123851.html




No comments: