Monday, November 9, 2015

HỒ VĂN CHÂM * SỐNG CÒN VỚI DÂN TỘC CỦA HÀ THÚC KÝ

    SỐNG CÒN VỚI DÂN TỘC CỦA HÀ THÚC KÝ
 HỒ VĂN CHÂM\
 
 
Sống Còn Với Dân Tộc” là nhan đề cuốn hồi ký chính trị của cố Chủ Tịch Đại Việt Cách Mạng Đảng Hà Thúc Ký.

            Kỹ sư Hà Thúc Ký sinh trưởng ở Huế, xuất thân là quan chức ngành Thủy Lâm thời Pháp thuộc. Sau khi Việt Minh nắm chính quyền, quan Tham Thủy Lâm Hà Thúc Ký gia nhập Giải Phóng Quân (Vệ Quốc Đoàn) chiến đấu ở Mặt Trận Nam Lào. Vì có mâu thuẫn cá nhân với viên chính ủy mà bị quy chụp là thành phần phản động Việt Nam Quốc Dân Đảng, Hà Thúc Ký rời quân ngũ, ra Hà Nội sống trở lại đời sinh viên. Tại đây, chàng trai 25 tuổi Hà Thúc Ký gia nhập Đại Việt Quốc Dân Đảng, và được giao công tác làm Trưởng ban Báo chí Nội Thành. Cuối năm 1946, Hà Thúc Ký được lệnh trở về Huế làm Phụ tá cho Bác sĩ Bửu Hiệp là Xứ Ủy Xứ Bộ Trung Việt của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Sau khi Bửu Hiệp bị ám sát, Hà Thúc Ký thay thế làm Xứ Ủy, và đã cùng một số cộng sự viên xây dựng cơ sở vững mạnh cho đảng Đại Việt tại miền Trung, đặc biệt là ở hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Sau biến cố Ba Lòng, đảng Đại Việt bị chính quyền đương thời đàn áp, bản thân Hà Thúc Ký bị kết án và bị bắt giam. Qua thời đệ nhị Cộng Hòa, Hà Thúc Ký tập họp đồng chí tản mác khắp nơi để tái lập Đại Việt Quốc Dân Đảng. Tổ chức mới tiếp nối truyền thống Trương Tử Anh, xiển dương chủ nghĩa dân tộc sinh tồn, chủ trương cách mạng, nên mang danh xưng là Đại Việt Cách Mạng Đảng. Lãnh tụ Hà Thúc Ký đưa Đại Việt Cách Mạng Đảng ra hoạt động công khai, bố trí đảng viên tham gia chính quyền trong các ngành lập pháp, hành pháp, quân đội, công an, cảnh sát, chiêu hồi, xây dựng nông thôn. Sau ngày Sắc Luật Tu Chính Quy Chế Chính Đảng được ban hành vào năm 1972, Đại Việt Cách Mạng Đảng trở lại hoạt động bí mật. Từ năm 1975, tại hải ngoại, Chủ Tịch Hà Thúc Ký tiếp tục được tín nhiệm ở vị thế lãnh đạo Đảng cho đến năm 2005. Hà Thúc Ký mất năm 2008 tại Mỹ, hưởng thọ 88 tuổi.

            Cuốn hồi ký “Sống Còn Với Dân Tộc” của Hà Thúc Ký khổ trung bình, dài 371 trang, bìa cứng, giấy trắng, ấn loát rõ ràng, trình bày trang nhã, do Phương Nghi ấn hành năm 2009. Ngoài phần đầu ngắn gọn dành cho các hồi ức về thời niên thiếu ở Huế và cuộc đời công chức ở Cà Mâu, hồi ký của Hà Thúc Ký chủ yếu nói về các hoạt động của tác giả từ năm 1945 đến năm 1975, kể từ khi gia nhập Giải Phóng Quân chiến đấu ở Mặt Trận Nam Lào cho đến ngày lên tàu Trường Xuân di tản ra nước ngoài, sống đời lưu vong của người tỵ nạn cộng sản. Hồi ký của Hà Thúc Ký hầu như không nhắc nhở gì đến các hoạt động từ năm 1975 trở đi. Có lẽ tác giả nghĩ rằng trong cuộc đời hoạt động chính trị của mình có những công việc mà tới giờ phút lâm chung tác giả vẫn chưa tiện nói ra hết các tình tiết, ngọn ngành, nhất là những công việc đã làm trong thời gian sống lưu vong trên đồng đất nước người, bởi lẽ thời cơ chưa thuận lợi, vận nước chưa hanh thông, một số lớn những người có liên hệ đến các công việc đó đang còn ở trong vòng kiềm tỏa của chính quyền chuyên chính trong nước.

Người viết những dòng tản mạn này được nhà xuất bản Phương Nghi ưu ái gửi cho một bản với lời đề tặng thân tình kèm chữ ký ghi chú “Ký thay anh Cả”. Phương Nghi không ai khác là phu nhân của tác giả cuốn hồi ký. Chính vì cảm kích ân tình tri ngộ của anh chị Hà Thúc Ký mà người viết nảy sinh ý định ghi lại những dòng tản mạn này về cuốn hồi ký “Sống Còn Với Dân Tộc”, trước là để nói lên những cảm nghĩ chân thành của mình về người lãnh tụ nay đã khuất núi, sau nữa là để soi sáng một số vấn đề tuy có nêu ra trong cuốn hồi ký nhưng tác giả không tiện kể hết tình tiết, ngọn ngành, bởi lẽ tác giả nghĩ rằng cái tôi là cái đáng ghét, tác giả không muốn mang tiếng khoe khoang để tự đề cao hay biện minh để đổ trách nhiệm cho người khác.

Tác giả cuốn hồi ký “Sống Còn Với Dân Tộc” thuộc dòng dõi quan lại, bên nội bên ngoại đều là đại thần lương đống triều đình. Bản thân tác giả cũng là người thành đạt trên cả hai mặt khoa hoạn. Thế nhưng tác giả Hà Thúc Ký là con người rất mực khiêm cung. Nếp sống bình nhựt của tác giả rất ngăn nắp và giản dị. Tác giả không uống trà, không uống rượu, không hút thuốc lá, không ghiền cà phê. Trong bữa tiệc tại tư gia Thiếu tá Thao Ô chỉ huy trưởng lực lượng Lào Độc Lập Ê Cà Lạt ở mặt trận quốc lộ 9, tác giả Hà Thúc Ký, dù đã nín thở cố nuốt trôi món ruột trâu chấm mật để giữ phép lịch sự tôn trọng chủ nhà, vẫn cương quyết từ chối uống rượu trong lúc các quan khách khác, phần lớn là các tài xẻng địa phương, thi nhau uống rượu như hũ chìm. Tác giả Hà Thúc Ký không ham ăn ngon mặc đẹp, không quen nếp sống xa hoa, không mấy khi lui tới các nơi trà đình tửu quán, và không bao giờ đi ngang về tắt, lân la sớm mận tối đào. Dù ở cương vị Đảng trưởng hay ở cương vị Bộ trưởng, những khi đi công tác bên ngoài mà có sinh hoạt liên hoan với anh em đồng chí hay với thuộc hạ dưới quyền, tác giả Hà Thúc Ký luôn luôn nêu cao tinh thần đồng cam cộng khổ với mọi người. Tác giả Hà Thúc Ký từ chối không tiếp nhận những biệt đãi dành riêng cho lãnh đạo. Người viết còn nhớ một lần tháp tùng anh Cả đi công tác đảng vụ ở Vũng Tàu, ngoài các buổi sinh hoạt tập thể với anh em đảng bộ địa phương, hai người chúng tôi lui về trú ngụ trong ngôi biệt thự của kỹ sư Nguyễn Thôn là bạn đồng nghiệp Thủy Lâm của tác giả, để sáng sớm thảnh thơi tắm biển và điểm tâm bằng một chiếc bánh ú với nước lã đun sôi để nguội, bỏ ngoài tai lời nài nỉ thiết tha của các đồng chí có lòng mến mộ mời chúng tôi đi thưởng thức đặc sản của Vũng Tàu. Một lần khác đưa theo người viết ra Huế sinh hoạt đảng vào mùa hè nắng nóng, Tổng Bí Thư Hà Thúc Ký đã nhờ đồng chí Tôn Thất Tế là Bí thư Đảng bộ Liên Tỉnh Bắc Hải Vân tổ chức cho chúng tôi ngủ đò trên sông Hương thay vì ngủ qua đêm ở khách sạn. Người viết cùng với mấy anh em lãnh đạo đảng bộ địa phương đã trải qua những giờ khắc tuyệt vời bên cạnh vị lãnh tụ ít nói ít cười, rất mực nhân từ và độ lượng được dấu kín trong cái võ bọc nghiêm nghị và khắc khổ. Những giờ khắc đó là những giờ khắc trong sáng và lành mạnh đúng nghĩa, không trà không rượu, không có thương nữ hát khúc Hậu Đình Hoa, duy chỉ có trăng thanh gió mát với sóng vỗ mạn thuyền.

Tác giả hồi ký “Sống Còn Với Dân Tộc” quen lề lối làm việc nghiêm túc, nói năng cẩn thận và khúc chiết, đôi khi có phần bộc trực, không quanh co khuất tất, không dối trá phỉnh nịnh để làm đẹp lòng người đối thoại. Bởi vậy, khi giải bày ý tưởng lên giấy trắng mực đen, tác giả hồi ký “Sống Còn Với Dân Tộc” có lối hành văn rõ ràng với ngữ nghĩa minh bạch, bút pháp vững chải, lời lẽ cô đọng và ý tứ súc tích. Điều này được thể hiện rõ nét qua độ dày vừa phải của cuốn hồi ký. Thật vậy, khối lượng dữ kiện được đề cập đến trong tác phẩm rất phong phú và đa dạng. Với lề lối kể lể dông dài thường bắt gặp trong phần lớn các cuốn hồi ký đã xuất bản trong mấy thập niên vừa qua, hồi ký “Sống Còn Với Dân Tộc” có thể dày đến trên dưới một nghìn trang thay vì thu gọn trong ba bốn trăm trang. Nói về quê quán của mình, tác giả chỉ viết sơ lược về “cuộc đất Dinh”, về cột lim đình làng, về đại hồng chung của chùa làng. Tác giả không lan man đề cập đến thân thế và sự nghiệp Tư Đồ Võ Văn Dũng, cũng như không đả động đến câu tục ngữ “thình thình như cột đình La Chữ”quen thuộc ở cửa miệng dân gian. Nói về truyền thống hiếu học của La Chữ, tác giả chỉ mô tả địa cuộc “nghiên bút” theo quan điểm phong thủy của dân làng. Tác giả tuyệt nhiên không mảy may tiết lộ về gia thế của mình. Chỉ tính riêng khoa thi Hương năm Bính Ngọ, niên hiệu Thành Thái thứ 18 (1906), trường Thừa Thiên (dành cho sĩ tử từ Quảng Bình đến Quảng Nam) có 25 người đậu Cử nhân thì La Chữ đã chiếm hết 5 người. Đó là các ông Lê Hoàn, Hà Xuân Hải, Hà Thúc Tuân, Hà Thúc Du, và Hà Thúc Huyên. Ba ông Hà Thúc này là ba anh em ruột, và ông Hà Thúc Huyên là thân ph tác gi. C ba ông Hà Thúc này về sau đều là đại thần lương đống triều đình, góp phần tạo thành câu nói cửa miệng của người đương thời ở đất Thần Kinh “nhất Thân, nhì Đặng, tam Hà”.

Với cương vị người lãnh đạo một chính đảng, Chủ Tịch Hà Thúc Ký thường xuyên được anh em đồng chí khắp nơi thông báo các sự kiện quan trọng xảy ra bên trong Việt Nam. Chắc chắn tác giả hồi ký “Sống Còn Với Dân Tộc” đã nghe nói đến các khai quật khảo cổ tại Cồn Ràng và Cồn Dài trong địa phận xã Hương Chữ. Những phát hiện tại hai di chỉ này rất quan trọng. Các hiện vật mang dấu ấn văn hóa Sa Huỳnh tại Cồn Ràng, nhất là hàng trăm mộ chum và hiện vật tùy táng phân bố dày đặc tại Cồn Dài, đã dứt khoát khẳng định sự kiện văn hóa Sa Huỳnh không chỉ lan tỏa trong phạm vi Nam Hải Vân mà còn tiến xa hơn lên phía bắc. Gần đây, nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan ở Huế đã sưu tập rất nhiều cổ vật được trục vớt từ đáy sông Hương. Ngoài những đồng tiền đời Tùy, đời Đường, điều đáng quan tâm trong bộ sưu tập là sự đa dạng và phong phú của những mảnh gốm mang dấu ấn văn hóa Sa Huỳnh. Các hiện vật thu lượm được ở Hương Chữ thuộc huyện Hương Trà cùng với việc phát hiện trống đồng Đông Sơn ở Phong Mỹ thuộc huyện Phong Điền ở kế bên, đã minh chứng một thực tế trong quá khứ xa xưa rằng vùng Huế là địa bàn giao thoa, hay hơn thế nữa, là trung tâm hội tụ của hai nền văn hóa rực rỡ Đông Sơn và Sa Huỳnh. Việc khai quật khảo cổ đã xảy ra trên chính làng quê La Chữ của mình, nhưng tác giả hồi ký “Sống Còn Với Dân Tộc” không đưa vào trong tác phẩm. Tác giả nghĩ rằng chuyện này xảy ra sau năm 1975, tác giả không thể có mặt ở trong nước, không thể có điều kiện tự thân mắt thấy tai nghe để hiểu rõ tường tận tình tiết ngọn ngành, nên lược bỏ không bàn tới. Ngược lại, tác giả đã để dành nhiều trang viết về khuôn phép học đường, tổ chức hành chánh, lễ tế Nam Giao, cùng với một vài nét văn hóa đặc thù thời Pháp thuộc, là những điều tác giả am tường, thông thạo, vì lẽ tác giả ít nhiều là người trong cuộc, kiến thức thu góp được chủ yếu rút tỉa từ kinh nghiệm bản thân. Tác giả mong muốn truyền đạt những thông tin ấy cho lớp người trẻ đi sau. Nói tóm lại, những gì nên viết ra, những gì nên lược bỏ, tác giả đều đắn đo suy tính kỹ càng. Đó là dụng tâm của tác giả hồi ký “Sống Còn Với Dân Tộc”, và là biểu hiện bản chất cẩn trọng trong lời nói và việc làm của con người Hà Thúc Ký.

Bản chất cẩn trọng đó bàng bạc trong văn phong của tác giả. Độc giả thường xuyên của Tạp chí Cách Mạng những năm trước đây quen thuộc với các bút hiệu Nam Phong, Bắc Vũ đều có chung nhận xét rằng trong các bài viết của tác giả Hà Thúc Ký, không những câu văn mạch lạc, ý tứ khúc chiết, mà việc dùng từ và đánh dấu cũng không hề vượt ra ngoài quy phạm của tiếng Việt phổ thông. Bởi vậy, một vài khuyết điểm nhỏ nhặt về hình thức bắt gặp rải rác trong hồi ký “Sống Còn Với Dân Tộc” không phải là sơ sót của tác giả mà chủ yếu là do khâu ấn loát. Vì lý do bệnh tiểu đường trở nặng, tác giả không có điều kiện rà soát lại bản layout trước khi đem in. Những lỗi chính tả như Hội Quảng Trị (Hội Quảng Tri), cung Càng Thành (cung Càn Thành), xắp xếp (sắp xếp), giậu đổ bình leo (giậu đổ bìm leo) v. v. rõ ràng là lỗi lầm từ người đánh máy do thói quen phát âm sai hoặc không thông suốt ngữ nghĩa. Quảng Tri là biết rộng, là tên một hội văn hóa, không liên quan gì đến tỉnh Quảng Trị. Càn là Trời, là Vua, cung Càn Thành là nơi vua ở, chứ Càng Thành thì không có nghĩa gì cả. Xuyên suốt hồi ký “Sống Còn Với Dân Tộc”, tác giả viết toàn chuyện thật, người thật, không rườm rà cà kê nghê ngỗng. Hãy lấy thí dụ ở Chương 5, đoạn Chung Cục Của Một Triều Đại. Nói về liên hệ gia đình với nhà Nguyễn, tác giả chỉ viết vắn tắt bác và cha đều làm quan nhà Nguyễn, mẹ và vợ đều là người hoàng tộc. Tác giả đâu có kể lể dài dòng các bác người thì Hiệp Tá Đại Học sĩ, người thì Tuần Vũ, còn thân phụ thì Tham Tri bộ Hình, rồi chuyển qua Tham Tri bộ Lại. Tác giả cũng không đi quá xa đề tài, lan man nói mẹ là người hệ 9, hậu duệ của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, vợ là người hệ 3, hệ tổ là Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên. Vậy thì một vài khuyết điểm như vừa nêu trên đã phát xuất từ khâu ấn loát, xét ra lại chẳng quan trọng gì, độc giả chắc chắn cũng rộng tình thông cảm.

Sau khi Hiến pháp 1-4-1967 được ban hành, các tổ chức chính trị ở miền Nam Việt Nam náo nức chuẩn bị người ra tranh cử vào các cơ quan công quyền. Đại Việt Cách Mạng Đảng đưa Liên Danh Bông Lúa Hà Thúc Ký - Nguyễn Văn Định ra tranh cử Tổng Thống - Phó Tổng Thống, và 4 Liên Danh Bông Lúa, Bó Lúa, Cấy Lúa, Gặt Lúa ra tranh cử Thượng Viện. Mỗi liên danh tranh cử Thượng Viện gồm 10 ứng viên chính thức và 1 ứng viên dự khuyết. Đưa ra một loạt 4 liên danh gồm 44 người để tranh cử 60 ghế Nghị sĩ, Tổng Bí Thư Hà Thúc Ký hy vọng đắc cử được 1 liên danh. Vì vậy, tinh binh mãnh tướng của Đại Việt Cách Mạng Đảng đều dồn hết cho Liên Danh Bông Lúa là liên danh tranh cử Thượng Viện được mang cùng dấu hiệu đảng huy với liên danh tranh cử Tổng Thống – Phó Tổng Thống. Người viết được xếp vào Liên Danh Cấy Lúa. Biết được dụng tâm của người lãnh đạo Đảng, một vài anh em có hỏi sao không sắp xếp để người viết vào Liên Danh Bông Lúa thì được anh Cả cho biết là đã có chủ trương để người viết đảm trách nhiệm vụ khác. Số là Tổng Bí Thư Hà Thúc Ký nhận xét rằng người viết có khả năng tổ chức và điều hành hơn là công tác vận động hành lang nên chuẩn bị đưa người viết tham gia ngành hành pháp chứ không muốn người viết đắc cử vào nghị trường. Trước đây không lâu đã có lần Đại Việt Cách Mạng Đảng giới thiệu người viết làm Tỉnh Trưởng Quảng Trị thay thế Đại Tá Nguyễn Ấm xin từ chức. Nay gặp lúc giới chính trị Sài Gòn phản đối việc cả Tướng Thiệu lẫn Tướng Kỳ đứng chung một liên danh mà cuộc bầu cử lại do chính quyền đương nhiệm tổ chức nên đòi hỏi phải có một chính phủ chuyển tiếp để việc bầu cử được vô tư và công bằng, Đại Việt Cách Mạng Đảng một mặt vẫn ráo riết chuẩn bị việc tranh cử, mặt khác cử Bác sĩ Nguyễn Thạch và Kỹ sư Nguyễn Thôn cùng với người viết tham gia chính phủ chuyển tiếp. Gần đến ngày nộp hồ sơ cho ủy ban bầu cử, sau khi duyệt xét lần cuối các danh sách ứng viên, Tổng Bí Thư Hà Thúc Ký sợ rằng Liên Danh Cấy Lúa có thể đắc cử nên đã rút tên 2 ứng viên sáng giá Nguyễn Đình Hoan, Giáo sư Viện Đại Học Huế và Đoàn Ý, Luật sư Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn, ra khỏi Liên Danh Cấy Lúa để tăng cường cho các liên danh khác. Có lẽ đoán được ý nghĩ của Tổng Bí Thư Hà Thúc Ký không mong muốn cho Liên Danh Cấy Lúa đắc cử nên vào phút chót Đại Tá Phạm Đỗ Thành, Giám Đốc Nha Quân sản Bộ Quốc Phòng, đã rút tên ra khỏi Liên Danh Cấy Lúa khiến người viết phải vất vả ngược xuôi kiếm người điền khuyết để kịp hoàn tất hồ sơ đúng hạn kỳ.

Đầu năm 1969, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ủy nhiệm Phụ tá Nguyễn Cao Thăng thương nghị với các tổ chức chính trị trong nước để thành lập Mặt Trận Dân Chủ Xã Hội. Kết quả có 6 đoàn thể thỏa hiệp tham gia Mặt Trận. Đây là một cuộc hôn nhân vì lý trí chứ không phải là một sự gắn bó tình nghĩa để phụng sự lý tưởng chung. Tổng Thống Thiệu lợi dụng Mặt Trận để tuyên truyền rằng chính quyền có hậu thuẫn quần chúng. Các đoàn thể trong Mặt Trận lợi dụng danh nghĩa hợp tác để sử dụng phương tiện chính quyền trong mục đích bành trướng cơ sở và phát triển thế lực, nhất là để tham gia các cương vị công cử cấp trung ương. Kịp đến khi chính phủ Trần Thiện Khiêm thành lập vào đầu tháng 9 năm 1969 thì chỉ có 2 đảng Nhân Xã và Đại Việt Cách Mạng được mời tham gia. Các đoàn thể không được mời lặng lẽ quay sang phía đối lập. Mặt Trận âm thầm tan rã. Để công chúng không chú ý đến sự kiện này, nhật báo Chính Luận, trong bài nhận định về tân Nội các, đã viết rằng 2 ông Hồ Văn Châm và Ngô Khắc Tỉnh tham gia chính phủ với tư cách nhân sĩ độc lập, cũng như bản tin Việt Tấn Xã đã đăng danh sách các thành viên Nội các mà không hề đả động đến xuất xứ đảng phái của người viết và của Dược sĩ Ngô Khắc Tỉnh. Ngược lại, sau màn độc diễn năm 1971 của liên danh Nguyễn Văn Thiệu - Trần Văn Hương, Đại Việt Cách Mạng Đảng chuyển sang thế đối lập với chính quyền, rồi tiếp đến, Sắc Luật Tu Chính Quy Chế Chính Đảng được ban hành năm 1972 giải tán các chính đảng, Đại Việt Cách Mạng Đảng lui về hoạt động bí mật, thì trong dịp công bố Nội các cải tổ tháng 2 năm 1974, Việt Tấn Xã lại loan tin người viết tham gia Nội các với tư cách là Tổng Ủy viên Tổ chức Ban Chấp Hành Trung Ương Đại Việt Cách Mạng Đảng. Việc người viết đã ở lại trong Nội các qua mấy lần cải tổ trước đây là chuyện bàn tính riêng giữa người viết với Chủ Tịch Hà Thúc Ký, không mảy may gây sự chú ý của một ai. Nhưng lối loan tin lần này của Việt Tấn Xã đã gây nên dư luận sôi nổi trong giới chính trị đối lập với chính quyền, và đặt Chủ Tịch Đại Việt Cách Mạng Đảng vào vị thế khó ăn khó nói. Đương nhiên Việt Tấn Xã không đưa tin như thế nếu không có chỉ thị từ cấp cao hơn. Dù sao thì chính quyền một phần nào cũng đạt được mục đích gây phân hóa trong hàng ngũ các tổ chức đối lập.

Để làm êm dịu dư luận, nhất là để hóa giải sự nghi kỵ Đại Việt Cách Mạng Đảng đi đêm với chính quyền đương nhiệm, Chủ Tịch Hà Thúc Ký cho phổ biến tại hành lang Thượng Viện tờ xác minh người viết không ở trong Đại Việt Cách Mạng Đảng kể từ 31-12-1972. Văn kiện xác minh này được soạn thảo rất khéo, chỉ nêu lên sự việc mà không nói lý do cũng như không kèm theo lời giải thích, để người đọc muốn hiểu sao thì hiểu. Rõ ràng là Sắc Luật Tu Chính Quy Chế Chính Đảng ban hành vào giữa năm 1972 sửa đổi Luật 19-6-1969, với những điều lệ ràng buộc hết sức khắt khe, đã gián tiếp giải tán tất cả các chính đảng đương thời kể từ ngày 31-12-1972. Như vậy, đứng về mặt hợp pháp để được hoạt động công khai, đảng đã không tồn tại thì đương nhiên đảng viên không còn ở trong đảng. Dù sao thì việc loan tin người viết không ở trong Đại Việt Cách Mạng Đảng kể từ 31-12-1972 cũng giải hóa được sự nghi kỵ của các tổ chức đối lập, gỡ cho Chủ Tịch Hà Thúc Ký thoát ra khỏi cái lúng túng nhất thời và đưa Đại Việt Cách Mạng Đảng trở về vị trí nguyên thủy trong hàng ngũ Lực lượng thứ ba. Nhưng dư luận anh em trong nội bộ Đại Việt Cách Mạng Đảng thì lại khác, nhất là sau ngày người viết chuyển sang bộ Cựu Chiến Binh lại kiêm nhiệm thêm bộ Dân Vận Chiêu Hồi. Một vài nhóm anh em ở miền Trung đòi hỏi thi hành kỷ luật sắt máu, khiến Chủ Tịch Hà Thúc Ký phải lên tiếng ngăn cản, và Ban Bảo vệ yếu nhân của cảnh sát Sài Gòn phải tăng cường nhân sự canh gác nhà riêng cũng như sở làm của người viết. Chủ Tịch Hà Thúc Ký chỉ lên tiếng ngăn cản dự tính của các phần tử quá khích, chứ không tiết lộ bất kỳ tình tiết gì, mà bản thân người viết cũng im lặng, không biện minh, không giải thích với bất kỳ ai, ngay cả với vợ con trong nhà. Bởi vậy, sự việc tuy có gây nên công luận sôi nổi nhất thời, nhưng rồi cũng theo ngày tháng trôi qua, ai hiểu sao thì hiểu, không một ai biết rõ ẩn tình, duy chỉ có người viết hết lòng cảm phục Chủ Tịch Hà Thúc Ký đã đi một nước cờ tuyệt vời của bậc thầy cao thủ.

Liên hệ giữa tác giả “Sống Còn Với Dân Tộc” Hà Thúc Ký và người viết chủ yếu là tương quan đảng vụ. Tuy vậy, do sự đẩy đưa của thời thế, cộng thêm một số yếu tố riêng tư, tương quan này đã trở nên giao tình tri ngộ. Tác giả với người viết không phải đồng trang lứa. Tuổi chúng tôi chênh lệch nhau đúng một con giáp. Tác giả với người viết không phải là đồng nghiệp, lại cũng không phải là bạn bè, cho dù là bạn vong niên. Tác giả với người viết cũng không phải là bà con, mặc dù tác giả với vợ người viết là anh em con dì con già. Thật vậy, tác giả với người viết làm việc chung với nhau đã lâu, thế mà mãi đến giữa năm 1967, tác giả có việc cần nên đến tìm người viết tại nhà riêng mới vỡ lẽ là em gái bà con với mình là vợ của người Tổng Ủy viên Tổ Chức của mình. Rõ ràng là tác giả “Sống Còn Với Dân Tộc” và người viết gắn bó với nhau hoàn toàn là do công việc chung. Điều đáng nói là sự gắn bó đó được kết dính bởi lòng tin cậy vào khả năng và tinh thần tận tụy với công việc của nhau, chứ không phải do cảm tình cá nhân hay do liên hệ gia đình. Gia dĩ, tác giả Hà Thúc Ký và người viết cá tính có nhiều điểm giống nhau, bẩm sinh đều ít nói, lại quen tính quyết đoán, không thích bàn bạc dài dòng, nên gặp lúc ý kiến không thống nhất với nhau thì đi đến sự đồng thuận là trong phạm vi trách nhiệm của ai thì người ấy làm. Người viết được Chủ Tịch Hà Thúc Ký ủy thác công việc trong tinh thần tin cậy. Cho dù phải tự lo tự liệu, công việc đôi lúc kinh qua nhiều giai đoạn khó khăn, nhưng cuối cùng kết quả đều tốt đẹp, nên tương quan giữa chúng tôi y hệt mối tương quan công vụ giữa Hoàng Đế Napoleon Bonaparte và Thượng Thư Talleyrand-Perigord thời Đế chế nước Pháp. Đó là điều mà người viết gọi là giao tình tri ngộ. Một sự kiện khác cũng cần nêu lên là mối liên hệ giữa tác giả “Sống Còn Với Dân Tộc” và Cố Nghị sĩ Trần Điền. Sự thật chỉ giản đơn Trần Điền là anh rể của Hà Thúc Ký. Thế nhưng, bất kỳ ai ở Huế lưu tâm đến chuyện thời thế cũng cho rằng Trần Điền là đảng viên Đại Việt, nhất là sau vụ biến động Ba Lòng, Tỉnh trưởng Quảng Trị Trần Điền mất chức và một số lớn đảng viên Đại Việt ở miền Trung phải ra tòa lãnh án tù. Tỉnh Trưởng Trần Điền trong phạm vi quyền hạn của mình theo tinh thần Dụ số 10 đã bổ nhiệm Quận Trưởng Nguyễn Ngọc Cứ và điều động các đại đội Nghĩa Dũng đoàn lên chiếm đóng Ba Lòng hoàn toàn vì mục tiêu công vụ, không giây mơ rể má gì đến quan hệ gia đình hay đảng phái. Trần Điền ngay dưới thời Bảo Đại đã là người của nhóm nhân sĩ miền Trung hoạt động ủng hộ Ngô Đình Diệm, và sau này đắc cử vào Thượng Viện do đứng tên trong một liên danh không phải là Đại Việt. Bởi vậy, dư luận bàn tán về tinh thần gia đình trị trong lề lối sử dụng nhân sự của Đại Việt Cách Mạng Đảng là hoàn toàn phiến diện.

Lùi xa hơn về quá khứ, việc các đảng viên Đại Việt cao cấp Lê Thăng và Nguyễn Tôn Hoàn tham chính thời Quốc Trưởng Bảo Đại, việc cảm tình viên Đại Việt Phan Huy Quát hết giữ chức Bộ Trưởng Giáo Dục lại giữ chức Bộ Trưởng Quốc Phòng, cũng như việc Thủ Hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí đưa một số quan chức cũ thời phong kiến về làm việc trong guồng máy hành chánh thuộc quyền, đã làm nẩy sinh cụm từ “Đại Việt Quan Lại” lưu truyền trong công luận đương thời với hậu ý không mấy thân thiện, quả tình là một sự ngộ nhận đáng tiếc. Cũng có dư luận cho rằng đảng Đại Việt ở miền Trung thuộc hệ phái “Đại Việt Ky Tô” dựa trên nhận xét phiến diện rằng đa số đảng viên là tín hữu Công giáo có quan hệ mật thiết với giáo quyền địa phương. Đành rằng trong số cán bộ nòng cốt của Đại Việt Cách Mạng Đảng ở miền Trung lúc bấy giờ có nhiều người có tiếng tăm như Cựu Nghị sĩ Nguyễn Văn Mân, Cố Nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, hoặc có thành tích hoạt động năng nổ như Cựu Dân biểu Nguyễn Lý Tưởng, Cựu Dân biểu Nguyễn Đức Cung, những người đó đều là người Công giáo, nhưng cùng với những đảng viên khác tại miền Trung không phải là Công giáo, họ gia nhập đảng Đại Việt với tư cách người công dân Việt Nam yêu nước, lấy lý tưởng phụng sự quyền lợi quốc gia làm cứu cánh, và mưu cầu phúc lợi dân tộc làm đối tượng. Việc bàn ra tán vào hệ phái này hệ phái nọ chỉ là chuyện chẻ sợi tóc làm tư, gặp khi trà dư tửu hậu thì tìm cách bới bèo ra bọt để mua vui và giết thời giờ. Về sau, tình hình chính trường Việt Nam gặp nhiều biến chuyển, đảng phái chính trị cũng phải uyển chuyển tìm cách thích nghi với thời thế, nên mới phát sinh những hiện tượng gọi là “thống nhất với phân hóa”, “cựu với tân”, “cấp tiến với cách mạng” v.v., nhưng tất cả đều là những nhánh sông có cùng chung một nguồn và cùng chảy một hướng, chỉ vì gặp phải địa hình hiểm trở mà phải tạm chia nhánh, phân dòng, để mai đây ra tới đồng bằng thì lại hội tụ hoặc cùng nhau song hành xuôi về biển đông. Người đảng viên Đại Việt đặt yếu tố quốc gia dân tộc lên hàng đầu, một lòng một dạ chung vai sát cánh với mọi người Việt Nam yêu nước thương nòi, không phân biệt giai cấp, địa phương, tôn giáo, và luôn luôn biết quên mình để phụng sự lý tưởng chung. Trước đây, Đại Việt Quốc Dân Đảng đã từng kết hợp với Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Dân Chính Đảng để thống nhất thành Quốc Dân Đảng Việt Nam. Lẽ nào ngày nay một vài chi lưu của con sông có chung nguồn và chảy cùng hướng lại mãi mãi chia nhánh phân dòng?

Đó cũng là lời nhắn nhủ tâm huyết với lớp người trẻ của tác giả “Sống Còn Với Dân Tộc”.

                                                            Tháng 11 năm 2009
                                                        Minh Vũ Hồ Văn Châm

No comments: