Monday, November 2, 2015

LÊ QUANG VINH * NGÀY GIỖ MẸ

NGÀY GIỖ CỦA BÀ MẸ KHỔ ĐAU MỘT THỜI CỦA  NHÀ BÁO LÊ QUANG VINH  
 
 

Bạn đọc thân mến! Hôm nay, Ngô Minh nhận được bức thư vô cùng xúc động của người bạn cùng quê, cùng cơ quan Báo Thương Mại cũ - Nhà báo Lê Quang Vinh, nhân ngày giỗ của Mẹ mình. Anh Lê Quang Vinh kể về nỗi đa đoan, khốn khổ của Mẹ thời CCRĐ; làm thơ tưởng nhớ sau bao năm xa Mẹ, với nỗi buồn nhớ của một đứa con luôn đặt chữ Hiếu lên đầu... Dù thư riêng, nhưng Ngô Minh xin đưa lên "QUÀ TẶNG XỨ MƯA" để bạn đọc bốn  phương cùng chia sẻ.

  Thư gửi Thi sĩ Ngô Minh!

                                                            Hà Nội, ngày 30/10/2015
      Hôm nay, 18/9/Ất Mùi (30/10/2015) – Ngày Kỵ Mự (giỗ mẹ) Lê Quang Vinh – Cụ Ngô Thị Kiêm (29/9/1906 - 28/10/1988). Mự tôi mất nay đã 27 năm, thế nhưng thường nhật, tôi vẫn luôn nghĩ như mới hôm qua, hôm kia thôi. Thương nhớ Mự mà không chút nguôi ngoai được Ngô Minh ạ.

           Thương Mự tôi, góa bụa nuôi đàn con bảy đứa một mình. Con trai con gái mới chớm lớn, đã xua đi kháng chiến (chị cả Lê Thị Toán 21 tuổi - hoạt động tại địa phương vùng đich hậu, chị gái thứ 2 Lê Thị Hạnh Phúc 18 tuổi - Bí thư phụ nữ huyện Quảng Trạch rồi được điều ra Việt Bắc công tác, anh Lê Phương - 15 tuổi tòng quân vào Trung đoàn 18 Quảng Bình, 16 tuổi vào Đảng “Khi trên đầu 16 tuổi xuân/ Mang danh hiệu quang vinh đồng chí!” – xem “BÍ ẨN BỨC HÌNH MỘT NGƯỜI LÍNH ĐIỆN BIÊN THỜI CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT”). Hòa bình lập lại trên miền Bắc năm 1954, sau chuỗi năm tháng đợi chờ các con mòn mỏi, thì đại họa Cải cách ruộng đất (CCRĐ) ập đến, giáng lên đầu Mự tôi cái án oan khốc “địa chủ”!. Trong hồi ký về Mự (chưa in), tôi đã có những dòng đẫm nước mắt:

   …“Trong cơn lửa đạn của đất nước, thì chồng Bà lâm bạo bệnh và qua đời ngày 26/11/1948 (tức ngày 26/10/năm Mậu Tý). Hai cô con gái đầu đã đi lấy chồng và thoát ly, con trai lớn tòng quân, một mình Bà với bốn con thơ dại (LQV mới 18 tháng). Kinh tế gia đình bị sa sút. Lại những năm tháng đầy gian nan và lo âu đến với Bà – Nỗi lo của người mẹ góa dõi theo bóng hình của hai người con đi kháng chiến.
              Tai ương tiếp tục ập đến vào những năm 1954, 1955, 1956… Số phận của Bà bị cuốn vào những nỗi khổ đau khôn cùng: mẹ chồng là Cụ Đoàn Thị Diệp bị chết đói (xem “ĐÁM TANG MỆ NỘI TÔI , NGHỊCH LÝ TRONG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT”); cha đẻ là Cụ Ngô Nhật Tuyên bị cầm tù và mất ở phương trời nào bà không thể hình dung được (Xem “Đọc bài “BỐ NGÔ MINH 57 NĂM NAY HỒN KHÔNG NHẬP XÁC” ); các con lớn gần như ly tán với mình; các con nhỏ đói rách, lầm than và thất học; mẹ kế và là dì ruột là Cụ Lê Thị Quy cùng các em Ngô Quang Thiệt, Ngô Thị Thà, Ngô Quang Chân phải đi ở…Than ôi, củ chuối, ngọn khoai lang, cám thóc lép đã cứu mạng sống của bà và các con trong những năm tháng đó, hay chính là “Hồng phúc” cua Ông bà - Tổ tiên phù hộ cho Bà và các con được sống !(?)



             Mùa xuân năm 1968, Bà ra Hà Nội sống với các con. Gần 20 năm xa quê hương, không một ngày nào Bà không hướng vọng về Tổ tiên - Ông bà, nơi chôn rau cắt rốn. Nỗi đau dai dẳng phủ tràn tâm hồn và trái tim bà đến phút cuối cùng của cuộc đời là cái chết thê thảm của người Cha:
         “Mẹ đi mắt hãy còn chau
  Chắc rằng còn nặng nỗi đau cửa nhà
         Đất bằng cuộn sóng Hồn Cha
Ba mươi năm ấy…
                             Vẫn là hôm nay
      (Một đoạn thơ của con trai út khóc khi Bà mất)
           Những năm tháng khi Bà tuổi cao sức yếu, con trai trưởng Lê Phương cùng các con cháu một bề phụng dưỡng. Bà có hai người con dâu và cả hai đều được bà tin cậy, yêu quý như chính con gái mình. Bà dành cho những người con rể tình cảm không khác người mẹ đẻ. Bà vô cùng sung sướng khi thấy anh chị em trong gia đình đoàn kết, thực sự yêu quý nhau. Đàn con cháu nội – ngoại được hưởng bao tình quý báu và sự chăm lo từng quả trứng, chai nước mắm, lạng tôm khô, khúc thịt rim, cân cá bông (ruốc cá)…tự tay bà kho nấu rồi mang xách tận Hòa Ninh -  Quảng Bình khi mỗi bận ra Hà Nội thăm con cháu. Tình yêu các cháu như một nhu cầu vô bờ, có lẽ nhu cầu đó đã phần nào làm dịu bớt những mất mát, nguôi ngoai nỗi đau khi đứa con gái thứ tư Lê Thị Châu mất sớm (vừa được 4 tuổi – mất ngày 26/6/Mậu Thìn – 1938) hằn sâu trong tâm khảm Bà.
            Than ôi! Số phận con người ta “sinh sinh, hóa hóa; nợ tử sinh là lẽ
thường tình”, không thể có ai nằm ngoài quy luật đó. Nên chi một buổi chiều mùa Thu cách đây 20 năm (thời điểm hiện tại 30/10/2015 đã là 27 năm), Bà Ngô Thị Kiêm, sau hơn một năm bệnh nặng, đã nhẹ bước đi vào giấc ngủ vĩnh hằng bên người con trưởng – Đại tá Lê Phương và nhiều con cháu khác tại nhà số 5, dãy N3, Tập thể “Quân chủng Phòng Không – Không quân”, làng Hòa Mục, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội. Thời khắc đặc biệt đó là 17 giờ 30’, ngày 28/10/1988 – tức 18/9/Mậu Thìn. Như vậy, Bà được sinh ra vào mùa Thu tại quê hương làng Lộc Điền, Bà ra đi cũng chính vào mùa Thu ly quê ở Thủ đô Hà Nội, sau 82 mùa Thu hưởng Dương – Thọ 83 tuổi Trời (ngày sinh và ngày mất của Bà Ngô Thị kiêm lệch nhau đúng 1 tháng).
            Chúng ta nghiêng mình bái lạy Tổ tiên - Ông bà đã khéo hun đúc để sinh ra một người con hiếu hạnh, đẹp người đẹp nết; song toàn từ lý trí đến nhân cách; sống hết mình vì gia tộc, cha mẹ, con cháu và quê hương đất nước.
            Chúng ta rạp mình cảm ơn mảnh đất hiện là nơi tá túc của gia đình người em trai út của Bà Ngô Thị Kiêm là ông Ngô Quang Chân – Mảnh đất tại làng Lộc Điền linh thiêng – Mảnh đất nhỏ bé còn sót lại của Tổ tiên sau bao biến thiên của sóng gió lịch sử (thời CCRĐ); đã cho chúng ta cơ hội cùng tụ họp đúng ngày 29/9/2006 để kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Bà Ngô Thị Kiêm – Một thế kỷ của một số phận, một cuộc đời và một trái tim nồng cháy đã thắp sáng, mãi mãi thắp sáng tâm hồn mỗi một con cháu chúng ta!
                           “Sinh ra từ mùa Thu Lộc Điền,
                                        trở về mùa Thu Hà Nội;
                                                  Trăm năm thương nhớ dõi theo Người…”
               (Tít chính trên phông “Lễ Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Cụ Ngô Thị Kiêm”)
           Sinh thời, Bà Ngô Thị Kiêm thường hay ngâm những câu thơ Kiều tuyệt hay. Có những câu như vận vào phận số Bà. Nay nhớ lại, vẫn còn day dứt lòng dạ chúng ta:
                         ...“Nợ tình chưa trả cho ai?
                     Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan
                            Nỗi riêng, riêng những bàng hoàng                          
                     Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn”…
               (Tôi vẫn còn nhớ Mẹ ngâm: “Nợ tình biết trả cho ai?”)
  Đoạn thơ mô tả tâm trạng Thúy Kiều sau khi buộc phải bán mình để cứu cha và em trai; chuẩn bị lên đường theo Mã Giam Sinh bắt đầu dấn thân vào cuộc trầm luân kéo dài ngót 15 năm lưu lạc. “…
                                                      Con trai: Lê Quang Vinh
                                 Cung lục – Bản sửa lúc 21 giờ, ngày 20/12/2012
         Bài thơ tôi làm sau 15 năm ngày giỗ Mự, nỗi nhớ thương dường như vẫn còn nguyên vẹn Ngô Minh ạ.

MƯỜI LĂM NĂM…MẸ ƠI!

        15 năm ngày giỗ Mẹ

            18/9/Mậu Thìn (1988) - 18/9/Quý Mùi (2003)

Mười lăm năm Mẹ rời cõi thế
Nỗi niềm con thương tiếc chẳng hề nguôi
Ôi một thuở tròn lưng trong lòng Mẹ
Tuổi thơ con đi suốt cả đời…

Có đêm lạnh bỏ nhà làm Mẹ khóc
Câu Kiều (1) xưa  khua dậy tâm hồn con
Chiếc đòn gánh tre bao mùa đổi thóc (2)
Nồi “cháo canh” tần tảo sớm hôm

Chợ Đồn chiều nào con “Siêng” (3) lạc
Cả nhà buồn da diết một cơn mưa
Đêm đói bạc hồn hồi “Cải cách”
Giết mèo (4) ăn đau đến mấy mùa

Thắp nén nhang cầu lạy Mẹ linh thiêng
56 tuổi con chưa đền được hiếu
Xưa Mẹ buồn mỗi lần rũ chiếu (5)
Nay mong Người yên ổn chút lòng riêng…

                          13/10/2003

Đôi điều dẫn giải chia sẻ cùng bạn đọc:

1/ Một hôm vào giữa trưa, đang giã bột gạo nếp cho Mự (Mẹ) để làm bánh rán bán thường ngày (hồi mới lên 7 – 8 tuổi), thì có đám tang của người trên Thành (xóm Đạo trong làng) đi ngang qua trước nhà; tôi liền bỏ việc theo coi đến cùng cả buổi. Khi về, bột bị chó ăn hết. Sợ Mự mắng, tôi liền trốn rồi trèo lên cây khế sau nhà đến tối mới mò vô và chỉ dám ngồi ngoài thềm. Ở dưới nhà ngang, ngọn đèn dầu lạc treo trên chạc song (dây căng treo áo quần bằng sợi mây tắt) sáng lờ mờ. Mự tôi nằm trên vọng (võng), ngâm mấy câu thơ (than kiểu giọng Bắc ấy), mãi về sau tôi mới biết đó là những câu Kiều của cụ Nguyễn Du: Nợ tình chưa trả cho ai,/ Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”.
2/ Sau “Cải cách ruộng đất” , Mự nấu cháo canh, làm bánh trái đi tới đi lui các làng Minh Lệ, Diên Trường; các xóm trong xã nhà: xóm Vụng (làng Vĩnh Lộc), An Vĩnh, Thành, Cao Cựu (làng Hòa Ninh)…đổi khoai, ló (lúa) để sống.
3/ Năm 1956 – 1957, trong nhà có nuôi một con chó lông hung (màu tro - đen) pha mấy đốm vàng ở mặt nên gọi là chó “bốn mắt”. Con chó ni rất khun (khôn), đặt tên là “Siêng”. Mự và các chị thường nói “hắn khun hơn thằng Vinh”. Vào một ngày phiên chợ Đồn, con Siêng theo đò dọc rồi bơi qua ngã ba Cửa Hác (ngã ba sông Gianh, mạn gần thị trấn Ba Đồn – nay là thị xã Ba Đồn) cùng Mự đi chợ Đồn; đến giữa trưa nó lạc mất tại chợ.
4/ Khoảng cuối năm 1954 – đầu 1955, gia đình tôi bị CCRĐ quy “địa chủ”. Gia sản cùng nhà nậy (nhà lớn) bị tịch thu. Nhưng trong nhà vẫn còn có con mèo cụ lông đen tuyền rất to, nuôi đã được 9 - 10 năm từ thời Cụ (cha) tôi vẫn còn sống, nên nó phải hơn tôi và ba tuổi. Tình thế lúc này đang trong cơn đói khủng khiếp – đói đến vàng cả mắt; lại sắp bị Đội CCRĐ đuổi ra khỏi nhà, bốn mẹ con líu ríu chưa biết phải đi ở nơi mô nên sợ không có ai nuôi con mèo nữa. Mự tôi đành phải lừa con mèo vào trong ống quần nhận nước giết ăn. Thương con mèo chết oan uổng, lòng tôi đau đớn đến nhiều năm sau…
5/ Tôi mới hơn 1 tuổi (18 tháng) thì Cụ thân sinh mất; Mẹ góa chồng vào năm 42 tuổi (11/1948).
               Cảm ơn Thi sĩ Ngô Minh đã luôn yêu thương, chia sẻ tình cảm cùng người bạn, người anh em đã sống, làm việc với nhau ở cơ quan Báo Thương mại suốt mấy chục năm…
              Chúc gia đình Ngô Minh thật khỏe, hạnh phúc!
                    Lê Quang Vinh

No comments: