Sunday, November 30, 2014

GS. LÊ HỒNG THỌ

GS Hồng Lê Thọ bị bắt với cáo buộc "tuyên truyền chống chế độ"

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-11-30
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Cổng thông tin điện tử Bộ công an đưa tin ngày Chủ nhật, 30/11/2014
Cổng thông tin điện tử Bộ công an đưa tin ngày Chủ nhật, 30/11/2014
Screen capture

Giáo sư Hồng Lê Thọ, chủ nhân trang blog Người Lót Gạch, một trí thức kiều bào về nước, vừa bị bắt giam vào khuya ngày 29 tháng 11 theo điều 258 Bộ Luật hình sự Việt Nam. Đây là trường hợp mới nhất tại Việt Nam bị bắt theo điều luật mà lâu nay bị lên án là mơ hồ nhằm trấn áp các tiếng nói phản biện trong nước.
Người ‘thoát Trung’ mạnh mẽ
Tin tức về việc ‘bắt quả tang’, rồi ‘khám xét nhà khẩn cấp’ và ‘bắt giam’ giáo sư Hồng Lê Thọ, chủ nhân trang blog Người Lót Gạch được blog nguyentandung loan đi sớm nhất.
Cổng thông tin của Bộ Công An có thông tin tương tự như trên trang blog nguyentandung. Theo đó cơ quan an ninh điều tra Thành phố Hồ Chí Minh theo tin tố cáo của quần chúng đã tiến hành biện pháp nghiệp vụ của họ đối với ông Hồng Lê Thọ, sinh năm 1949, hiện ngụ tại số 32 Cửu Long, phường 15, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ quan điều tra cho rằng ông Hồng Lê Thọ cho đăng trên mạng các bài viết với nội dung mà cơ quan này cho là ‘có nội dung xấu, thông tin sai lệch, làm giảm uy tín, mất lòng tin trong nhân dân với cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân theo điều 258 Bộ luật hình sự’.
Theo tôi tựu trung lại anh là người có quan điểm rất ôn hòa về chính trị. Không bao giờ có chuyện nói anh vi phạm điều 258, chuyện lợi dụng cái này, lợi dụng cái kia hay vấn đề dân chủ để lật đổ chế độ hay tuyên truyền chống phá chế độ. Thậm chí khi nói chuyện với tôi anh phê phán thẳng một số quan điểm cực đoan
Nhà báo Phạm Chí Dũng
Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, một người biết rõ về giáo sư Hồng Lê Thọ, cho biết những nhận xét của bản thân đối với người vừa bị bắt như sau:
Tôi đã quen biết anh Thọ nhiều năm nay và tôi rất có tình cảm với anh Thọ. Tôi cho đó là một người trí thức có tinh thần dân tộc cao, một trong những người đưa ra đường lối ‘thoát Trung’ mạnh mẽ nhất, tách bạch và có chiều sâu nhất. Anh Thọ là một Việt Kiều Nhật, anh rành cả tiếng Pháp và tiếng Anh, trang Người Lót Gạch của anh có thể nói gần như là trang duy nhất ở Việt Nam điểm tin bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, cung cấp lượng thông tin bổ ích cho độc giả. Anh cũng là người có kiến thức sâu trong khá nhiều lĩnh vực và có quan hệ với nhóm Việt Studies ở Hoa Kỳ và một số nước Phương Tây.
Theo tôi tựu trung lại anh là người có quan điểm rất ôn hòa về chính trị. Không bao giờ có chuyện nói anh vi phạm điều 258, chuyện lợi dụng cái này, lợi dụng cái kia hay vấn đề dân chủ để lật đổ chế độ hay tuyên truyền chống phá chế độ. Thậm chí khi nói chuyện với tôi anh phê phán thẳng một số quan điểm cực đoan; nhưng tôi không biết Nhà nước này bắt anh để làm gì?Nếu không vì một lý do gì đặc biệt và ẩn giấu, người ta phải công khai tất cả mọi chuyện, minh bạch hóa, không thể bắt giữ công dân một cách tùy tiện, mà đặc biệt vẫn sử dụng điều luật 258 mà quốc tế lên án.
Nhà báo Phạm Chí Dũng cũng có ý kiến về việc bắt giữ giáo sư Hồng Lê Thọ mà được nói là do những bài viết đăng trên Internet có nội dung xấu, thông tin sai lệch như cơ quan an ninh điều tra nêu ra:
Uy tín xã hội và năng lực cá nhân của anh Hồng Lê Thọ là vấn đề mà tôi cho rằng khi muốn bắt giữ anh, Nhà nước phải cân nhắc, phải thận trọng nếu không sẽ gặp phản ứng rắc rối và lớn chuyện từ phía Hoa Kỳ và Phương Tây
Nhà báo Phạm Chí Dũng
Theo tôi khó có thể đánh giá qua những bài viết, những bài đăng lại trên trang Người Lót Gạch để qui ra tội chống phá chính quyền. Thực sự tôi không đọc khá thường xuyên trang Người Lót Gạch vì bận quá nhiều việc; nhưng chúng tôi gặp nhau thường xuyên nói chuyện. Trước khi anh Thọ bị bắt khoảng hai tuần, chúng tôi có gặp nhau uống cà phê, và tôi thấy anh Thọ vẫn ổn, ôn hòa và anh nói về những bài viết, bài đăng lại trên trang Người Lót Gạch thì không có vấn đề gì cả. Đó là theo anh ta nhận định, và tôi cũng nghĩ rằng nếu Nhà nước muốn bắt những người bị coi là bất đồng chính kiến vào thời điểm này thì Nhà nước Việt Nam phải rất cân nhắc về chuyện làm sao họ có đủ lý do, đủ cơ sở, không thể đưa ra những lý do tùy tiện như trước đây, đặc biệt đối với những người như anh Hồng Lê Thọ. Tôi biết trong nhóm trí thức Việt Kiều, nhất là nhóm luôn có mong ngóng, mong đợi đóng góp những ý kiến phản biện để xây dựng kinh tế, xã hội, kể cả góp ý về một số vấn đề chính trị đối với Nhà nước Việt Nam, anh Thọ là người có uy tín và anh luôn đưa ra những gợi ý, những đóng góp mà tôi cho có giá trị. Anh cũng là người mà ở trong nước không phải ít người biết đâu, khá nhiều người biết anh, đặc biệt trong giới dân chủ- nhân quyền. Thành thử uy tín xã hội và năng lực cá nhân của anh Hồng Lê Thọ là vấn đề mà tôi cho rằng khi muốn bắt giữ anh, Nhà nước phải cân nhắc, phải thận trọng nếu không sẽ gặp phản ứng rắc rối và lớn chuyện từ phía Hoa Kỳ và Phương Tây.
Bắt theo tố giác
Việc tiến hành khám xét và bắt giữ giáo sư Hồng Lê Thọ, chủ nhân trang blog Người Lót Gạch, còn được nói là theo tin tố giác của quần chúng. Nhà báo Phạm Chí Dũng có ý kiến về điều này:
Tuy nhiên so với những nhân vật bất đồng chính kiến khác trước đây, lần này cơ quan an ninh điều tra lại dựa vào tố giác của quần chúng, đó là một hiện tượng khá bất thường, một cụm từ khá lạ được ứng vào trường hợp này
Nhà báo Phạm Chí Dũng
Về mặt tố giác của quần chúng, đó là một cụm từ chung trong pháp luật và điều tra xét hỏi bên ngành công an, điều đó không có gì sai vì tố giác của quần chúng là một cơ sở để có thể dẫn đến bắt giữ, bắt giam một nhân vật, một đối tượng hình sự nào đó. Tuy nhiên so với những nhân vật bất đồng chính kiến khác trước đây, lần này cơ quan an ninh điều tra lại dựa vào tố giác của quần chúng, đó là một hiện tượng khá bất thường, một cụm từ khá lạ được ứng vào trường hợp này. Tôi biết trong thực tế điều tra, xét hỏi ở Việt Nam, thường người ta áp dụng cơ sở tố giác của quần chúng đối với tội phạm là những trường hợp đối tượng hình sự; chứ không phải những đối tượng hoạt động chính trị, những nhân vật bất đồng chính kiến, hoặc dân chủ, đấu tranh cho nhân quyền. Trường hợp này áp dụng với anh Hồng Lê Thọ, tôi cho là khá lạ. Điều đó cho tôi một chút hy vọng là anh Thọ có thể sẽ không bị bắt lâu. Có thể qua một quá trình điều tra nào đó ngắn hạn, cơ quan Nhà nước: các cơ quan công an, chính quyền cũng sẽ phải thả anh ra.

Vào chiều ngày 27 tháng 11 vừa qua, một nhóm sinh viên tại Hà Nội cũng bị lực lượng chức năng ập vào nhà khám xét, bắt đưa về đồn Công an cũng như tịch thu một số tài liệu về dân chủ, nhân quyền của những sinh viên này. Việc làm đó cũng được nói là do có tố cáo của người dân những sinh viên này tàng trữ chất cháy, chất nổ. Facebooker Lý Quang Sơn phản bác về cơ sở có tố cáo để đột nhập vào phòng trọ của các bạn như sau:

Họ viện cớ dùng đơn tố cáo để xâm nhập vào nhà chúng tôi. Tôi nói tôi hoàn toàn có thể dùng đơn tố cáo bất kỳ một quan tham nhũng nào, và ngay ngày mai tôi yêu cầu họ phải xông vào nhà quan tham nhũng đó để điều tra. Tôi thách đố họ làm điều đó, nhưng họ không thể làm được, họ không nói gì.
Điều 258 vô lý
Việc khám nhà và bắt giữ giáo sư Hồng Lê Thọ, chủ nhân trang blog Người Lót gạch, là trường hợp mới nhất bị bắt giữ theo điều 258 Bộ Luật Hình sự Việt Nam. Điều luật này lâu nay bị nhiều người quan tâm cho rằng mơ hồ và Nhà nước lập ra để dễ bề trấn áp những tiếng nói đối lập, phản biện.
Hiện nay có hai trường hợp cũng đang bị truy tố và giam giữ với cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân’ theo điều 258 là blogger Anh Basam Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự Nguyễn thị Minh Thúy.

HÀ NHÂN VĂN * TRUNG CỘNG XÂM LƯỢC

Bắc Kinh quyết cắt yết hầu VN!
Hà Nhân Văn

BỐI CẢNH Á ĐÔNG – TBD
Sau thượng đỉnh APEC và G20 Úc Đại Lợi, CT Tập Cận Bình công du đảo quốc Fiji, 45% gốc Ấn Độ, mở hầu bao chi viện không hoàn trả 50 triệu đô, họp thượng đỉnh các đảo quốc Nam TBD ngoại trừ Tây Samoa, lãnh thổ Hoa Kỳ. Tháng 9, tân Thủ tướng Ấn vừa đắc cử đã đến Fiji, TT Modi Ấn coi Fiji là một “tiền đồn thân hữu”, nối liền TBD và Ấn Độ Dương.

Với chính sách cố hữu “Phóng tài hóa thu nhân tâm”, “Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn; Đồng tiền đi sau là đồng tiền dại!”, CT Tập Cận Bình chi ngay tại chỗ, vương quốc Tonga được chi 45 triệu. Đảo quốc Vanuatu cũng được chi xôm tụ, lớn hơn cả Tonga. Vương quốc này dành riêng một đảo “cỏ xanh đến tận chân trời” cho Nhật Bản nuôi bò ăn thịt, chở về Kobé Nhật, cho vào lò sát sinh, xuất cảng qua Tàu và VN, gọi là “bít tết bò Kôbê” và phở tái bò Kôbé (trước đây giá 35$US một tô ở Hà Nội). Bắc Kinh rất ham có một đảo cỏ nuôi bò như Nhật ở Vanuatu.



TC ham những gì ở các đảo Nam TBD? Tài nguyên không đáng kể, đưa và mang về cái gì ở các đảo quốc thần tiên này? Lãnh đạo Bắc Kinh từ thời Mao Chu, trông thấy các đảo Nam TBD mà ham! Đưa người xuống đây là ưu tiên. Nhớ lại năm đầu nội các Obama, theo tin AFP dạo ấy, bà NT Hillary Clinton qua Tàu gặp NT Dương Khiết Trì, bà làm cao, chỉ gặp Trì ở Thẩm Quyến, tình cờ bà Hillary hỏi Trì: “Cái gì khó khăn nhất của Trung Hoa bây giờ?”. 

Họ Dương cao hứng dại dột bật miệng nói: nạn Nhân mãn! Bà Hillary giật mình, bà ý thức được ngay nguy cơ rất lớn của thế giới mà ĐNA và Nam TBD là mục tiêu số một của Bắc Kinh vào thời đại này. Cái nguy cơ ấy trải dài từ ĐNA qua phía Nam và phía Tây. Bất hạnh, rất bất hạnh VN lại là địa bàn chiến lược tiên khởi. Nghĩa là phải làm chủ VN mới có thể làm chủ ĐNA – Biển Đông, tiến xuống Nam TBD.

CON ĐƯỜNG MỚI TẬP CẬN BÌNH!
Bố trí và chuẩn bị đã từ rất lâu. Thập niên 1970 sau khi Mỹ rút khỏi VN, cố vấn TC ào vào Nam Vang, bảo trợ chế độ Miên Cộng Pol Pot, với hơn 1500 cố vấn TC. Ý đồ của Mao là nổi bềnh lên, lấy Cao Miên (Pol Mot) làm trọng điểm, áp đảo VN, nhoài tay qua Thái Lan, tung tiền như nước vào Mã Lai và chính phủ trung lập thân Cộng Sukarno Nam Dương, nơi mà Mao – Chu đặt hy vọng nơi 1.5 triệu Hoa kiều, đảng CS Nam Dương, hợp tác với TT Sukarno, có thể nói là đảng CS Hoa kiều.

Biển Đông vắng mặt hạm đội 7 Hoa Kỳ, hạm đội Nga không làm nao núng Bắc Kinh. Sau khi cướp được quần đảo Hoàng Sa, Bắc Kinh đã đặt được đầu cầu chiến lược Biển Đông – ĐNA. Chiến lược Đại dương Nam tiến của Đặng Tiểu Bình nối tiếp chủ trương Đại Hán bành trướng của Mao Trạch Đông. Và nay, Tập Cận Bình quyết thực hiện. Không thể tin và không bao giờ tin Tập Cận Bình với giọng lưỡi hòa hoãn của ông ta từ APEC Bắc Kinh đến thượng đỉnh ASEAN Miến Điện và thượng đỉnh G20 Brisbane, Úc Đại lợi. Phải nói rằng, chiến lược chuyển trục của Obama là một phần đóng góp lớn của Hillary từ khi gặp Dương Khiết Trì nhận được chỉ dấu nhân qua cửa miệng họ Dương!

Da trắng đã trung hòa ở khắp nơi, chỉ còn lại Nam TBD với Úc và Tân Tây Lan, đảo quốc như Fiji, Tonga, Samoa, Vanuatu vẫn nằm trong tay Úc mà Mỹ không bao giờ bỏ rơi. Pháp còn lại một chút ở Tahiti, Nouvelle Calédonie với Nouméa nơi CĐVN giàu có nhất Nam TBD. Ở thế sống còn, Tập Cận Bình vẫn chấp nhận đương đầu tiến tới bằng con đường hòa hoãn và phóng tài hóa.

LỢI DỤNG KHÓ KHĂN CỦA MỸ
Qua thượng đỉnh APEC Bắc Kinh, TC quyết đi tới, xin lập lại bài trước: hòa hoãn với Nhật Bản, xiết chặt tay với Đài Loan và ngầm phá TPP của Mỹ. Nay, Bắc Kinh đã gần như nắm được 12 quốc gia trong APEC. Nga Sô mất uy tín trong thượng đỉnh G20, tiền hội nghị, các nước G7 và nhiều nước khác Á Phi lạnh lùng ra mặt với Putin. Sau phiên khoáng đại khai mạc, Putin lạnh lùng bỏ hội nghị trở về Nga. Bắc Kinh bất chiến tự nhiên thành thắng lớn, vừa có cơ hội ngang vai vế với Mỹ ở G20 Úc.

Thẳng đường, họ Tập lao vào Nam TBD. Tập phu nhân mặc y phục hải đảo (Fiji). Cuộc tiếp đón cực kỳ long trọng. Tất cả các nguyên thủ đảo quốc Nam TBD đều theo nhau đến Fiji triều kiến, ước lượng Bắc Kinh chi trên 500 triệu cho chuyến công du của họ Tập đến Fiji. Họ Tập chớp thời cơ, có thể nói ông là đại đệ tử của Kim Dung, ông đã đạt được “tuyệt chiêu”: xử Ls. Lâm Đại Đại, con gái của Thống đốc Lâm Bưu dám giương cao ngọn cờ quyết tử đòi xử Mao Xếnh Xáng! 

Dùng tòa án để giải quyết biến cố sinh viên Hồng Kông nổi dậy. Rất gai góc! Đối ngoại, hòa hoãn với Nhật, Liên Âu, Úc, Ấn Độ … không đụng Mỹ nhưng triệt để khai thác tình hình phân hóa nội bộ Mỹ 2 năm còn lại của HP Obama, huyền ngọc sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vẫn là Obamacare, vấn đề di dân, thuế và ngân sách. Đối ngoại cũng sẽ khó khăn không kém, phải đương đầu với 3 “mặt trận lớn”. Với Nga và Ukraine, với Syria – Iraq và khủng bố Nhà nước Hồi giáo chặt đầu người, với Palestine Hamas và Do Thái, với Afghanistan hậu chiến chiến tranh.

Tập Cận Bình mở “mặt trận” HP và pháp trị ở quốc nội. Cuộc thanh trừng vĩ đại, vượt rất xa 2 cuộc thanh trừng của Mao Trạch Đông: 1. Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng (1955-1959). 2. “Cuộc cách mạng văn hóa 10 năm”!
Bây giờ Tập Cận Bình chuyển hóa. Điều đầu tiên và căn bản nhất “Phải nắm chặt VN bằng bất cứ giá nào. Chiến lược cốt lõi của Tập Cận Bình trước sau vẫn là VN. VN trước hết!”


HẢI VÂN – ĐÀ NẴNG
TC sẽ không đánh VN bằng quân sự, trên bộ và dưới biển. Bài học 1997 “dạy cho VN một bài học” thất bại ở Thượng du VN, rốt cuộc để lại 60,000 (tài liệu mới nhất 2013: sáu mươi ngàn xác chết GPQ TQ). Sau thượng đỉnh Việt – Trung Thành Đô 1990 với các mật ước đôi bên đã ký kết, Bắc Kinh theo một chiến lược mới: “Dạy cho VN một bài học Không tiếng súng” để VNCS tự dâng hiến “lấy lại đất cũ của TQ” (!), Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường thực hiện theo lớp lang từ thời Mao Trạch Đông “lấy xưa để phục vụ nay” (!). Làm mới cái xưa, viết lại cái xưa như “VN là đất cũ của TQ” (!) và hoàn tất cái nay bằng tài hóa, không cần súng đạn.

TỪ CÁI NHÌN CỦA TÌNH BÁO!
Năm 2005, tình cờ, rất tình cờ một nhân vật cao niên ở Hồng Kông đã nắm được một tài liệu gọi là nghiên cứu mật mà lại không mật cuả tình báo chiến lược Á Đông về đại kế hoạch Đoạt chiếm VN và Biển Đông của TC, gọi là cuộc “giải phóng không tiếng súng để lấy lại đất cũ của TQ từ thời Tần – Hán” (!). 

Tưởng đâu là chuyện giả tưởng ai ngờ lại là chuyện thật 100% qua vụ dân Vũng Áng nổi dậy đánh phá nhà máy gang thép Formosa và qua 2 vụ: trước đây và nay do Nguyễn Bá Thanh, Bí thư Đảng bộ TP Đà Nẵng theo lệnh bộ Chính trị ĐCSVN thực hiện (NTD chỉ là một). 

Theo tấm bản đồ mà một nhà báo lão niên có được, đại cương chia VN ra làm 10 vùng: 1. Đông Bắc. 2. Tây Bắc thượng du. 3. Đồng bằng sông Hồng. 4. Bắc Trung bộ. 5. Nam Trung bộ. 6. Tây Nguyên. 7. Đông Nam bộ. 8. Đồng bằng Cửu Long. 9. Hoàng Sa. 10. Trường Sa. Thượng du coi như đã ổn định với vùng tự do mậu dịch được ghi trong Thông cáo chung Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang 2013, TC tha hồ tự tung tự tác. 



Thí dụ Hè vừa qua, tỉnh ủy Quảng Ninh cho TC thuê cả trăm mẫu đất rừng với thời hạn 149 năm do công nhân TC khai thác, phá rừng trồng cây nông nghiệp. Đồng bằng sông Hồng lấy khu công nghiệp Quỳnh Phụ, Thái Bình làm tiêu biểu (Quỳnh Côi và Phụ Dực). Số báo này, tôi chỉ bàn sơ lược. Hải Vân và Hòa Vang nằm giữa vùng chiến lược số một của TC từ Nghệ An đến Quảng Nam, với trọng điểm Vũng Áng – Hà Tĩnh và Hải Vân – Hòa Vang (Thừa Thiên – Quảng Nam).
 deo-hai-van2



Từng bước một, từ Thanh Hóa trở vào Hà Tĩnh rồi từ Đà Nẵng – Hòa Vang, Hội An ngược lên Hải Vân, toàn vùng chiến lược của tổ tiên ta từ thời vua Lê Thánh Tôn và chúa Nguyễn Đàng trong như tôi đã trình bày sơ lược vào số báo trước.

Đối với TC, đây là vùng quan trọng bậc nhất, điểm tối trọng giữa tuyến chiến lược Nghệ An Hà Tĩnh và Quảng Nam với Chu Lai, trực tiếp quan hệ với chiến lược bành trướng của TC ở Nam Lào, đúng hơn là toàn bộ xứ Lào mà Bắc Kinh nhắm tới từ thập niên 1950. 

Vùng này chỉ cần “bước qua” là đã sang tới Lào. Bắc Kinh đánh cắp được 2 tài liệu căn bản. Một, của VNCH phát triển kinh tế thời hậu chiến. Hai, Đại học Harvard, Viện phát triển quốc tế với 13 đề án mà HNV tôi đã trình bày trên mục này trước đây. Bắc Kinh tổng hợp lại làm mồi dụ dỗ Hà Nội.


 Riêng Bắc Trung bộ, Bắc Kinh nắm được Nguyễn Bá Thanh, xuất thân bần cố, ủy viên TƯĐ. Đầu tư và phát triển trên một địa bàn qui mô, một vòng cánh cung lớn, phía Nam là Giá Liên chiểu – Dung Quất sẽ là một hành lang chủ yếu trên trục giao thông quốc gia Nam Bắc.

 Tiếp Đà Nẵng trên đường Đông Tây là Tiên Phước-Quế Sơn. Thị trấn hạt nhân là Tam Kỳ và Vạn Tường. Khôi phục sân bay Chu lai, nâng cấp phi trường quốc tế Đà Nẵng, Hà Nội ham quá. Ai mà không ham! Những ai am tườngthì đây chỉ là một phần nội dung chính yếu của Mỹ để lại và kế hoạch phát triển của Đại học Harvard (1993), Bắc Kinh có được xào lại làm mồi dụ Hà Nội! 


Kế hoạch vùng Bắc Trung bộ mới là chính yếu của Bắc Kinh, cực kỳ nguy hiểm cho VN ngay từ hôm nay và ngày mai con cháu, chắt, chút, chít. Vùng này với 670 km duyên hải, 23 con sông, thềm lục địa nhiều tài nguyên, chính yếu là gỗ. Vùng hoa gấm của kỹ nghệ du lịch, thật là “rừng vàng biển bạc”, tuy dân vẫn còn nghèo, một kho tài nguyên nhân lực. Ở đây, tôi chỉ giới hạn ở vùng Hải Vân, Bạch Mã, Cảnh Dương, Lăng Cô, cảng biển Chân Mây… Bắc Kinh đã có sẵn kế hoạch nay mới thòi ra! Chính yếu của nó là cắt đôi VN.

Vùng Hải Vân núi non trùng trùng điệp điệp, thuộc tỉnh Thừa Thiên, trước năm 1945 gọi là Thừa Thiên Phủ Doãn (kinh thành), quần đảo Hoàng Sa trực thuộc Thừa Thiên, do sắc dụ của vua Bảo Đại năm 1934. Sách Đại Nam Nhất Thống chí – bộ Học, Quốc Sử giám triều Duy Tân lại đặt Hải Vân vào tỉnh Quảng Nam. Tôi chép ra đây để quí độc giả dùng làm học liệu cho giới trẻ:


Núi Hải Vân: ở cách huyện Hòa Vang 38 dặm về phía bắc, mạch này từ các núi Đại Tu Nông, núi Tiểu Tu Nông, núiTía và núi Kiền Kiền ở biên giới Ai Lao về phía tây, từngđợt kéo đến, ngọn núi trùng điệp, cao vót từng mây thẳng đến sát biển; trên có cửa Hải Vân, là chỗ tiếp giáp giữa Thừa Thiên và Quảng Nam về phía bắc cửa quan ải thì xem Thừa thiên phủ chí, phía nam cửa thuộc địa phận huyện Hòa Vang. Trước cửa quan chừng vài ba trượng, đá núi dựng đứng rất là hiểm dốc. 



Trước kia họ Trịnh từng đắp lũy để chống Tây Sơn, nên gọi là đỉnh Lũy. Phía nam chân núi là núi Thông Sơn, tục gọi hòn Hành, năm Minh mệnh thứ 4 cho tên là núi Định Hải, có xây pháo đài ở đây; phía tây có núi Sen, núi Sảng là chỗ đường trạmđi qua, năm thứ 7, đều đổi tên làm Thạch Lĩnh, đường núi gập ghềnh, cây đá lẫn lộn; chân núi phía nam kề liền vụng biển, có ghềnh đá đứng sững ở bờ biển, cao thấp lô nhô, như hình non bộ, sóng biển đập vào, nước phun như mưa. Ngoài biển về phía đông bắc nổi vọt một ngọn, năm Minh Mệnh thứ 21 cho tên là đảo Ngự Hải, ở đó có đặt đàiPhong Hỏa, phía bắc của biển Đà Nẵng (sách đã dẫn, Q. VII, tỉnh Quảng Nam, bản dịch, tt. 146-147).

Sách địa lý Đất nước ta chép về Hải Vân như sau: “Cửa ải cao 6m. Trước kia có chức “phòng thủ” và quân đội đóng, có “kinh thiên lý” để theo dõi tàu nước ngoài vào Đà Nẵng. Đỉnh đèo có lũy, địa giới Quảng Nam. Từ đèo, nhìn phía tây, núi non trùng điệp, phiá đông, bể lớn bao la. Phía tây bắc là phá Hà Trung. 

Phía nam một chi núi chạy ra biển rồi dừng lại với bán đảo Sơn Trà. Dưới mặt, vịnh Đà Nẵng trong vòng bán nguyệt. Xa xa cù lao Chàm. Bãi biển Đà Nẵng, cát vàng, cây xanh. Đám núi Sơn Trà. Tất cả, nối vào dãy núi phía tây. Đây là môït trong những phong cảnh đẹp nhất của nước ta. Đường đèo đi hết 20 km: lên 10 km, xuống 10 km. Đà Nẵng cách đỉnh Hải Vân 25 km (từ ngã ba Đường 1A rẽ vào 5 km). (sđd, Hoàng Đạo Thý chủ biên, nxb KHXH, HN 1989).
9239012180_a30e21c51b_z
Hải Vân quan ngày xưa

Biến cố CSVN nhượng Hải Vân cho Bắc Kinh 50 năm, chỉ là một phần kế hoạch xâm lăng VN không tiếng súng mà tình báo Á Đông đã nắm được mấu chốt. Không phải chỉ một Hải Vân! Hải Vân chỉ là một điểm, một tên gọi của toàn bộ kế hoạch bao trùm toàn vùng rừng núi. Thừa Thiên – Quảng Nam, vượt xa Trường Sơn, xin lập lại nối tiếp với Lào, đất rộng nguòi thưa. Cắt đôi, cắt ba VN bằng các vùng đầu tư phát triển của TC. Tài liệu còn cho biết: một là nấp dưới nhãn hiệu khu du lịch sinh thái sẽ xây các khu nghỉ mát ở vùng rừng núi Bạch Mã mà Pháp đã mở mang trước năm 1940. Đây cũng là trung tâm huấn luyện hướng đạo VN trước năm 1945.

Hai_Van_Pass_Base
Hải Vân quan ngày nay

Từ từ, tằm ăn dâu, TC sẽ mở một sinh lộ mới, vượt Trường Sơn, vượt qua Lào, làm chủ cả Trường Sơn, cắt ngang yết hầu VN, Thừa Thiên và Quảng Nam. Thời hạn 50 năm đâu phải là ngắn, đủ để phá vỡ thế đất sinh tồn và thống nhất Bắc Nam về mọi mặt, nghĩa là TC án ngữ quốc lộ số 1, làm chủ đường hầm Hải Vân khi có biến.

TIẾN HÀNH CƯỚP HẢI VÂN VÀ HÒA VANG
Hải Vân và Hòa Vang là phên dậu chiến lược quan trọng nhất của Đà Nẵng. Bắc Kinh đã hạ xong Cồn Dầu qua tay sai Nguyễn Bá Thanh và tập đoàn đầu nậu Việt – Trung, đáng lẽ, cho TC thuê Hải Vân đã từ lâu. Trước hết, như Thượng du miền Bắc, sẽ phá rừng cho nhẵn nhụi, thu góp hết danh mộc đem về Tàu, sau đồi, địa, núi phá tan vị trí chiến lược truyền thống của VN, đem công nhân đổ vào vùng núi Hải Vân – Hòa Vang biến thành Tô giới (the Concession) trong 50 năm rồi tính sau. Hải Vân, đường hầm và quốc lộ 1, đường xe lửa xuyên Việt mặc nhiên nằm trong bàn tay vô hình của Bắc Kinh. Gần nhất, Bắc Kinh sẽ phá tan miền đất địa gấm hoa thiêng liêng của VN, chưa nói đến vấn đề tâm linh và phong thủy.

Rồi Ngũ hành sơn sẽ như thế nào? Đoạt Hải Vân dù 50 năm, đây là mưu sâu chước hiểm vô cùng độc của TC. Xin mở bản đồ ra, nhìn vào miền núi rừng Hải Vân và toàn bộ Quảng Nam – Thừa Thiên sẽ như thế nào khi ông Ba Đỏ chễm chệ đứng trên đỉnh núi Hải Vân? Theo tài liệu của tình báo Á Đông, lập khu du lịch sinh thái và công nghệ Hải Vân – Bạch Mã chỉ là một diện dưới cái mũ đầu tư. Cái điểm chính là vô hình vô ảnh cắt đôi VN, mở đường qua Lào và từ Lào lại trở về Biển Đông: Đà Nẵng là tâm điểm.

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VNCS CHỐNG LẠI
Tướng Thống, QĐNDVN lên tiếng cực kỳ chống lại “sự cố” Đảng ủy Thừa Thiên hay bất cứ ai chủ trương cho TC đầu tư và thuê Hải Vân 50 năm. Đồng thời tin từ Hà Nội ngày 22-11 vừa qua, bộ QPVNCS cũng cực lực chống lại việc cho thuê Hải Vân, một hành động vô cùng ngang ngược, dám ngang nghiên cắt yết hầu của Tổ quốc.
HÀ NHÂN VĂN

Saturday, November 29, 2014

TRẦN GIA PHỤNG * NGỤC TRUNG NHẬT KÝ

Hồ Chí Minh: Kẻ trộm thơ

Trần Gia Phụng (Danlambao) - Hồ Chí Minh (HCM) được chế độ cộng sản (CS) xem là một nhà thơ lớn. Các giáo sư, các nhà nghiên cứu văn học CS thi nhau bốc thơm. Trong các kỳ thi trung học dưới mái trường CS, thơ HCM thường được đưa ra làm đề tài cho các em học sinh bình giải.
Theo viện Văn học Hà Nội, thi phẩm vĩ đại nhất của HCM là quyển Ngục trung nhật ký viết bằng chữ Hán, xuất bản tại Hà Nội năm 1960, gồm 132 bài thơ, đại đa số là tứ tuyệt (thơ 4 câu 7 chữ). Viện nầy cho biết HCM “đã viết trong cảnh lao tù từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943” (1). Ngục trung nhật ký đã được dịch qua chữ Việt, phát hành hàng trăm ngàn bản ở trong nước và cũng đã được dịch ra nhiều thứ tiếng ở hải ngoại.


Nhà nghiên cứu Lê Hữu Mục, nguyên là giáo sư văn chương Việt Nam tại Đại học Văn khoa Huế và Đại học Văn khoa Sài Gòn, sau năm 1975 định cư tại Montreal, Canada, đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng tập thơ nầy và chứng minh rằng đa số các bài thơ trong Ngục trung nhật ký do một người Trung Hoa tên là “Già Lý” sáng tác, và chỉ có khoảng trên dưới 10 bài tứ tuyệt là của HCM. (2)

Giáo sư Lê Hữu Mục đã phân tách tỉ mỉ tác phẩm nầy và đưa ra nhận xét như sau: "Phần phân tích ở trên chứng thực già Lý là chủ nhân của những bài thơ xây dựng theo kĩ thuật thơ Đường; những bài thơ nầy chiếm hết ba phần tư tác phẩm. Phần còn lại có thể coi là của Hồ Chí Minh. Tôi chỉ nói là có thể vì tôi không khẳng định được rõ ràng bài thơ nào đích thực là của Hồ Chí Minh, bài thơ nào thuộc về các tác giả khác." (3)
Chỉ cần nhìn sơ qua hình bìa nguyên bản quyển Ngục trung nhật ký cũng đã thấy mâu thuẫn ngay từ đầu. Tấm bìa nguyên thủy của sách nầy ghi rõ ngày, tháng và năm sáng tác là 29-8-1932 / 10-9-1933, trong khi Viện Văn học cho rằng HCM sáng tác tập thơ nầy trong hai năm 19421943.
Ngoài những nghiên cứu của giáo sư Lê Hữu Mục, còn có những phát hiện khá thú vị khác về tài cóp thơ hoặc là trộm thơ của người khác của HCM. Ví dụ trong tuyển tập Quốc Học, trường tôi do nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành tại Huế năm 1996, có đăng bài thơ “Tầm hữu vị ngộ” của HCM.
Tuyển tập nầy chú giải rằng bài thơ “Tầm hữu vị ngộ” là của HCM gởi cho Võ Nguyên Giáp năm 1954, và "mới được phát hiện". Giáo sư Tuệ Quang Tôn Thất Tuệ, trong bài "Ai là tác giả bài Tầm hữu vị ngộ?" (4), cho rằng nếu bài thơ nầy của một lãnh tụ (HCM) tặng cho một viên tướng (Võ Nguyên Giáp), được sáng tác năm 1954, cả hai đang cầm quyền và cầm quân, mà sao đến năm 1990 mới được phát hiện? Hai người nầy đều là những nhân vật quan trọng đầu não của chế độ CS, mà sao bài thơ có thể thất lạc một thời gian dài (1954-1990)? Giáo sư Tuệ Quang đi sâu vào chi tiết bài thơ và nhận xét: "Tóm lại, bài thơ "Tầm hữu vị ngộ", xét về hình thức lẫn nội dung, không phù hợp với thi cách và khuynh hướng của ông Hồ".
Hai câu chuyện trên đây còn đang được tranh cãi, nhưng qua đến câu chuyện bài thơ dưới đây thì có lẽ khó cãi. Số là trong sách Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, (5), đăng bản phiên âm bài thơ bằng chữ Hán của HCM gởi cho trung tướng Trần Canh (sau lên đại tướng). Bài thơ nầy còn được in trong sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (6). Nguyên văn bản phiên âm bài thơ như sau:

Tặng Trần Canh Đồng Chí
Hương tân mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi.

Bản dịch nghĩa của sách nầy:
Tặng Đồng Chí Trần Canh
Rượu ngọt “sâm banh” trong chén ngọc dạ quang
Sắp uống, tỳ bà trên ngựa đã giục giã
Say sưa nằm lăn nơi sa trường, anh đừng cười nhé!
Chớ để một tên địch nào trở về.
(Theo đúng nguyên văn trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6 tr. 101.)
Hồ Chí Minh và Trần Canh
Trần Canh (Chen Geng) lúc đó là một viên trung tướng thân cận của Mao Trạch Đông, đang là ủy viên dự khuyết ban Chấp hành Trung ương đảng CSTQ, tư lệnh quân khu Vân Nam kiêm chính ủy binh đoàn số 4, chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vân Nam. Hồ Chí Minh trực tiếp xin Mao Trạch Đông gởi Trần Canh qua làm cố vấn quân sự cho Việt Minh (VM).
Theo lệnh Mao Trạch Đông, Trần Canh đến Thái Nguyên gặp HCM vào cuối tháng 7-1950. Trong chiến dịch biên giới, Võ Nguyên Giáp dự tính tấn công Cao Bằng, nhưng Trần Canh chủ trương đánh Đông Khê. Theo Trần Canh, địa thế Cao Bằng hiểm trở, công sự phòng thủ kiên cố và quân Pháp ở đây đông, nên khó tấn công. Trong khi đó, Đông Khê tuy nhỏ, nhưng giữ một vị trí chiến lược quan trọng trên phòng tuyến giữa Cao Bằng và Lạng Sơn; quân Pháp ở đây ít, dễ tấn công hơn. Cuối cùng, VM vâng theo ý kiến của Trần Canh.
Ngày 16-9-1950, VM dùng chiến thuật biển người theo kiểu Trung Cộng, tung khoảng 10,000 quân tấn công Đông Khê, một cứ điểm nhỏ do 260 quân Pháp trấn giữ. Đông Khê ở phía đông nam Cao Bằng, phía bắc Thất Khê. (Thất Khê ở phía tây bắc Lạng Sơn). Sau ba đêm và hai ngày kịch chiến (16 đến 18-9-1950), VM chiếm Đông Khê.
Trận Đông Khê là trận thắng đầu tiên của VM, cô lập Cao Bằng và cắt đứt tỉnh lộ số 4, nối Cao Bằng với Lạng Sơn. Sau trận nầy, Trần Canh còn cố vấn cho Võ Nguyên Giáp thi hành kế hoạch “công đồn đả viện”, chận đánh riêng biệt hai cánh quân do hai trung tá Pháp chỉ huy. Cánh quân của trung tá Marcel Lepage rời Thất Khê tiến lên Đông Khê, bị VM phục kích ở Cốc Xá (nam Đồng Khê) ngày 8-10-1950. Trong khi đó, đơn vị của trung tá Pierre Charton rút khỏi Cao Bằng ngày 3-10-1950, cũng bị VM phục kích ngày 10-10-1950 tại đồi 477, tây nam Đông Khê.
Trong hai trận nầy, số quân Pháp vừa tử trận, vừa bị bắt làm tù binh lên đến 4,000 binh sĩ, 354 hạ sĩ quan và 98 sĩ quan, trong đó có hai sĩ quan cấp trung tá. Đây là trận thất bại nặng nề đầu tiên của Pháp kể từ khi chiến tranh bắt đầu năm 1946. Ngoài số thương vong và thất thoát võ khí trên đất, lần đầu tiên 15 chiến đấu cơ của Pháp bị súng cao xạ của VM do Trung Cộng viện trợ, bắn hạ. Ngược lại, hai cuộc phục kích nầy là chiến thắng lớn lao nhất của VM từ năm 1946, hoàn toàn do quyết định của tướng TC.

Theo ghi chú dưới bài thơ HCM tặng Trần Canh trong sách Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, tr. 101, thì HCM gởi bài thơ nầy cho Trần Canh trước ngày 9-10-1950, nghĩa là HCM chúc mừng Trần Canh sau trận thắng Đông Khê ngày 18-9-1950, nhưng trước hai trận VM phục kích ở phía nam Đông Khê tháng 10-1950.
Đọc bài thơ nầy, ai cũng cảm thấy phảng phát âm hưởng bài thơ rất nổi tiếng của Vương Hàn đời Đường bên Trung Hoa là bài “Lương Châu từ”, được phiên âm như sau:
Lương Châu Từ
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
Trần Trọng San dịch:
Bài Hát Lương Châu
Rượu bồ đào, chén dạ quang
Muốn say, đàn đã rền vang giục rồi
Sa trường say ngủ ai cười
Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu?
So sánh hai bài thơ tứ tuyệt “Tặng đồng chí Trần Canh” của HCM và “Bài hát Lương Châu” của Vương Hàn, cách nhau cả hơn một ngàn năm, mỗi bài thơ chỉ có 28 chữ, mà hai bài thơ chỉ khác nhau có bảy chữ. Đó là hai chữ đầu bài thơ (“bồ đào” thay bằng “hương tân” tức rượu champagne; và năm chữ câu cuối). Còn hai câu giữa hoàn toàn giống nhau, nghĩa là hết ba phần tư (3/4) bài thơ nguyên là của bài “Lương Châu từ” của Vương Hàn.

Câu kết bài thơ HCM tặng Trần Canh trong tổng thể cả bốn câu của bài thơ, thật là vô duyên và lại lạc đề, vì ý nghĩa câu nầy chẳng ăn nhập gì đến ý nghĩa ba câu trên của bài thơ. Ba câu trên đang nói chuyện uống rượu trong một cái chén dạ quang sang trọng, phải vội vàng ra đi theo tiếng nhạc xuất quân, dù có say sưa ngoài chiến trường thi xin mọi người đừng cười... Bài thơ đang đến hồi sảng khoái, hào hùng thì HCM lại kết luận trật chìa một cách vô duyên, chẳng có hồn thơ, làm mất hứng thơ: “Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi”. (Chớ để một tên địch nào trở về). Đang nói chuyện xin đừng cười kẻ lỡ say ngoài chiến trường sao mà “chớ để một tên địch nào trở về”, thì thật là lãng nhách.
Trong khi đó, câu kết của Vương Hàn “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” (Từ xưa chinh chiến mấy người về), vừa hào hùng phù hợp với ý tưởng ba câu thơ trên, vừa là tâm trạng của những chiến binh xông pha trận mạc, biết rằng chiến tranh có những rủi ro không sao đoán trước được, nên từ xưa đến nay, những người ra đi xông pha chiến trận, thì mấy người trở về? Vì vậy mới xin đừng cười kẻ lỡ say trên đường ra trận. Lời thơ trong câu kết của Vương Hàn vang lên như là một điệu nhạc vừa hùng tráng và cũng vừa bi ai. (Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.)
Trừ trường hợp Trần Canh là người dốt nát, không biết đọc chữ thì Trần Canh mới không phát hiện được HCM chép lại thơ Vương Hàn. Tuy nhiên, Trần Canh là người đã từng đủ điều kiện để theo học khóa 1 trường võ bị Hoàng Phố (Quảng Châu) tháng 5-1924, nổi tiếng học giỏi và được mệnh danh là một trong ba nhân tài của Hoàng Phố (Hoàng Phố tam kiệt), đã từng là hiệu trưởng trường Lục quân Bành Dương, đã lên tới cấp trung tướng, đang giữ chức tư lệnh quân khu Vân Nam kiêm chính ủy binh đoàn số 4, chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vân Nam.

Chắc chắn Trần Canh có một trình độ học vấn căn bản và vốn là một quân nhân, Trần Canh phải biết bài thơ trứ danh về chiến tranh của Vương Hàn, nhất là hai câu chót: “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu / Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, hầu như là hai câu nằm lòng của giới nhà binh. Nay HCM lại “múa rìu qua mắt thợ”, lấy nguyên văn hai câu thơ của Vương Hàn làm quà tặng cho đồng hương con cháu của Vương Hàn. Trần Canh nghĩ sao về việc nầy?

Phải chăng đây là thơ “tập cổ” theo lối người xưa? Nếu tập cổ thì mượn một câu chứ không mượn 3/4 bài, và ít nhất khi in lại cũng ghi là thơ tập cổ từ thơ của ai? Hay đây là lối đánh lận con đen trí trá cố hửu của HCM? Nếu ai biết thì chối là thơ tập cổ, nếu ai không biết thì khoe là thơ của HCM và đăng vào sách, lưu truyền về sau. Ngày nay, chỉ cần chép nguyên văn một câu của người khác mà không đề xuất xứ, thì bị ghép vào tội đạo văn, ăn cắp thơ. Trong bài thơ nầy, HCM ăn cắp những ba phần tư (3/4) bài thơ của Vương Hàn.

Đúng là HCM, chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tức nhà nước cộng sản Bắc Việt Nam, xứng đáng là chủ tịch trộm thơ liều lĩnh. Thế mà đảng CSVN luôn luôn kêu gọi học tập đạo đức HCM tức là học luôn cách trộm thơ hay trộm công trình sáng tác của người khác. Có thể do nhờ học tập đạo đức kiểu đó nên viên hiệu phó Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã đạo văn luận án tiến sĩ của người khác.

 Chỉ khác một điều là vào đầu năm nay (2014) có người tố cáo viên hiệu phó ăn cắp sở hữu trí tuệ của người khác, mà chẳng ai chịu tố cáo HCM đã trộm thơ của người khác. Nếu viên hiệu phó Đại Học Bách Khoa Hà Nội công khai thừa nhận đã trộm luận văn của người khác vì đã học theo gương đạo đức HCM, thì hy vọng có thể khỏi bị truy tố.

Chẳng những trộm thơ, mà HCM còn trộm tư tưởng của người khác. Ví dụ rõ nét nhất còn được các trường học ở Việt Nam hiện nay truyền tụng như là tư tưởng HCM, là câu mà HCM đã phát biểu trong cuộc học tập chính trị khoảng hơn 3,000 giáo viên ngày 13-9-1958 tại Hà Nội: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.” (7).  Câu nầy, HCM ăn cắp nguyên ý của Quản Trọng, tể tướng ngước Tề thời Xuân Thu (722-479 trước CN). Quản Trọng nói: Nhất niên chi kế mạc ư thụ cốc; thập niên chi kế mạc ư thụ mộc; bách niên chi kế mạc ư thụ nhân.” (Kế một năm trồng lúa; kế mười năm trồng cây; kế trăm năm trồng người.) Nếu kể chuyện HCM đạo văn thì còn nhiều chuyện nữa, kể cả bản Tuyên ngôn ngày 2-9-1945 của HCM...

Lãnh tụ số một của CSVN còn như thế, thì trách chi hiệu phó Đại Học Bách Khoa Hà Nội trộm luận án và trách chi nền văn hóa giáo dục CSVN suy sụp và xuống cấp.
Toronto, 26-11-2014
______________________________________
Chú thích:
(1) Lê Hữu Mục trích dẫn, Hồ Chí Minh không phải là tác giả “Ngục trung nhật ký”, Toronto: Văn Bút Hải Ngoại, 1990, tt. 12-13.)
(2) Lê Hữu Mục, sđd. tr. 112. ("Ông già họ Lý" là người bị giam chung với HCM vào đầu thập niên 30 tại khám lớn Victoria ở Hồng Kông.)
(3) Lê Hữu Mục, sđd. tr. 94.
(4) Tạp chí Hương Văn, California, số 5, tháng 2-1999, tt. 91-96.
(5) Nxb. Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội in lần thứ hai, năm 2000, trang 101.
(6) Hà Nội: Nxb. Văn Học, 1990, tt. 39-40.
(7) Báo Nhân Dân ngày 14-9-1958.

TIN THẾ GIỚI

Thứ bảy, 29/11/2014
Xem

Tin tức / Việt Nam

Bắc Kinh tung kế hoạch phát triển một loạt mỏ dầu ở Biển Đông và biển Bột Hải


Quốc Vụ Viện Trung Quốc hôm thứ Sáu loan báo kế hoạch phát triển 9 mỏ dầu lớn ở Biển Bột Hải và Biển Đông, để bảo đảm nguồn năng lượng của nước này, theo báo Want China Daily của Đài Loan.

Đây là lần đầu tiên chính phủ Trung Quốc đề ra kế hoạch để khai thác một cách quy mô các mỏ dầu lớn tại Biển Đông, có khả năng sản xuất hơn 10 triệu tấn mỗi năm, dựa trên các số liệu ước tính trong kế hoạch của Trung Quốc cho những năm từ 2014-2020.

Bản tin của tờ báo Đài Loan nói rằng kế hoạch khai thác các mỏ dầu trong vùng biện tranh chấp ở Biển Đông chắc chắn sẽ đưa tới xung đột giữa Trung Quốc với các nước láng giềng. Trung Quốc trước đó đã đụng độ với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông và với Việt Nam sau sự cố giàn khoan dầu Hải Dương 981.

Theo một cuộc nghiên cứu của Ủy ban Kinh tế của Liên Hiệp Quốc vào năm 1966, biển Hoa Đông là khu vực có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, ước lượng từ 3 tỉ tới 7 tỉ tấn.

Bắc Kinh đã dò tìm dầu khí trong một diện tích rộng khoảng160.000 km vuông trên Biển Đông, và ước tính khu vực này chứa uóc lượng 5,22 tỉ tấn dầu khí,  trị giá hơn 325 tỉ mỹ kim.
Theo ước tính của Nhật báo Thương mại Hong Kong, thì tăng trưởng GDP của Trung Quốc có thể tăng lên từ 1 đến 2%, nếu Bắc Kinh chỉ khai thác có một phần ba nguồn tài nguyên dầu khí to lớn này trong hai thập niên tới.
Nguồn: Want China Times, Khamphavn 
http://www.voatiengviet.com/content/bac-king-tung-ke-hoach-phat-trien-mot-loat-mo-dau-o-bien-dong-va-bien-bot-hai/2538634.html
Chủ nhật, 30/11/2014
Xem

Tin tức / Hoa Kỳ

Số du khách từ Trung Quốc đến Hoa Kỳ dự kiến sẽ gia tăng

Cầu vồng bên trên Cầu Golden Gate thu hút rất nhiều du khách ở San Francisco, California.
Cầu vồng bên trên Cầu Golden Gate thu hút rất nhiều du khách ở San Francisco, California.
Mike O’Sullivan
San Francisco là điểm dừng chính của du khách Trung Quốc, và một thoả thuận giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, loan báo tại Bắc Kinh trong tháng này, hứa hẹn sẽ thu hút thêm du khách từ Trung Quốc sang thăm các nơi ở Hoa Kỳ.


Các thành phố chính ở duyên hải miền tây Hoa Kỳ là những điểm đến không thể bỏ qua đối với các đoàn du khách Trung Quốc, với các thắng cảnh như cây cầu Golden Gate ở San Francisco. Ông Lý Hồng, người cùng đến đây với cô con gái, có ấn tượng rất mạnh.
Ông Hồng nói cảnh thật là đẹp. Cô con gái ông cho biết đây là lần đầu tiên đến Hoa Kỳ. Theo cô, nước Mỹ thực là xinh đẹp, và không giống như Trung Quốc, nơi các thành phố lớn đều có vấn đề ô nhiễm. Ở đây cô nhìn thấy bầu trời xanh và mây trắng. Cô nói ấn tượng đầu tiên rất tốt đẹp.

Số du khách từ Trung Quốc theo dự kiến sẽ tăng lên kể từ khi có thông báo hồi đầu tháng 11 rằng cả hai nước sẽ gia hạn thị thực ra vào nước nhiều lần cho doanh nhân và du khách từ một năm hiện nay tăng tới mức tối đa là 10 năm.


Ông Harry Chen thuộc công ty Joy Holiday có trụ sở ở San Francisco chuyên tổ chức các ‘tua’ ở châu Á đi thăm các thành phố và thắng cảnh của Hoa Kỳ, gồm cả các công viên quốc gia. Ông nói sự thay đổi trong quy chế về thị thực sẽ có lợi cho nền kinh tế của cả hai nước:

“Và tôi cũng nghĩ rằng đây là một cách tuyệt hảo để hai nền văn hoá học hỏi lẫn nhau, xây dựng tình hữu nghị và sự thông cảm.”
Ba người bạn từ Trung Quốc ngồi trên một ghế dài ở một trong các thắng cảnh của San Francisco, là Cung điện Mỹ thuật, với ngôi nhà xây tròn kiểu Hy Lạp nằm vắt vẻo bên bờ một cái hồ ven biển.  Cô Ni Xi từ Thẩm Quyến cho biết cô và các bạn vừa bắt đầu chuyến thăm Hoa Kỳ.


Cô cho biết sẽ ở lại San Francisco suốt ngày, rồi đi thăm Los Angeles, nơi họ sẽ đi mua sắm trong ba hay bốn ngày. Rồi sau đó họ sẽ đi Grand Canyon để viếng cảnh, và Las Vegas để xem các sòng bạc và tham quan đây đó.

Đó là một hành trình thông thường. Trong thời gian ở San Francisco, du khách thích đến các khu phố đặc biệt. Các đoàn du khách ngừng chân ở Haight-Ashbury, thiên đường ma tuý của giới trẻ trong thập niên 1960, và Quận Castro của giới đồng tính luyến ái.

Người hướng dẫn du lịch LanKun Weidner nói du khách Trung Quốc nhận thấy sự đa dạng rất hấp dẫn:
“Bạn được thấy dân chúng từ khắp mọi nơi, rồi thức ăn và kiến trúc, thậm chí cả những phong cách sinh hoạt.”
Khắp thành phố, công ty của cô Linda Lee, có tên là “All About Chinatown” cống hiến các tua đi bộ. Cả du khách Tây phương và Trung Quốc đều tìm hiểu về lịch sử di dân Trung Quốc ở bờ biển miền Tây Hoa Kỳ.


Một số quang cảnh trông rất quen thuộc, ví dụ như một cửa hàng bán thuốc đông y. Một người đàn ông sau quầy đang giã các dược thảo thành bột. Nhưng một số quang cảnh khác rất mới lạ - như một cửa hàng Trung Quốc tí hon sản xuất loại bánh gọi là ‘fortune cookies,’- những chiếc bánh giòn rỗng ruột chứa một mảnh giấy nhỏ đoán vận may - một thức ăn tráng miệng Mỹ gốc Hoa sáng chế ở California.

Cô Linda Lee nói nhiều câu lạc bộ tư nhân ở Chinatown, tức phố Tàu này, rất mới lạ đối với du khách từ Trung Quốc. Một số đã có từ thế kỷ thứ 19 và vẫn là một nơi được bảo tồn:
“Tất cả các câu lạc bộ tư nhân này đều do người Trung Hoa thành lập để tự bảo vệ mình và để họ cảm thấy như ở quê nhà.”
Đó là một phần của câu chuyện về San Francisco, và câu chuyện về nước Mỹ, mà ngày càng nhiều du khách từ Trung Quốc đang trải nghiệm.

Giá dầu lao dốc sau hội nghị Opec

  • 29 tháng 11 2014


Tổng Thư ký OPEC nói tổ chức này sẽ không tìm cách đẩy giá dầu bằng việc cắt giảm sản lượng.
Giá dầu chạm ngưỡng thấp nhất trong bốn năm trở lại đây sau khi OPEC quyết định không cắt giảm sản lượng dầu.
Giá dầu thô Brent đã chạm mức thấp nhất trong vòng bốn năm, ở mức 71,12 đôla một thùng, vào sáng ngày thứ Sáu, trước khi phục hồi về mức mức trên 73 đôla.
Giá dầu thô Brent trước đã giảm 5 đôla một thùng vào ngày thứ năm sau khi OPEC thông báo không sẽ không thay đổi kế hoạch sản xuất sau buổi họp mặt ở Vienna.

12 thành viên OPEC đã quyết định duy trì sản lượng 90 triệu thùng dầu mỗi ngày như đã nhất trí trước đó vào tháng 12 năm 2011.
Giá dầu ở Mỹ đã giảm còn 67.75 đô la một thùng, thấp nhất kể từ tháng năm 2010.
Sau cuộc họp ở Vienna, Tổng Thư ký OPEC Abdallah Salem el-Badri cho biết tổ chức này sẽ không tìm cách đẩy giá dầu bằng việc cắt giảm sản lượng.

“Có sự sụt giảm giá, thế nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chúng ta nên phản ứng nóng vội", ông nói.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/2014/11/141129_brent_price_new_low 
 

Trận chiến ngoại tệ sắp tới

Việt Long & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA
2014-11-26
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
000_Hkg7377881.jpg
Đồng Yên Nhật và Nhân Dân Tệ Trung Quốc, ảnh minh họa chụp trước đây.
AFP


Trong khi đồng Mỹ Kim cứ lên giá liên tục so với các ngoại tệ chính yếu khác thì đồng Yen của nền kinh tế đứng hàng thứ ba thế giới là Nhật Bản lại sụt giá mạnh và còn có thể sụt nữa. Vì sao lại như vậy và hậu quả cho các nền kinh tế khác trên thế giới sẽ là gì? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu nguyên do và ảnh hưởng của sự chuyển động ấy qua phần phân tích cùa chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Xin quý thính giả theo dõi cách Việt Long nêu vấn đề như sau đây.

Thế giới sẽ gặp biến động về ngoại hối

Việt Long: Xin kính chào ông Nghĩa. Cách đây một tháng, khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đưa ra một dự báo bi quan về tình hình kinh tế toàn cầu, thì trên diễn đàn này ông nói đến việc Mỹ Kim lên giá so với các ngoại tệ khác và nhấn mạnh là thế giới sẽ gặp nhiều biến động về ngoại hối. Từ mấy ngày qua, người ta lại thấy đồng Yen của Nhật sụt giá mạnh so với tiền Mỹ và nhiều loại ngoại tệ khác. Nhật Bản có sản lượng kinh tế đứng hàng thứ ba của thế giới sau Hoa Kỳ và Trung Quốc và là một quốc gia xuất cảng rất mạnh. Khi tiền Nhật sụt giá như vậy thì ảnh hưởng sẽ ra sao cho các nền kinh tế khác? Chúng tôi nêu vấn đề trong mục đích tìm hiểu về những biến động ngoại hối mà ông đã nhắc đến từ tháng trước.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng hôm Thứ Ba 17 vừa qua, Thủ tướng Nhật là ông Shinzo Abe loan báo quyết định giải tán Quốc hội để tổ chức bầu cử sớm vào ngày 14 tháng tới. Việc ấy xảy ra sau khi có thống kê xác nhận kinh tế Nhật lại bị suy trầm nữa trong Quý Ba vừa kết thúc vào Tháng Chín. Trước đó, vào ngày 31 Tháng 10, Ngân hàng Trung ương Nhật cũng quyết định sẽ lại bơm thêm tiền theo phương pháp gọi là "gia tăng mức lưu hoạt có hạn định" hay "quantitative easing" gọi tắt là QE với số lượng cực lớn, dự trù là tương đương với hơn 700 tỷ đô la mỗi năm, cho đến khi kinh tế ra khỏi suy trầm hoặc lạm phát lên tới 2% thì mới ngưng.
Khi đồng Yen mất giá thì hàng hóa của Nhật lại trở thành rẻ hơn, tức là dễ xuất khẩu hơn, nên sẽ gây sức ép cho các nền kinh tế sống nhờ xuất khẩu, thí dụ như kinh tế Đức và Trung Quốc.
-Nguyễn-Xuân Nghĩa
Những biến cố dồn dập ấy giải thích vì sao tiền Nhật mất giá so với các ngoại tệ khác như Mỹ Kim hay đồng Euro của Âu Châu. Nếu nhìn trong dài hạn thì việc đồng Yen mất giá là sự chuyển động dễ hiểu với hậu quả có thể là một trận chiến về ngoại tệ giữa các nền kinh tế lớn trên thế giới khiến nhiều quốc gia khác, kể cả Trung Quốc, sẽ lâm vào khó khăn trong các năm tới.

Việt Long: Chúng ta lần lượt tìm hiểu hiện tượng này để phần nào thấy trước được biến động ấy. Trước hết, xin ông nói về kinh tế Nhật và những lý do khiến tiền Nhật sẽ còn mất giá nữa.


Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nhật Bản có vấn đề trường kỳ là nạn dân số sút giảm với tỷ trọng rất lớn của người cao niên lớn tuổi – mà người ta gọi là nạn lão hóa dân số. Lý do sâu xa này khiến mức tiêu thụ sút giảm và hàng họ mất giá. Trong khi đó, vì mở ra làm ăn với toàn cầu, kinh tế Nhật vẫn có ưu điểm là nơi đầu tư ổn định khiến thiên hạ trút tiền mua đồng Yen để tìm cơ hội kiếm lời trên thị trường Nhật. Kết hợp hai chuyện 1) dân số và tiêu thụ giảm khiến kinh tế bị nạn giảm phát – disinflation – và 2) nội tệ lên giá dẫn tới hiện tượng giá cả trong nước sụt đều làm người dân càng tiết kiệm và đình hoãn chi tiêu để chờ khi giá hạ hơn nữa. Hoàn cảnh éo le ấy khiến các doanh nghiệp Nhật bị điêu đứng. Đầu tư giảm vì mức lời sụt dẫn tới việc cắt lương và mở ra vòng xoáy lẩn quẩn: lương hạ càng đánh sụt mức tiêu thụ và làm kinh tế đình trệ.

Sự chuyền động lớn này giải thích vì sao kinh tế Nhật bị suy trầm liên tục từ hai thập niên đã qua. Thế rồi, chiếm đa số áp đảo sau cuộc bầu cử vào cuối năm 2012, Chính quyền của Thủ tướng Abe mới áp dụng chánh sách cải cách táo bạo, được gọi là Abemomics, nhắm vào ba hướng gọi là "ba mũi tên". Thứ nhất là cố tình gây lạm phát qua biện pháp tăng chi để bơm tiền vào kinh tế theo cái ý khuyến khích dân chúng hãy mua ngay đi kẻo mai này hàng lên giá. Thứ hai là cải tiến môi trường kinh doanh để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư bằng cách giảm thuế doanh nghiệp, khi đó thuộc loại cao nhất địa cầu. Thứ ba là cải tổ toàn bộ cơ chế kinh tế, xã hội và chính trị Nhật để tìm sức bật mới....

 Việc tăng chi chưa có kết quả thì Ngân hàng Trung ương Nhật áp dụng biện pháp tăng mức lưu hoạt, tức là bơm thêm tiền vào kinh tế, với một số lượng tương đối cao gấp đôi Hoa Kỳ. Vì thế mà tiền Nhật mới mất giá. Khi đồng Yen mất giá thì hàng hóa của Nhật lại trở thành rẻ hơn, tức là dễ xuất khẩu hơn, nên sẽ gây sức ép cho các nền kinh tế sống nhờ xuất khẩu, thí dụ như kinh tế Đức và Trung Quốc.

Đồng đôla Mỹ và euro Âu Châu. AFP PHOTO.
Đồng đôla Mỹ và euro Âu Châu. AFP PHOTO.
 
Việt Long: Xin được hỏi ông một câu là vì biện pháp tăng chi ngân sách, Nhật Bản hiện mắc nợ nhiều nhất, có thể lên tới 250% tổng sản lượng kinh tế. Thưa ông, đấy không là một vấn đề sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng đấy là một vấn đề, nhất là khi ta nhớ đến khoản tiền lời phải thanh toán, có khi chiếm một tỷ trọng lớn của các khoản chi ngân sách như nếu phân lời đi vay mà lên tới 2% thì tiền lời sẽ lên tới 80% của số tổng thu về thuế khóa.

Nhưng, có một thực tế văn hóa và tâm lý mà mình nên chú ý. Khoản công trái rất cao của Nhật có hai đặc tính. Thứ nhất, tuyệt đại đa số là "nội trái", được yết giá bằng đồng Yen, tức là "Nhật nợ Nhật" chứ không nợ ngoại quốc. Thứ hai, chủ nợ của đa số các khoản nợ ấy lại là Ngân hàng Trung ương Nhật, nghĩa là chủ nợ cũng là chủ nhà in giấy bạc và nhờ vậy có quyền quyết định về phân lời cao thấp khi bơm tiền ra.

Vì thế, thị trường tài chánh Nhật vẫn ổn định và không bị giao động nặng - trong khi dân Nhật bấm bụng bảo nhau cho nhà nước vay tiền trong tinh thần liên đới gọi là "rau cháo có nhau". Khi Trung Quốc càng tỏ vẻ hung hăng đe dọa quyền lợi của Nhật thì người dân Nhật lại càng chịu đựng và hậu thuẫn chính quyền để cố gắng vượt khó khăn kinh tế. Bây giờ ta mới nói đến chuyện ngoại hối là hối suất đồng Yen....

Nguy cơ suy sụp

Việt Long: Như ông vừa trình bày thì có phải chăng là việc tiền Nhật mất giá là một hiện tượng có những lý do sâu xa và lâu dài hay không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa là câu chuyện còn rắc rối hơn vậy nếu ta nhìn trong trường kỳ.
Khoảng 40 năm trước, có lúc tiền Nhật quả thật là quá rẻ mà nhiều người đã quên mất rồi vì phải hơn 300 đồng Yen mới ăn một Mỹ Kim. Khi kinh tế toàn cầu bị tổng suy trầm vào các năm 2008-2009 và tiền Mỹ mất giá thì là lúc đồng Yen lên giá, một đô la chưa ăn được 80 Yen vào năm 2011. Nó chỉ bắt đầu sụt vào cuối năm 2012, rồi dập dình cả năm 2013 qua tới 2014 ở mức trăm đồng ăn một Mỹ Kim. Bây giờ mới sụt mạnh và còn sụt nữa, có thể tới 150 hay thậm chí 200 đồng vào một hai năm tới. Nhưng so với cái giá 300 hay 350 vào những năm 1970-1975 thì vẫn chỉ bằng phân nửa mà thôi.

Việt Long: Thưa về lâu dài thì ý nghĩa sẽ ra sao?

Nhìn trong lâu dài thì điều ấy có nghĩa là gì? Là trong khoảng 40 năm, có lúc tiền Nhật tăng giá gấp bốn so với đô la và doanh nghiệp Nhật bị thất thế khi cạnh tranh với doanh nghiệp Hoa Kỳ hay với thiên hạ. Họ phải tìm lợi thế bằng cách khác, chứ không nhờ tiền rẻ mà dễ bán hàng hơn.
Một cách chậm rãi, thế giới đang gặp nguy cơ suy sụp nặng một cách cứ tưởng như bất ngờ và ngoài khối công nghiệp hóa.
-Nguyễn-Xuân Nghĩa
Việt Long: Bây giờ ta mới nhìn qua xứ khác. Thưa ông, đồng Yen mà mất giá như vậy thì hậu quả sẽ là thế nào với các nước khác?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin lấy một thí dụ nổi bật nhất là nền kinh tế đứng sau nước Nhật và cũng lệ thuộc mạnh vào xuất khẩu, đó là kinh tế Đức. Sau đó mới tới Nam Hàn và Trung Quốc.


Trong giai đoạn khó khăn sau vụ Tổng suy trầm thì doanh nghiệp Nhật bị mất sức cạnh tranh so với doanh nghiệp Đức, coí thể là mất tới hơn một phần ba trong các năm 2010 đến 2012. Thí dụ như tại Mỹ này thì ta thấy xe hơi của Đức bán chạy hơn xe Nhật. Ngoài lợi thế từ chuyện tiền Nhật lên giá, ta  không quên rằng khi đó Trung Quốc dốc sức đầu tư vào khu vực nội địa là xây dựng hạ tầng cơ sở như cầu đường và gia cư địa ốc hơn là xuất khẩu.

Nhờ vậy mà Đức trở thành đầu máy cứu vãn cả khối Euro. Bây giờ, cả hai lợi thế ấy của kinh tế Đức đều hết vì tiền Nhật mất giá và kinh tế Trung Quốc co cụm, mất khả năng nhập khẩu. Khi kinh tế Đức cũng suy trầm như người ta bắt đầu thấy từ tháng trước thì cả Âu Châu sẽ lâm nạn, nhất là khi các nước phải chấp hành chính sách cải tổ hệ thống ngân hàng theo yêu cầu của Hội đồng Ổn định Tài chính.

Việt Long: Phải chăng vì vậy mà hồi nãy ông mới nói đến một trận chiến ngoại tệ giữa các quốc gia khi tiền Nhật sụt giá?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Quả thật là Ngân hàng trung ương của Âu Châu có phản ứng bơm thêm tiền khiến đồng Euro sẽ mất giá. Nam Hàn cũng vừa có động thái hạ lãi suất, y như trường hợp của Trung Quốc. Ít ai nói ra cái chữ dễ sợ là một trận chiến về ngoại tệ nhưng sự thật thì xứ nào cũng kích thích kinh tế qua các biện pháp tiền tệ hay tín dụng với hậu quả là làm giảm tỷ giá đồng bạc so với các ngoại tệ khác. Các nước Á châu hiện lâm vào hoàn cảnh đó.


Khốn nỗi, người ta không thể xuất khẩu lên cung trăng để phục hồi kinh tế mà phải bán hàng cho nhau. Khi kinh tế trì trệ thì các nước nhập khẩu ít hơn và xứ nào sống nhờ xuất khẩu sẽ bị hại nhất vì dù có làm giảm giá đồng bạc thì cũng chưa thoát hiểm mà còn phải trả hóa đơn cao hơn khi mua hàng xứ khác với đồng tiền mất giá. Đấy cũng là bài toán nan giải cho ngân hàng trung ương của Việt Nam.


Một cách chậm rãi, thế giới đang gặp nguy cơ suy sụp nặng một cách cứ tưởng như bất ngờ và ngoài khối công nghiệp hóa, có chín nền kinh tế lớn bị nhiều bất trắc nhất, đó là Trung Quốc, Liên bang Nga, Brazil, Chile, Argentina, Ấn Độ, Indonesia, Turkey và Nam Phi. Ngoại lệ duy nhất vẫn là Hoa Kỳ dù tiền Mỹ lên giá, và hôm qua Thứ Ba 25, bộ Thương mại Hoa Kỳ đã điều chỉnh đà tăng trưởng theo hướng cao hơn.


Việt Long: Ông vừa nói đến sự kiện là "một cách chậm rãi, thế giới đang gặp nguy cơ suy sụp nặng một cách bất ngờ". Cách đây hơn một năm, trong dịp phân tích Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ bảy tại Hà Nội, ông có nói đến hiện tượng mà các nhà vật lý gọi là "cát truồi", nghĩa là một cách chậm rãi người ta cứ lặng lẽ tích lũy thêm những yếu tố thất quân bình cho tới khi có sự sụp đổ bất ngờ. Phải chăng, chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng đó khi các nước đều cố hạ giá đồng bạc để thoát hiểm mà rốt cuộc lại kéo nhau vào khủng hoảng?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ rằng cái gọi là trật tự kinh tế chính trị của các nước là điều gì đó vô cùng phức tạp vì là kết quả của nhiều động thái khác nhau.
Về trường hợp Việt Nam thì tờ World Affairs vừa có bài bút ký khá dài của nhà báo Michael Totten với đề tựa rất lạ, đó là "Phải chăng đã đến ngày tàn của đảng Cộng sản Việt Nam"? Ra khỏi chuyện Việt Nam thì ta nhớ tới kế hoạch Nga bán năng lượng cho Tầu. Họ tưởng khôn khi nhận tiền bằng đồng Nguyên của Tầu thay vì đô la Mỹ. Nào ngờ dầu thô sụt giá và đồng Nguyên sẽ còn mất giá nữa trong trận chiến ngoại hối sắp tới trong khi đô la lên giá. Kết quả là Nga thu về đồng bạc mất giá trong khi vẫn phải trang trải các khoản nhập khẩu khác bằng tiền Mỹ. Tức là Tổng thống Vladimir Putin có thể hoành hành tại Ukraine và cùng Trung Quốc thì coi thường Hoa Kỳ chứ đang bị thiệt cả hai đầu. Những chuyện như vậy đang chậm rãi xảy ra trước mắt chúng ta mà ít ai chịu để ý!
Việt Long: Xin cảm tạ ông Nghĩa về lời cảnh báo này.


HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC

 

Trung Quốc phản công, Mỹ sẵn sàng chưa?

Việt-Long - RFA
2014-11-27
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
fiery-cross-reef
Không ảnh chụp hoạt động tân tạo của Trung Quốc ở Đá Chữ Thập
Courtesy of IHS

Phía nam, chỉ xâm lấn Việt Nam, vì sao?

Hôm thứ ba Philippines bất chấp  lời kêu gọi của Trung Quốc, đã đưa ra toà xét xử 9 ngư dân Trung Quốc đánh bắt rùa biển trong hải phận tranh chấp, tuyên phạt mỗi người 102 ngàn đô la hoặc phải chịu 6 tháng tù.  Hình như Việt Nam chưa làm như vậy bao giờ, trong khi Trung Quốc vẫn bắt giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam để đòi tiền chuộc. Lý do vì sao?

Có thể là vì giữa Việt Nam với Trung Quốc còn có mối quan hệ giữa hai đảng Cộng sản cầm quyền. Hai nước đã nỗ lực giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải dựa trên mối quan hệ đó hơn là trên căn bản mối quan hệ ngoại giao thông thường.

Khi đã giải quyết một cách khác thường như vậy thì cũng có thể có những cam kết khác thường mà ngoài hai đảng Cộng sản ra không ai được biết.

Nhưng giả sử có sự cam kết như vậy thì vì sao phía Trung Quốc vẫn bắt giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam để đòi tiền chuộc mà không cần một phán quyết tư pháp nào, và Việt Nam phải đóng tiền mới chuộc được dân của mình về?

Thực ra, không thể đoan chắc hai bên có cam kết điều gì và cam kết ra sao; nhưng hành động độc đoán như vậy của Trung Quốc mới cho thấy rõ bản chất hiếp bức nước nhỏ của một xứ chuyên hành xử theo kiểu bá quyền nước lớn. Và qua đó người ta cũng thấy cái thế khó xử của Việt Nam, ở vị thế một nước nhỏ yếu hơn nhiều mà lại nằm vào vị trí “môi hở răng lạnh”, luôn luôn hứng chịu mọi sự áp chế từ hằng ngàn năm nay.

Tuy nhiên, nhìn lại, Miến Điện cũng ở vào vị trí sát cạnh nước lớn Trung Quốc không khác gì Việt Nam, nhưng tại sao Bắc Kinh không hiếp bức được như đối với Việt Nam?

Vị trí địa lý và mối quan hệ giữa Miến Điện với Trung Quốc, so với quan hệ Trung Quốc-Việt Nam xem ra có những điểm khác biệt rất căn bản. Trước hết về yếu tố địa chính trị, Miến Điện không nằm ở vị trí chắn đường thuỷ lộ và vùng biển phía nam của Trung Quốc.

 Địa thế biên giới Miến-Hoa rất hiểm trở, không dễ tiến quân xâm chiếm. Miến Điện vốn là một vương quốc hùng mạnh, nhiều lần có chiến tranh với Thái Lan. Cho đến thế kỷ trước Trung Quốc cũng chưa phát triển được như ngày nay, nên mãi đến nay Trung Quốc mới nhắm vào Miến Điện vì cần đầu tư vào những đập thủy điện ở Miến, và muốn có những căn cứ nhìn ra Ấn Độ Dương.


Trong khi đó giữa Việt Nam với Trung Quốc, ngày nay thì mang nặng mối quan hệ giữa hai đảng Cộng sản, và từ xưa đã có những đặc tính văn hoá, xã hội, văn minh, chủng tộc gần gũi. Dân tộc Lạc Việt vốn thuộc giòng Bách Việt, là chủng tộc phát xuất từ chủng cổ Mã Lai (Indonésien- theo Pháp Ngữ) là giống người giỏi nghề biển, thạo nghề rừng, từng chiếm hữu từ quần đảo Indonesia đến tận bờ nam sông Dương tử.

Chủng Cổ Mã Lai của giòng Bách Việt về sau lại hoà nhập với Đại chủng Á từ phía bắc sông Dương Tử tràn xuống, từ khoảng thời gian cách nay chừng 5 ngàn năm, thành chủng Nam Á. Qua mấy ngàn năm giòng Bách Việt và chủng Nam Á bị dân tộc Trung Hoa từ phía bắc thôn tính và đồng hoá dần, chỉ còn lại xứ Đại Việt giữ được giòng giống và lãnh thổ ở miền Bắc Việt Nam ngày nay, là phần còn lại của xứ Âu lạc sau thời gian bị đẩy lùi xa về phía nam.


 Vào thời kỳ đó các dân tộc ở từ địa giới Chiêm Thành trở đi, cả cao nguyên miền Trung Việt Nam ngày nay với Thuỷ Lục Chân Lạp và Nam Thái, Miến Điện... vẫn thuộc chủng Cổ Mã Lai, mãi về sau Tây nguyên, Chiêm Thành, Thuỷ Chân Lạp mới hoà nhập với dân tộc Việt.

Dân tộc Việt và dân tộc Nam Trung Hoa có nguồn gốc chủng tộc gần gũi như vậy, nên  người Trung Hoa luôn luôn muốn thu phục chủng tộc Việt mà họ coi là dân Bách Việt thoát ly sự đồng hoá. Ngược lại, người Việt không hề coi mình là đồng chủng với Trung Hoa, khi cao nguyên Tây bắc và Trung phần vẫn có cư dân gần như thuần chủng cổ Mã Lai.

Và do đó vào những thời kỳ hưng thịnh và chiến thắng như trong triều đại ngắn ngủi của vua Quang Trung, nhà vua cũng từng ngỏ ý muốn chiếm lại lãnh thổ cổ xưa của Việt tộc từ Lưỡng Quảng rồi lựa thế lấn dần tới bắc Hồ Nam, vì cổ sử của Việt Nam ghi rõ Động Đình Hồ trên sông Dương tử là nơi phát xuất truyền thuyết Lạc Long Quân.

Như vậy ta mới thấy mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc rất tế nhị và cũng rất phức tạp, vừa thân thiết như cùng huyết thống vừa hận thù nhau truyền kiếp, khiến Việt Nam luôn luôn phải chịu cái ách và phải giải cái ách bành trướng xâm lấn của Trung Quốc từ ngày lập nước Văn Lang cách nay mấy ngàn năm.

Không thể chung đường

Dù sao chăng nữa, đó cũng không phải lý do Trung Quốc đòi cưỡng chiếm cả biển Đông, và không phải chỉ biển Đông mà còn cả thị trường châu Á và xa hơn nữa, theo con đường tơ lụa thế kỷ 21 mà Bắc Kinh đang quảng bá.

Muốn thế, Trung Quốc phải tìm mọi cách không chế Nhật Bản và đẩy bật ảnh hưởng kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ ra khỏi châu Á. Có phải nhân lúc Hoa Kỳ vướng bận ở Trung Đông và Ukraine, mà Chủ tịch Tập Cận Bình vừa khai mào cuộc phản công ở hai hội nghị thượng đỉnh APEC và G-20?  Trong khi Hoa Kỳ còn “mắc cạn” với Hiệp định TPP cho thị trường tự do châu Á Thái Bình Dương thì ông Tập Cận Bình tung ra đề nghị về FTAAP tạo thị trường tự do cho cả 21 quốc gia APEC.

 Sau đó ở Brisbane, Australia, hai nhà lãnh đạo Úc-Hoa hân hoan công bố hiệp ước thị trường tự do song phương, trong ý đồ rõ ràng của Bắc Kinh nhằm lôi kéo châu Đại dương ra khỏi mối quan hệ với Hoa Kỳ cùng liên minh quân sự Mỹ-Nhật-Úc-Ấn được cho là đang manh nha hình thành.

Tử những hành động của Trung Quốc, khung cảnh thế giới ngày nay tựa như tình hình thế giới hồi gần giữa thế kỷ 20  khi các thế lực quân sự kinh tế hùng mạnh đi đến chỗ đối đầu nhau, tranh giành thuộc địa, giành thị trường, nguồn nguyên liệu, khởi phát chiến tranh...

Nhưng vẫn còn mối hy vọng rằng ngày nay thế giới đã học được nhiều bài học lớn về chiến tranh trong thế kỷ 20, con người cũng lãnh hội được bài học về tinh thần thực tế, không đặt nặng lý tưởng về chủ nghĩa, hay quốc gia, chủng tộc, tôn giáo.


Tinh thần thực tế là ý hướng theo đuổi cuộc sống hoà bình, thịnh vượng, hạnh phúc bằng mọi cách, mọi giá, không đặt nặng tự ái dân tộc, quốc gia, chỉ nhắm tới phúc lợi kinh tế và cuộc sống hưng vượng. Ngoại trừ những khu vực ở Trung Đông và Phi châu còn bị kích động và ép buộc bởi những kẻ hoạt đầu chính trị, tôn giáo cực đoan, còn hầu hết Âu Á Mỹ chỉ nhắm đến cạnh tranh kinh tế trong hoà bình như mục tiêu hàng đầu.

Tuy vậy, trở lại vấn đề biển Đông, người ta thấy có nhiều điều kém lạc quan vì chính sách bành trướng ngang nhiên của Trung Quốc.
Tuần qua Philippines đã hành động rất tế nhị và khôn khéo. Khi đưa ngư dân Trung Quốc ra tòa xử, Philippines đã giữ được thể diện quốc gia và cho Trung Quốc thấy rõ lập trường bảo vệ chủ quyền, đồng thời khi tuyên phán một bản án để có thể thả ngay các bị cáo, Manila vẫn tỏ ra chấp thuận và thi hành yêu cầu của Bắc Kinh đòi trả tự do vô điều kiện cho ngư dân của họ.

Tuy nhiên, nói đến cạnh tranh hoà bình, người ta thấy những hành động nhằm giải quyết hoà bình của Philippines và Việt Nam không hề ngăn được Trung Quốc trong sách lược vươn cánh tay dài ra tới Trường Sa, nằm trong chiến lược bành trướng xa hơn nữa để thực hiện con đường tơ lụa thế kỷ 21. Trung Quốc đang bồi đắp đá Chữ Thập mà họ chiếm của Việt Nam ở Trường Sa thành căn cứ có sân bay và hải cảng, cùng lúc cũng tân tạo nhiều cồn đá thành đảo lớn và những căn cứ kiên cố ở giữa Trường Sa, sau khi Đài Loan tái tạo đảo Ba Bình thành căn cứ quân sự có đường băng cho máy bay lên xuống.

Cùng lúc, tại Diễn đàn Hương Sơn ở Bắc Kinh, Trung Quốc cao giọng quảng bá cho cái gọi là cấu trúc an ninh mới dựa trên quan niệm "người châu Á lo việc an ninh cho châu Á".

Mùi khói súng?

Song song với màn khai pháo kinh tế thương mại ở thượng đỉnh APEC và G-20, có phải Bắc Kinh đang mở màn trận phản công chiến lược và quyết đẩy Hoa Kỳ ra khỏi châu Á?

Hoa Kỳ dường như đã dự phòng tình huống nay từ khi thực thi chiến lược chuyển trục sang châu Á. Nhưng Bộ trưởng quốc phòng Chuck Hagel lại vừa từ chức sau những trì trệ về an ninh quốc phòng ở Iraq, Afghanistan, giữa lúc Liên Bang Nga quyết tâm giành chiếm Crimea và đông Ukraine. Bộ trưởng Hagel là người thay mặt cho Hoa Kỳ khẳng định chính sách chuyển trục sang châu Á trong những lúc hành pháp Mỹ không rảnh tay để khẳng định lập trường ở những hội nghị liên quan đến an ninh quốc phòng châu Á. Sự ra đi của ông khiến dậy lên mối lo ngại Hoa Kỳ lơ là vói châu Á vì tình hình Trung Đông và Ukraine.

Tuy nhiên, xét lại, chính sách chuyển trục ấy đã được hình thành từ đầu nhiệm kỳ của Tổng thống Obama, nhưng chỉ được chính thức công bố cách nay ba năm. Bộ trưởng Hagel từng thay mặt hành pháp Mỹ khẳng định chính sách chuyển trục, chính điều đó đã nói lên rằng Hoa Kỳ không lúc nào lơ là với châu Á.

Vậy phải chăng nay là lúc Hoa Kỳ điều chỉnh, củng cố chiến lược an ninh quốc phòng để hỗ trợ chính sách kinh tế thương mại nhằm giành thị trường ở châu Á, đối đầu với Trung Quốc, đồng thời củng cố phòng thủ châu Âu?

Mùi khói súng dường như phảng phất đâu đây. Trung Quốc phát triển hùng mạnh và nhanh chóng không khác Đức, Nhật thời xưa, gợi lại ký ức rất mới của loài người về những cuộc chiến tranh giành chiếm thuộc địa và thị trường từ cuối thập niên 1930.  Đức vươn nhanh như Phù Đổng chỉ trong hơn hai thập niên sau thể chiến thứ nhất, rồi khai chiến ở châu Âu, sau đó Nhật tung quân chiếm các thuộc địa của Anh-Pháp-Mỹ ở Đông Nam Á, các hạm đội hàng không mẫu hạm dưới bóng cờ Mặt Trời tung hoành khắp Thái Bình Dương...

Cho đến năm 1945 thì khởi đầu cuộc chiến tranh lạnh, mà Việt Nam là một xứ sở nạn nhân đau thương nhất, mãi đến 1975 mới tắt đi mồi lửa nồi da xáo thịt. Nhưng người Việt lại tiếp tục đổ máu vì Trung Quốc, do hậu quả của những sai lầm tồn tại từ thời chiến tranh lạnh, trong khi mối thương đau của cả dân tộc chưa hề có dấu hiệu ngưng lành. 

Tập Cận Bình muốn áp đặt luật chơi trên trường quốc tế như thế nào ?

Thụy My, theo Le Figaro/ blog Thụy My
Ảnh bên:Tập Cận Bình luôn nuôi mộng vượt qua Mỹ, thành đại cường hàng đầu thế giới
Theo nhật báo Le Figaro, người đứng đầu Trung Quốc đang tập trung quyền lực trong tay nhằm đạt cho được các tham vọng.
 
Lần đầu tiên từ mười năm qua, Bắc Kinh là chủ nhà hội nghị thượng đỉnh APEC vào đầu tháng 11. Chủ tịch Trung Quốc đã sắp đặt mọi thứ sẵn sàng trước hội nghị quan trọng này.

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương gồm 21 nước thành viên ; trong đó có Hoa Kỳ, Nga, Nhật Bản ; chiếm 40% dân số thế giới và 46% trao đổi thương mại toàn cầu. Tập Cận Bình, vốn đã chú tâm củng cố quyền lực từ khi lên làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) kiêm Chủ tịch nước cách đây gần hai năm, ngự trị trong các buổi tiếp tân trong lớp áo của vị hoàng đế đỏ, hiện thân của sức mạnh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.


Trong dịp này, dân Bắc Kinh được nghỉ sáu ngày…để cho bầu trời không còn bị ô nhiễm và không làm ảnh hưởng đến « sự hài hòa » được tuyên truyền lâu nay. Chủ tịch Trung Quốc chú tâm giảm bớt tình hình căng thẳng ở các địa phương, nhằm trưng ra hình ảnh một cường quốc không còn mặc cảm và có tinh thần trách nhiệm.

Từ ba mươi năm qua, Trung Quốc nhấn mạnh đến « sự cất cánh hòa bình ». Từ ngữ này đã biến mất trong các bài diễn văn chính thức. François Godement, giám đốc chương trình Châu Á- Trung Quốc của European Council on Foreign Relation nhận xét : « Bắc Kinh không còn nói về sự hài hòa trong quan hệ quốc tế, cũng như việc dân chủ hóa đối với vai trò của các nước nhỏ ».

Trong ba thập kỷ, Trung Quốc đã làm theo khuyến cáo của Đặng Tiểu Bình, cha đẻ chính sách cải cách kinh tế, « giấu đi những gì sáng chói và gắn bó với những góc tối » trong chính sách đối ngoại. Nay thì Tập Cận Bình muốn đảm bảo « giấc mơ Trung Hoa », đó là sự hùng cường và vị thế vừa tìm lại được.

1) Phải chăng người đứng đầu Trung Quốc từ nay kiểm soát được tất cả các đòn bẩy quyền lực? 

Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương ĐCSTQ được đánh dấu với ý hướng của Tập Cận Bình : nắm lại một nền tư pháp bị suy yếu bởi nạn thông đồng lợi ích ở địa phương. Đây không phải là việc xây dựng một nền tư pháp độc lập, nhưng là việc tập trung hóa, tách rời khỏi ảnh hưởng địa phương, với nét mới là cho phép kháng cáo.

Biện pháp này nằm trong chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình, tăng cường dấu ấn của ông ta lên chế độ. Trong hai năm, ông Tập đã lập ra vô số các ủy ban mà ông ta là chủ tịch : quốc phòng, an ninh, kiểm soát internet, cải cách kinh tế…không có lãnh vực quan trọng nào thoát tầm tay của ông Tập cả.

Tập Cận Bình là lãnh đạo Trung Quốc được báo chí nhà nước nêu tên nhiều nhất kể từ thời người sáng lập chế độ là Mao Trạch Đông đến nay. Nhiều nhà quan sát khẳng định sau Người cầm lái vĩ đại, chưa có lãnh đạo nào khác thâu tóm bằng ấy quyền lực. François Godement xác nhận : « Người Trung Quốc nói rằng mọi con đường đều dẫn đến cá nhân Tập Cận Bình ». Chính sách đối ngoại cũng không thoát khỏi quy luật này, và từ nay được điều phối ở cấp Hội đồng An ninh Quốc gia do ông Tập lãnh đạo.

2) Sự liên minh với nước Nga của ông Putin có là điều đáng ngại cho phương Tây ? 

Ngay từ cuộc gặp đầu tiên với Tổng thống Nga, Tập Cận Bình đã thổ lộ là cá tính hai người có rất nhiều điểm chung…tuy không nói rõ là những điểm gì. Họ cùng sùng bái quyền lực độc đoán, cùng thống nhất với nhau trong việc chối từ các giá trị phương Tây (dân chủ, nhân quyền, tự do), và trong nỗi hoài nhớ đế chế Liên Xô cũ. Trong một bài diễn văn, Tập bày tỏ sự tiếc nuối là không ai ở Liên Xô có can đảm chặn lại sự sụp đổ của hệ thống xô-viết và sự tan rã của đế chế này.

Các biện pháp trừng phạt Matxcơva của phương Tây do cuộc khủng hoảng Ukraina, đã khiến Nga vội gieo mình vào cánh tay Trung Quốc, đang đói năng lượng và nhờ đó có được khách hàng mới. François Godement ghi nhận : « Trung Quốc nhận ra điểm yếu của Liên hiệp châu Âu và Hoa Kỳ trong cuộc khủng hoảng này, thấy đây là cơ hội để thủ lợi về kinh tế mà chẳng mất mát gì cả ». 

Các lãnh đạo phương Tây hiện không cảm thấy là đáng ngại. Một nhà ngoại giao cho rằng đây không phải là « một sự xích lại gần lâu bền. Trung Quốc đã tiến xa hơn so với Nga. Đây là một liên minh ý thức hệ cơ hội, chống lại những gì đến từ phương Tây ». 

3) Trung Quốc vẫn luôn đối đầu với Hoa Kỳ ? 

Tập Cận Bình đã có cuộc gặp song phương với Barack Obama bên lề thượng đỉnh APEC. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trước đó đã tiếp Dương Khiết Trì, cựu Ngoại trưởng này là cố vấn Nhà nước Trung Quốc tại Boston, để làm giảm nhẹ căng thẳng Mỹ-Trung trước cuộc gặp.

Cho rằng đã tiến quá nhanh, Bắc Kinh không còn chấp nhận danh sách các nhà ly khai mà các vị khách Mỹ đưa ra đòi trả tự do. Và các lãnh đạo Trung Quốc cũng không ngần ngại công khai nói lên những bất đồng với Washington. Các chủ đề không thiếu : cuộc khủng hoảng Hồng Kông, nhân quyền, căng thẳng tại Biển Đông và Biển Hoa Đông với các láng giềng Đông Nam Á và Đông Bắc Á, tin tặc.

François Godement khẳng định : « Trung Quốc chấp nhận nguyên tắc đối đầu chiến lược với Hoa Kỳ. Bắc Kinh ý thức được rằng dù tầm mức không bằng Washington, nhưng cho rằng thời gian sẽ đứng về phía mình »…Sự suy yếu của phương Tây làm tăng nhanh tốc độ đi lên của Trung Quốc, mà nền kinh tế có thể gấp đôi so với Hoa Kỳ vào năm 2030 theo một số ước đoán. Đại cường này lúc đó có thể trở nên mờ nhạt hơn.

4) Phải chăng các nước láng giềng châu Á có lý, khi lo sợ tham vọng lãnh thổ của Bắc Kinh ? 

Các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc đáp ứng một mệnh lệnh bên trong của ĐCSTQ : vượt qua tất cả các dạng cạnh tranh nội bộ về dân tộc chủ nghĩa, và sử dụng làm công cụ để thay thế cho ý thức hệ cộng sản quá cố. Từ khi Tập Cận Bình lên ngôi, Trung Quốc đã khiến cho đa số các nước láng giềng ở Biển Đông lo ngại.
 
Tháng 11/2013, Bắc Kinh đã gây ra bão ngoại giao khi đơn phương quy định vùng nhận dạng phòng không trên phần lớn Biển Hoa Đông, bao trùm cả quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang do Nhật Bản kiểm soát nhưng Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền.

Tháng 5/2014, Trung Quốc cho kéo một giàn khoan đến vùng biển Hoàng Sa, Việt Nam, gây ra khủng hoảng nghiêm trọng với Hà Nội. Bắc Kinh liên tục tiến hành các hoạt động xây dựng để khẳng định chủ quyền tại Biển Đông, nơi họ yêu sách đến 90% : khu vực chiến lược này là nơi giao thoa của các tuyến đường hàng hải quan trọng, và một số đảo cũng được Malaysia, Brunei, Việt Nam, Philippines, Đài Loan đòi hỏi chủ quyền. Tháng 10/2014, Bắc Kinh còn xây dựng đường băng trên một trong các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, được đặt tên lại là Yongxing, trở nền điểm tiền tiêu của tham vọng trên biển Trung Quốc.

Lấn dần từng bước theo kiểu tằm ăn dâu, Trung Quốc ghi điểm trong cuộc xung đột lãnh thổ « lịch sử » mà các giải pháp xem ra từ nay trong tầm tay họ. Trong cuộc đấu với Hoa Kỳ, chính quyền Trung Quốc dòm ngó xem Washington có thể bảo vệ các đồng minh của mình đến mức nào.

François Godement nhấn mạnh : « Trung Quốc giảm căng thẳng xuống lúc sắp diễn ra hội nghị thượng đỉnh vừa qua. Bắc Kinh có khả năng giảm tần suất và cường độ xảy ra các sự cố trong những tháng gần đây, chứng tỏ một sự phối hợp ngoại giao và sự nắm quyền rất chặt chẽ của Tập Cận Bình, nhất là đối với quân đội. Các nước trong khu vực hết sức lo ngại». 

5) Trung Quốc có còn cần đến quyền lực mềm để tác động ?

Cho dù triển khai mạng lưới các Viện Khổng tử cùng khắp - công cụ để truyền bá văn hóa Trung Hoa - ngoại giao kinh tế vẫn là đòn bẩy chính của quyền lực mềm Trung Quốc. Với 4.500 tỉ đô la dự trữ ngoại hối, Bắc Kinh có năng lực tấn công khủng khiếp. Đầu tư trực tiếp Trung Quốc ra nước ngoài không ngừng phá các kỷ lục. Năm 2014, con số này có thể vượt ngưỡng 100 tỉ đô la. Bắc Kinh ban bố các ân huệ kinh tế theo lợi ích của chính mình và theo không khí chính trị với các đối tác.

Trung Quốc chủ yếu đầu tư vào châu Phi, tại đây Bắc Kinh đã vượt qua ảnh hưởng của Mỹ. Trao đổi thương mại với châu lục này tăng 30% kể từ năm 2000. Trung Quốc đầu tư nhắm vào các dự án hạ tầng của Nhà nước, mà không quan tâm đến chế độ ấy như thế nào. Mô hình quản lý « không dân chủ » của Bắc Kinh được một số nước hoan nghênh, và cũng được dùng để tự ca ngợi trong nội bộ.

Cũng nhờ châu Phi mà Trung Quốc đảm bảo được nguồn cung năng lượng. Ảnh hưởng Bắc Kinh tại lục địa mà các lá phiếu có trọng lượng khá trong các cuộc bỏ phiếu tại Liên Hiệp Quốc, là một vũ khí đáng ngại để tạo nên liên minh. Trong số 54 nước châu Phi, chỉ có ba nước công nhận Đài Loan (Burkina Faso, Swaziland, Sao Tomé-et-Principe). Nhưng thường là để nói không và hiếm khi có sáng kiến.

Bắc Kinh tỏ ra thận trọng trong việc nhận trách nhiệm quốc tế phù hợp với trọng lượng kinh tế của mình, đóng vai trò người ổn định trong các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới. Trung Quốc chờ đợi đến khi đạt đến sức mạnh tối đa để áp đặt trên trường quốc tế.
  http://vi.rfi.fr/chau-a/20141127-tap-can-binh-muon-ap-dat-luat-choi-tren-truong-quoc-te-nhu-the-nao/

 TQ mở hội thảo cổ vũ khái niệm 'Châu Á là của người Á Châu'
Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân nói rằng 'Các nước Á Châu có trách nhiệm đầu tiên đối với an ninh khu vực của họ'.
Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân nói rằng 'Các nước Á Châu có trách nhiệm đầu tiên đối với an ninh khu vực của họ'.
 
Hôm 23 tháng 11, các nhà phân tích công bố một phúc trình, nói rằng dự án lấp biển quy mô do chính quyền Trung Quốc thực hiện trên một bãi đá ngầm nhỏ bé nằm cách Hoa Lục tới 500 hải lý, sẽ cho phép Trung Quốc đáp phi cơ quân sự tại đó, và như vậy, giúp Bắc Kinh mở rộng phạm vi hoạt động trong Biển Đông.

Phúc trình của giới phân tích được đưa ra giữa lúc một tổ chức có liên kết với Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc chủ trì một hội nghị quốc tế ở Bắc Kinh hôm thứ Sáu và thứ Bảy vừa qua, với mục đích khẳng định lời kêu gọi của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hãy thiết lập một cấu trúc an ninh khu vực mới, được dựa trên khái niệm “Châu Á là của người Á Châu”, một khái niệm nhằm tìm cách giảm thiểu vai trò của Hoa Kỳ trong khu vực.

Lên tiếng tại Hội thảo Hương Sơn diễn ra hôm thứ Sáu và thứ Bảy,  Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân nói rằng “Các nước Á Châu có trách nhiệm đầu tiên đối với an ninh khu vực của họ.”

Trong bài diễn văn quan trọng nhất tại hội thảo này ở Bắc Kinh, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Tướng Thường Vạn Toàn nói rằng Trung Quốc muốn các nước hãy “vượt lên trên lối tư duy của thời Chiến Tranh Lạnh”, ám chỉ những liên minh của Hoa Kỳ trong khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, mà Trung Quốc coi là nhằm mục đích kiềm chế Trung Quốc.


Bản tin lưu ý rằng Tướng Thường Vạn Toàn rất ít khi lên tiếng trước công chúng. Trong bài diễn văn, ông nói rằng Trung Quốc muốn tăng cường các cuộc tham vấn giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, và nói rằng Bắc Kinh muốn củng cố các thủ tục để ứng phó với các cuộc khủng hoảng, qua đó  nhắc đến một thoả thuận mới đây giữa Chủ tịch nước Trung Quốc và Tổng Thống Obama.

Tham gia hội thảo quốc tế này có các chuyên gia an ninh phương Tây, và một số vị tham tán quân sự, kể cả từ Hoa Kỳ, nhưng các giới chức cao cấp nhất trong chính phủ của Tổng Thống Obama đã từ chối lời mời.

Hôm 20 tháng 11, Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ đã thông qua nghị quyết kêu gọi giải quyết hòa bình các cuộc tranh chấp ở Biển Đông và biển Hoa Đông.
Quốc hội Mỹ ra nghị quyết H.Res-714, tái khẳng định sự ủng hộ của chính phủ và quốc hội Mỹ đối với các nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình trong các vùng biển này.
Nghị quyết nhấn mạnh Mỹ ủng hộ và bảo vệ tự do hàng hải và hàng không tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương theo luật pháp quốc tế.
Nguồn: Global Times, AFP
 http://www.voatiengviet.com/content/trung-quoc-mo-hoi-thao-co-vu-khai-niem-chau-a-cua-nguoi-a-chau/2532249.html

CẠNH TRANH TÀU NGẦM TRUNG - MỸ Ở BIỂN ĐÔNG VÀ BIỂN HOA ĐÔNG


 

BienDong.Net: Nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng cường quốc biển, Bắc Kinh đang ra sức phát triển lực lượng tàu ngầm của họ. Địa bàn hoạt động chính của tàu ngầm Trung Quốc hiện nay là Biển Đông và biển Hoa Đông.


Trung Quốc đã xây dựng căn cứ tàu ngầm ở Vịnh Á Long - Tam Á gần đảo Hải Nam, bao gồm cả hầm ngầm. Căn cứ tàu ngầm trong Vịnh Á Long, hướng ra Biển Đông này có thể chứa được cả tàu ngầm hạt nhân chiến lược và tàu ngầm thông thường.


Gần đây, Trung Quốc mới hoàn thành đường ống ngầm để tàu ngầm có thể di chuyển vào trong hầm ngầm tại vùng biển gần đảo Hải Nam, Trung Quốc. Căn cứ theo các hình ảnh chụp từ vệ tinh, các nhà quan sát quân sự cho rằng, tàu ngầm Trung Quốc có thể từ hầm thông qua đường ống ngầm bí mật này xuất kích ra Biển Đông mà không bị các máy bay trinh sát Mỹ đang giám sát các hoạt động quân sự của Trung Quốc tại vùng biển này phát hiện. Vì vậy, mọi động thái liên quan đến tàu ngầm ở khu vực này đều là lĩnh vực có độ bảo mật cao nhất.


Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ trước Quốc hội Mỹ, hải quân Trung Quốc hiện có 56 tàu ngầm tấn công, gồm: 51 tàu động cơ diesel, 5 tàu động cơ hạt nhân (trong đó có 3 tàu động cơ hạt nhân có thể mang tên lửa đạn đạo). Trong năm nay, Trung Quốc sẽ trang bị cho các tàu này tên lửa hành trình Julang - 2 với tầm bắn 740 km, từ Tây Thái Bình Dương có thể bắn tới Hawai, nếu từ miền Trung Thái Bình Dương có thể bắn tới California. Trung Quốc dự kiến sẽ tăng thêm 5 tàu loại này, giúp hải quân Trung Quốc nâng cao đáng kể sức mạnh răn đe hạt nhân trên biển. Những tàu ngầm được trang bị ngư lôi và tên lửa hành trình chống hạm sẽ giúp Bắc Kinh thực hiện mục tiêu chuẩn bị sẵn sàng cho quân đội Trung Quốc chiến đấu và giành thắng lợi trong chiến tranh cục bộ ở thời đại thông tin hiện nay.


Trong trường hợp chiến sự nổ ra, Trung Quốc có thể huy động các tàu ngầm, không quân và sức mạnh tên lửa từ trên bờ và trên biển với hệ thống chỉ huy hiện đại, điều hành các lực lượng, xử lý thông tin từ máy tính tới tình báo. Trung Quốc đã có nhiều tiến bộ trên bình diện tác chiến tàu quân sự, tàu ngầm. Gần đây, Đô đốc Samuel Locklear, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ đã phải thừa nhận về “sự tiến bộ rất đáng kể năng lực tàu ngầm của Trung Quốc. Đồng thời, ông cũng bày tỏ sự không hài lòng về kế hoạch cắt giảm hạm đội tàu ngầm của Mỹ từ 55 chiếc xuống còn 42 chiếc vào năm 2029.


Ông Dean Cheng, chuyên gia quân sự Quỹ Heritage của Mỹ nhận định “tàu ngầm là vũ khí quan trọng nhất, ngoài bom hạt nhân, vì chúng có khả năng tàng hình, ít tiếng ồn và có khả năng xuất hiện ở khắp mọi nơi. Trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột trên biển, tàu ngầm có khả năng sẽ gây đổ máu đầu tiên cho đối phương”.


Việc Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động của tàu ngầm ở Biển Đông và biển Hoa Đông để thực hiện mục tiêu xây dựng cường quốc biển rõ ràng ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích an ninh và việc triển khai chính sách “tái cân bằng chiến lược” ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ. Để đối phó với hạm đội tàu ngầm Trung Quốc đang gia tăng, từ cuối năm 2013, Hải quân Mỹ đã điều động 6 máy bay tuần biển và săn tàu ngầm hiện đại nhất P - 8 Poseidon đến căn cứ Kadena (ở Okinawa Nhật Bản), theo dõi nhất cử nhất động của tàu ngầm Trung Quốc. Đây là hành động của Mỹ đáp trả lại việc Bắc Kinh đơn phương tuyên bố áp đặt vùng nhận diện phòng không ở Hoa Đông. Cả Tokyo và Washington khẳng định họ không có nghĩa vụ phải tuân thủ quy định của Trung Quốc trong khu vực này, trong khi Bắc Kinh đã đe dọa sử dụng vũ lực để duy trì quyền kiểm soát hầu hết biển Hoa Đông.


Quần đảo Okinawa có tầm quan trọng đối với chiến lược của Mỹ bởi nó án ngữ một bề của biển Hoa Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền gay gắt giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Đó cũng là nơi Mỹ có căn cứ gần nhất tới Biển Đông nơi Trung Quốc đang sa vào tranh chấp chủ quyền với một loạt nước Đông Nam Á.


Theo báo The Wall Street Journal (WSJ), chiếc P - 8 có các thiết bị do thám gồm radar, vệ tinh định vị và ống kính hồng ngoại. Hoặc các phao dò sóng sonar hình ống, tổ bay có thể thả xuống biển để nó nổi khoảng 8 giờ dò tìm các vật thể lặn dưới biển. Một số nhà quan sát nhận định P - 8 có khả năng “thay đổi cuộc chơi” ở Biển Đông. P - 8 đạt tốc độ cao 907 km/giờ, có khả năng săn tàu ngầm, tàu nổi, thu thập tin tình báo, trinh sát và giám sát biển.


Máy bay tuần biển P - 8 làm việc với các vệ tinh có nhiệm vụ giám sát các căn cứ tàu ngầm, và thả các máy nghe dưới lòng biển để nghe tiếng tàu ngầm di chuyển, phối hợp với các tàu mặt nước có thiết bị sonar dò tìm dưới nước. Một khi xác định được mục tiêu tiềm tàng, chiếc P - 8 liền thả các phao chìm mang thiết bị dò tìm sonar, sau đó bay vòng vòng trên khu vực này để nhận tín hiệu từ phao chìm truyền lên.


Máy bay P - 8 có bán kính tác chiến 2.222 km và hoạt động 4 giờ trước khi bay trở về căn cứ. Điều có nghĩa từ căn cứ Kadena (ở Okinawa Nhật Bản), máy bay P - 8 có thể bay đến phía nam Biển Đông. Đại tá Mike Parker, Chỉ huy Lực lượng số 72 Hải quân Mỹ xác nhận “khả năng của máy bay cho phép chúng tôi xuống đến tận phía nam của Biển Đông… Chúng tôi vẫn thường xuống đó. Chúng tôi có đủ khả năng xác định vị trí của tàu ngầm, và nếu cần, thông báo cho họ rằng chúng tôi biết họ ở đâu”. Mặt khác, Mỹ đang xúc tiến các bước để cho phép máy bay P - 8 thậm chí hoạt động nhiều thời gian hơn trên Biển Đông. Đó là việc đàm phán thỏa thuận với các nước trong khu vực Biển Đông để cho máy bay P - 8 sử dụng sân bay của các nước này trong các phi vụ dò tìm tàu ngầm.


Với mục tiêu biến Biển Đông thành nơi hoạt động chính của tàu ngầm Trung Quốc trước khi vươn ra các vùng biển xa, dĩ nhiên Trung Quốc không hài lòng với các hoạt động của máy bay P - 8. Tháng 8/2014 đã xảy ra vụ tiêm kích J - 11 của Trung Quốc bay cản đầu một chiếc P - 8 của Hải quân Mỹ ở Bắc Biển Đông. Phía Mỹ nói rằng máy bay P - 8 lúc đó đang hoạt động trong không phận quốc tế, cách đảo Hải Nam hơn 200 km.


Hình ảnh do Mỹ công bố cho thấy chiến đấu cơ của Trung Quốc nhào lộn và khoe vũ khí ngay trước mũi P - 8, phía trên đảo Hải Nam, nơi Trung Quốc có căn cứ tàu ngầm. Phía Trung Quốc khẳng định phi công của họ bay an toàn và yêu cầu Mỹ ngừng các chuyến bay trinh sát gần căn cứ của Trung Quốc.


Những động thái nói trên của Trung Quốc và Mỹ cho thấy một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông. Mỹ hiểu rất rõ rằng việc Trung Quốc sử dụng lực lượng tàu ngầm để khống chế Biển Đông đe dọa nghiêm trọng lợi ích an ninh của Mỹ ở khu vực. Do vậy Mỹ đã phải tăng cường lực lượng để giám sát hoạt động của tàu ngầm Trung Quốc. Việc Trung Quốc gia tăng hoạt động của tàu ngầm ở Biển Đông và biển Hoa Đông và cuộc cạnh tranh Trung - Mỹ trong lĩnh vực tàu ngầm đã thôi thúc các nước khác trong khu vực vào cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực tàu ngầm.


Các chuyến đi của tàu ngầm Trung Quốc qua eo biển Malacca vào Ấn Độ Dương đang gây mối lo ngại cho Ấn Độ. Tháng 8/2014, Ấn Độ đã cho ra mắt tàu chiến chống ngầm tự sản xuất đầu tiên và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã cam kết sẽ tăng cường sự phòng thủ để “không kẻ nào dám coi thường Ấn Độ”. Tháng 9/2014, ngay trước chuyến thăm Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tàu ngầm lớp Song - 039 của Trung Quốc đã ghé thăm một cảng biển ở thủ đô Colombia của Srilanka. Ấn Độ Dương lâu nay được coi là “sân nhà” của Ấn Độ, việc Trung Quốc mở rộng phạm vi hoạt động của tàu ngầm ra Ấn Độ Dương đe dọa trực tiếp lợi ích an ninh của Ấn Độ. Do vậy, Ấn Độ phải tăng cường khả năng chống lại tàu ngầm của mình để đối phó. Ấn Độ đang tăng cường hạm đội 15 tàu ngầm và sẽ dành 13 tỷ USD để chế tạo tàu ngầm trong nước.


Các nước khác trong khu vực cũng tìm cách đối phó. Việt Nam đã tiếp nhận 2 tàu ngầm lớp Kilo từ Nga và sẽ nhận 4 chiếc còn lại từ nay đến năm 2016 trong tổng hợp đồng trị giá 2 tỷ USD ký năm 2009; Indonesia có kế hoạch vận hành 12 tàu ngầm và sẽ mua 2 chiếc từ Công ty đóng tàu Daewoo của Hàn Quốc. Úc đang tìm cách thay thế 6 tàu ngầm diesel lớp Collins cũ, nước này đang cân nhắc việc chi 17,6 tỷ USD để trang bị 12 tàu ngầm mới. Singapore, hiện có 6 tàu ngầm, đã đặt mua thêm 2 chiếc khác từ công ty ThyssenKrupp của Đức. Đài Loan hiện có 4 tàu ngầm, nhưng 2 chiếc đã quá hạn sử dụng và chỉ dùng để huấn luyện. Để đối phó với mối đe dọa thôn tính từ Trung Quốc đại lục, Đài Loan có kế hoạch tự chế tạo các tàu ngầm của riêng mình và đang cần sự trợ giúp của Mỹ trong lĩnh vực này.


Việc Trung Quốc liên tục tăng cường ngân sách quốc phòng, tập trung vào phát triển hải quân, trong đó có lực lượng tàu ngầm không chỉ tạo cớ cho Mỹ tăng cường lực lượng săn tàu ngầm ở khu vực để kiềm chế Trung Quốc mà đã đẩy các nước khu vực vào một cuộc chạy đua vũ trang mới trong lĩnh vực tàu ngầm, gây nguy cơ bất ổn ở khu vực. Mặc dù các nước đang cố gắng tăng cường lực lượng tàu ngầm để đối phó với Trung Quốc, nhưng xem ra chỉ có Mỹ mới đủ khả năng tạo ra sự răn đe với Trung Quốc trong lĩnh vực tàu ngầm để duy trì ổn định ở Biển Đông và biển Hoa Đông./.
BDN

NHỮNG ĐỘNG THÁI MỚI CỦA MỸ LIÊN QUAN ĐẾN BIỂN ĐÔNG 


 
BienDong.Net: Trước những hành động hiếu chiến của Trung Quốc ở Biển Đông trong thời gian qua, nhất là việc Trung Quốc đang ráo riết lấn biển mở rộng các bãi, xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa để xây dựng căn cứ quân sự làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông, gần đây Mỹ có nhiều biểu hiện tỏ ra cứng rắn hơn trên vấn đề Biển Đông.

Trong cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh ngày 12/11/2014, bên lề Hội nghị cấp cao APEC, Tổng Thống Mỹ Barack Obama khẳng định Mỹ có lợi ích cơ bản trong vấn đề tự do hàng hải và tranh chấp lãnh thổ ở khu vực cần được giải quyết hòa bình theo luật pháp quốc tế.

Chỉ 3 ngày sau cuộc gặp với Chủ tịch Tập Cận Bình ở Bắc Kinh, phát biểu tại Đại học Queensland, Australia, bên lề Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 8 Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) ngày 15/11/2014, Tổng thống Barack Obama cảnh báo về nguy cơ xung đột nhãn tiền ở khu vực Châu Á, khi Trung Quốc tranh giành chủ quyền với các nước láng giềng. Ông Obama nhận định vấn đề tranh chấp lãnh thổ, trên các hòn đảo hay bãi đá, có thể bùng phát thành nguy cơ đối đầu. Trong đó, Trung Quốc hiện là quốc gia liên quan đến một loạt tuyên bố chủ quyền gây tranh cãi với các quốc gia Đông Nam Á trên Biển Đông và với Nhật Bản trên biển Hoa Đông. Đồng thời, ông Obama nhấn mạnh Trung Quốc “phải tuân thủ các quy tắc và luật lệ giống như các quốc gia khác, dù trong lĩnh vực thương mại hay các vấn đề trên biển” và phản đối sự ép buộc, đe dọa của các nước lớn đối với các nước nhỏ.

Ngày 20/11/2014, Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ đã thông qua một loạt nghị quyết, trong đó có nghị quyết tái khẳng định sự cần thiết phải tìm giải pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, cho các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông và Biển Hoa Đông. Nghị quyết mang mã số H.Res - 714, do Hạ nghị sỹ đảng Dân chủ Eni Faleomavaega bảo trợ, đã được Ủy ban Đối ngoại Hạ viện nhất trí thông qua, trong đó tái khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ và Quốc hội Mỹ đối với các nỗ lực tìm giải pháp hòa bình và trên cơ sở các nguyên tắc luật pháp quốc tế đã được các nước công nhận đối với các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông và biển Hoa Đông.

Nghị quyết một lần nữa khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ đối với tự do hàng hải, sử dụng các vùng biển và vùng trời ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương theo luật pháp quốc tế. Nghị quyết H.Res - 714 cũng lên án mọi hành động cưỡng chế hoặc sử dụng vũ lực gây cản trở các quyền tự do tại các vùng biển và không phận quốc tế; hối thúc Trung Quốc kiềm chế thực thi quyết định Vùng Nhận dạng phòng không (ADIZ) ở biển Hoa Đông, coi đây là một hành động đi ngược quyền tự do bay qua không phận quốc tế, đồng thời yêu cầu nước này không có các hành động tương tự tại các vùng biển khác của Châu Á - Thái Bình Dương.

Nghị quyết kêu gọi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), các đồng minh, bạn bè của Mỹ và các nước có tranh chấp cùng nhau nỗ lực tìm giải pháp hòa bình cho các tranh chấp, thông qua việc thiết lập một Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Đây là lần đầu tiên Ủy ban đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua một nghị quyết về Biển Đông. Các năm trước, nghị quyết về Biển Đông đã được trình ra Hạ viện Mỹ nhưng chưa được thông qua. Trong năm 2014, đây là lần thứ hai Quốc hội Mỹ thể hiện thái độ mạnh mẽ đối với sự leo thang căng thẳng của Trung Quốc tại các vùng biển tranh chấp. Hồi tháng 7/2014, với toàn bộ phiếu thuận, Thượng viện Mỹ đã nhất trí thông qua Nghị quyết mang mã số S.Res 412 về Biển Đông, phê phán việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển của Việt Nam và yêu cầu Trung Quốc quay lại nguyên trạng trước ngày 01/5/2014.

Cùng thời điểm Nghị quyết H.Res - 714 được thông qua, Ủy ban đánh giá kinh tế và an ninh Mỹ - Trung (USCC) công bố Báo cáo nói rằng các chính sách của Trung Quốc làm căng thẳng quan hệ song phương. Báo cáo chỉ rõ quan hệ an ninh giữa 2 cường quốc thế giới đã xấu đi trong năm 2014 trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông và biển Hoa Đông, các tranh chấp lãnh thổ gia tăng và tiềm năng Mỹ - Trung đối đầu gây thương vong có nguy cơ leo thang thành "một cuộc khủng hoảng chính trị lớn".

Báo cáo nhấn mạnh các máy bay và tàu quân sự Trung Quốc đã đối đầu với máy bay và tàu Mỹ “nhiều lần kể từ cuối năm 2013..., trong đó quân nhân Trung Quốc đã có cách hành xử không an toàn, không chuyên nghiệp và hung hăng có thể dẫn đến thiệt hại về người hay một cuộc khủng hoảng chính trị lớn”.

Báo cáo của USCC kêu gọi Quốc hội Mỹ tăng ngân sách cho Hải quân Mỹ hiện diện ở Châu Á - Thái Bình Dương nhằm duy trì tình trạng sẵn sàng chiến đấu và “đối trọng với năng lực quân sự ngày càng tăng lên của Trung Quốc”.

Ngày 21/11/2014, Washington một lần nữa chính thức lên tiếng trước động thái bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông, kêu gọi Trung Quốc dừng ngay lập tức mọi hành vi xây dựng đảo nhân tạo thông qua phát biểu của Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Mỹ Jeffrey Pool. Ông Pool cho rằng dự án lấp biển xây đảo nhân tạo của Bắc Kinh tại khu vực Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa là một hành động phi pháp trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Ông Pool bày tỏ: “Chúng tôi kêu gọi Trung Quốc dừng ngay kế hoạch xây đảo nhân tạo và thực hiện các sáng kiến ngoại giao nhằm khuyến khích tất cả các bên kiềm chế đối với những hành động tương tự”.

Những động thái trên đây cho thấy Mỹ hết sức lo ngại sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông ảnh hưởng đến việc triển khai chính sách “tái cân bằng chiến lược ở Châu Á - Thái Bình Dương” nói chung và lợi ích của Mỹ ở Biển Đông nói riêng./.
BDN

TỔNG THỐNG MỸ BARACK OBAMA VÀ CHỦ TỊCH TRUNG QUỐC TẬP CẬN BÌNH CÔNG KÍCH NHAU TẠI ÚC 

 

BienDong.Net: Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cùng đến Úc để tham dự Hội nghị G20. Người đứng đầu nước Mỹ và Trung Quốc đã tận dụng cơ hội này để công kích lẫn nhau nhằm tạo lợi thế trong triển khai chiến lược của mình đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và đối với Biển Đông nói riêng. Tổng thống Obama tranh thủ thúc đẩy chính sách “tái cân bằng chiến lược” ở Châu Á – Thái Bình Dương và can dự sâu thêm vào Biển Đông; còn Chủ tịch Tập Cận Bình tranh thủ thúc đẩy “giấc mơ Châu Á – Thái Bình Dương”, thực hiện mục tiêu độc chiếm Biển Đông.

Phát biểu tại Đại học Queensland, Australia, bên lề hội nghị thượng đỉnh lần thứ 8 Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) hôm 15/11/2014, Tổng thống Obama cảnh báo về nguy cơ xung đột nhãn tiền ở khu vực Châu Á, khi Trung Quốc tranh giành chủ quyền với các nước láng giềng. Ông Obama nhận định vấn đề tranh chấp lãnh thổ, trên các hòn đảo hay bãi đá, có thể bùng phát thành nguy cơ đối đầu. Trong đó, Trung Quốc hiện là quốc gia liên quan đến một loạt tuyên bố chủ quyền gây tranh cãi với các quốc gia Đông Nam Á trên Biển Đông và với Nhật Bản trên biển Hoa Đông.

Trong bài phát biểu của mình, ông Obama nhắc lại quan điểm Mỹ hoan nghênh sự lớn mạnh của Trung Quốc, nếu quốc gia này thể hiện được vai trò trách nhiệm và hòa bình trên thế giới. Tuy nhiên, Trung Quốc "phải tuân thủ các quy tắc và luật lệ giống như các quốc gia khác, dù trong lĩnh vực thương mại hay các vấn đề trên biển".

Người đứng đầu Nhà Trắng nhấn mạnh rằng một trật tự an ninh hiệu quả ở Châu Á không thể dựa trên sự ảnh hưởng hay ép buộc, đe dọa của các nước lớn đối với nước nhỏ, mà cần dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau.

Trong bài phát biểu, Tổng thống Obama cam kết rằng Washington sẽ vẫn hiện diện mạnh mẽ trong khu vực; khẳng định chính sách xoay trục của Mỹ tại Châu Á là có thực và vẫn đang được thực hiện. Nói về các lợi ích lâu dài của Mỹ ở khu vực, ông Obama nhấn mạnh: "Các thế hệ người Mỹ đã phục vụ và chết ở đây để người dân Châu Á - Thái Bình Dương có thể sống tự do. Vì vậy, không ai có thể nghi ngờ quyết tâm hay cam kết của chúng tôi đối với các đồng minh trong khu vực"; đồng thời tuyên bố: "Chúng tôi sẽ tiếp tục làm sâu sắc thêm các cam kết của mình mỗi ngày, sử dụng mọi phương thức - ngoại giao, quân sự, kinh tế, sự phát triển, và sức mạnh các giá trị của chúng tôi".

Bằng bài phát biểu của mình tại Đại học Queensland, Australia, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phát đi những cảnh báo mạnh mẽ đối với Trung Quốc. Lời cảnh báo được đưa ra chỉ vài ngày sau chuyến thăm chính thức Bắc Kinh và dự Hội nghị cấp cao APEC đầu tháng 11/2014 cho thấy rõ những bất đồng lớn giữa Washington và Bắc Kinh về các vấn đề an ninh khu vực.

Trong khi đó, Người đứng đầu Trung Quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình lại có những lời lẽ tỏ ra hòa dịu khi phát biểu tại Quốc hội Úc ngày 17/11/2014 ngay sau Hội nghị thượng đỉnh G20. Trong bài phát biểu dài tại Quốc hội Úc, ông Tập nhấn mạnh: “Nhìn nhận lịch sử cho thấy, các nước cố theo đuổi vũ lực trong quá trình phát triển đều thất bại”… “Hòa bình là quý giá và cần được bảo vệ. Quan điểm lâu dài của Trung Quốc là giải quyết hòa bình các tranh chấp với các nước có liên quan, giải quyết tranh chấp về lợi ích hàng hải thông qua đối thoại và tham vấn”.

Các nhà phân tích cho rằng, phát biểu mang tính chất ‘hòa bình’ này của Tập Cận Bình có vẻ trái ngược với những hành động hung hăng hiếu chiến của Bắc Kinh ở Biển Đông và biển Hoa Đông thời gian qua. Trên thực tế thì quân đội Trung Quốc không bác bỏ khả năng xảy ra xung đột trong tranh chấp biển. Ông Tập đã đưa ra những lời biện hộ cho hành động sai trái của Bắc Kinh rằng Trung Quốc “phải luôn đề cao cảnh giác chống lại các yếu tố có thể lấy đi hòa bình” và ưu tiên cho giám sát và phòng thủ ở khu vực Biển Đông, Hoa Đông.

Nhiều nhà quan sát cho rằng với ngân sách quốc phòng ngày càng lớn Trung Quốc đang tự trang bị các khả năng để xử lý vấn đề nhiều hơn là chuyện phòng thủ hay giám sát các biên giới hàng hải, thậm chí có ý kiến cho rằng Trung Quốc đang chuẩn bị cho một cuộc chiến trên biển. Một báo cáo gần đây của Diplomat nhấn mạnh rằng, các lực lượng vũ trang của Trung Quốc đang mở rộng khả năng tấn công đổ bộ, gia tăng can dự vào các tranh chấp lãnh thổ. Một số học giả cứng rắn của Trung Quốc cũng tán thành quan điểm “sức mạnh quân sự quy mô lớn” cần được phát triển để ngăn chặn việc bị “lâm vào thế bị động” bởi các nước khác.

Giữa lúc Trung Quốc đang đẩy mạnh các hoạt động ở Biển Đông để hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò” sai trái, tiến tới độc chiếm Biển Đông như hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam; xây dựng sân bay trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa; lấn biển, mở rộng các bãi ở Hoàng Sa và Trường Sa thì dư luận quốc tế không thể tin vào những lời nói hoa mỹ mà ông Tập Cận Bình nêu ra trong bài phát biểu của mình tại Quốc hội Úc hôm 17/11 vừa qua.

Các nhà phân tích đều cho rằng lời nói và hành động của Trung Quốc không đi đôi với nhau. Ông Tập chính là người đã khẳng định thêm những đánh giá của các nhà phân tích đó là “nói một đằng làm một nẻo”. Từ khi lên nắm quyền ở Bắc Kinh, ông Tập đã thi hành một chính sách hết sức cứng rắn với các nước láng giềng ven biển của Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông, nhưng trong các bài phát biểu thì ông lại dùng những lời hoa mỹ để lừa bịp dư luận.

Ý đồ của ông Tập là muốn dùng những lời nói hoa mỹ này để đẩy Mỹ ra khỏi khu vực nói chung và Biển Đông nói riêng. Cho dù ông Tập cố gắng tìm mọi cách để đánh lừa dư luận, nhưng qua các hành động thực tế của Bắc Kinh thì cộng đồng quốc tế đều thấy rõ “bộ mặt” thật của Bắc Kinh là kẻ bành trướng bá quyền.

Ngược lại, đối với Mỹ, mặc dù ông Obama phát biểu với những lời khá mạnh mẽ nhưng các nước đều thấy rõ vai trò của Mỹ trong việc duy trì hòa bình ổn định khu vực; hầu hết các nước trong khu vực đều ủng hộ chính sách “xoay trục” của Mỹ bởi đây là nhân tố quan trọng kiềm chế và ngăn chặn sự bành trướng trên biển của Trung Quốc.

Lời qua tiếng lại giữa ông chủ Nhà Trắng và ông chủ ở Trung Nam Hải cho thấy cạnh tranh Trung – Mỹ ở khu vực nói chung và ở Biển Đông, biển Hoa Đông sẽ ngày càng gay gắt. Để duy trì vị trí siêu cường số 1 của mình Mỹ cần bảo vệ những lợi ích chiến lược của Mỹ ở khu vực, trong đó có Biển Đông và biển Hoa Đông.

Ý đồ của Trung Quốc muốn gạt Mỹ ra khỏi cuộc chơi ở khu vực khó có thể thực hiện được bởi chính các nước trong khu vực cần đến sự hiện diện của Mỹ để làm nhân tố đối trọng với sự lấn lướt, hăm dọa của Bắc Kinh./.
BDN
 

BienDong.Net

MỸ KHẲNG ĐỊNH CHÍNH SÁCH “XOAY TRỤC” Ở CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ TĂNG CƯỜNG CAN DỰ VÀO BIỂN ĐÔNG


 
BienDong.Net: Trước những đồn đoán hoài nghi về chính sách của Mỹ đối với Châu Á - Thái Bình Dương và đối với Biển Đông, gần đây các nhà lãnh đạo Mỹ liên tiếp khẳng định lại chính sách “tái cân bằng chiến lược” ở Châu Á - Thái Bình Dương nói chung và quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông nói riêng.

Ngày 5/11/2014, phát biểu tại Trường Quan hệ quốc tế Cao cấp Johns Hopkins, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tái khẳng định tầm quan trọng của Châu Á - Thái Bình Dương trong chính sách toàn cầu của Mỹ. Một mặt, ông Kerry coi việc củng cố quan hệ Mỹ - Trung là “một bộ phận chủ chốt” của chính sách “tái cân bằng chiến lược” ở Châu Á - Thái Bình Dương.

Về vấn đề Biển Đông, Ngoại trưởng John Kerry nhấn mạnh: “Mỹ có lập trường mạnh về cách thức mà các yêu sách được theo đuổi và cách thức các tranh chấp được giải quyết”. Tuyên bố này của Ngoại trưởng Mỹ đã xác định một cách rõ ràng hơn quan điểm của Mỹ trên vấn đề Biển Đông từ chỗ “quan tâm” lên thành “có lập trường” đối với cách thức mà các bên theo đuổi các yêu sách ở Biển Đông và cách thức giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Trước đó, trong một phát biểu công khai của mình, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Michael Fuchs ngày 11/7/2014 nói rằng: “Mỹ rất quan tâm đến cách thức mà các nước giải quyết tranh chấp cũng như việc các yêu sách của các nước có phù hợp với luật biển hay không?”. Quan điểm mới của Mỹ được ông John Kerry đưa ra tạo cho Mỹ một khả năng rộng lớn hơn trong can dự vào hành động của các nước liên quan đến đòi hỏi chủ quyền và xử lý tranh chấp ở Biển Đông.

Ngày 15/11/2014, trong bài diễn văn phát biểu tại Đại học Queensland, Australia, bên lề Hội nghị Thượng đỉnh lần 8 Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20), Tổng thống Mỹ Barack Obama khẳng định chính sách “tái cân bằng chiến lược” của Mỹ ở Châu Á - Thái Bình Dương; nhấn mạnh Mỹ là một phần quan trọng đối với thế cân bằng sức mạnh tại Châu Á và Washington mong muốn gia tăng vai trò của mình trong khu vực. “Chúng tôi sẽ tiếp tục tham gia sâu sắc hơn, sử dụng mọi yếu tố thuộc về sức mạnh Mỹ”, ông nói.

Tổng thống Obama khẳng định Mỹ sẽ hợp tác chặt chẽ với các nước nhằm tăng cường vị thế của họ, từ đó, những nước lớn không thể “bắt nạt các quốc gia nhỏ bé” - cụm từ thường dùng trong một số tài liệu tham khảo liên quan đến vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Ông Obama nhấn mạnh Washington đang lên kế hoạch chia sẻ sức mạnh trên biển cùng các nước ở Châu Á, đồng thời, tìm ra điểm chung về lợi ích quân sự với Việt Nam cũng như tăng cường khả năng hàng hải của nước này.

Ông Obama bày tỏ mong muốn tìm ra điểm chung về lợi ích quân sự cũng như tăng cường khả năng hàng hải của Việt Nam và tăng cường quan hệ với các nước Châu Á khác. “Mỹ sẽ tiếp tục mở rộng hợp tác với các các cường quốc đang lên và các nền kinh tế đang lên. Chúng tôi dự định hỗ trợ Việt Nam theo đuổi những cải cách kinh tế và khả năng hàng hải mới. Chúng tôi sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện với Indonesia, nước là ví dụ điển hình cho sự đa dạng... Chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng quan hệ với Malaysia, trung tâm đang phát triển của các doanh nghiệp và của sự sáng tạo. Chúng tôi hỗ trợ cho vai trò lớn hơn ở Châu Á - Thái Bình Dương của Ấn Độ”, ông Obama nói.

Mặt khác, Tổng thống Obama yêu cầu Trung Quốc phải tuân thủ những quy tắc về ứng xử trên Biển Đông với các nước láng giềng. Ông nhấn mạnh: “Chúng tôi sẽ hỗ trợ nỗ lực của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) nhằm đạt đến một bộ quy tắc ứng xử chung với Trung Quốc để tăng cường luật pháp quốc tế trên Biển Đông”. Đồng thời ông Obama tỏ ý muốn các nước lớn như Ấn Độ tăng cường hỗ trợ và đảm nhận những trọng trách lớn hơn tại Châu Á - Thái Bình Dương. Ông Obama nói: “Cùng nhau, chúng ta có thể cải thiện an ninh, duy trì tự do hàng hải và khuyến khích các nước giải quyết tranh chấp lãnh thổ một cách hòa bình”.

Trước đó, ngày 13/11/2014, phát biểu tại Diễn dàn cấp cao Đông Á tổ chức ở Myanmar, Tổng thống Barack Obama yêu cầu các bên thực hiện nghiêm túc đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), yêu cầu chấm dứt các hoạt động lấp biển mở rộng các bãi ở Biển Đông để duy trì nguyên trạng ở Biển Đông.

Đáng chú ý là bên lề Hội nghị G20 tại Úc, ngày 16/11/2014 với sự tham gia của Tổng thống Brack Obama, Hội nghị Thượng đỉnh của 3 nước Mỹ, Nhật, Úc đã ra Tuyên bố lần đầu tiên kêu gọi giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, đồng thời khẳng định việc thúc đẩy tự do, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không ở khu vực./.
BDN