Saturday, November 22, 2014

TƯỚNG QUÂN HAI LÚA

Bùi Tín

Bi kịch ‘đi tắt đón đầu

Tin của trang Diễn Đàn Thế Kỷ về ông 'Hai Lúa' Trần Quốc Hải. Mạng Diễn Đàn Thế Kỷ ngày 12/11/2014 loan tin một nông dân Việt Nam quê ở Tân Châu, Tây Ninh, vừa được Nhà Vua Campuchia Norodom Sihamoni phong danh hiệu “Đại tướng quân”. Đó là ông “Hai Lúa” Trần Quốc Hải.

Cũng theo Diễn Đàn Thế Kỷ, năm 2006 ông Hai Lúa chế tạo một chiếc trực thăng. Công trình này gây tranh cãi một thời rồi bị “xếp xó”. Nhưng ông Hai Lúa không bỏ cuộc. Ông say mê sáng chế, cải tiến các máy nông nghiệp như máy nhổ củ mì, máy làm cỏ đồng ruộng, máy rải phân, cả máy thu hoạch mủ cao su. Tuy nhiên, theo lời ông kể lại cho một phóng viên của báo Một thế giới thì ông bị rắc rối với cả trung ương Hà Nội và địa phương Tây Ninh. Nhà nước khuyên ông: Thôi nhé đừng làm nữa.


Diễn Đàn Thế Kỷ thuật lại rằng thế là ông khăn gói sang Campuchia. Các máy nông nghiệp của ông có khách hàng. Ông còn sửa chữa nhiều máy nông nghiệp cũ của nước bạn. Một hôm ông đi qua một doanh trại bộ đội cơ giới có xe bọc thép đã cũ. Ông quan sát nhiều lần và nảy ra sáng kiến có thể tham gia việc bảo quản, sửa chữa, cải tiến xe bọc thép BRDM2. Phía Campuchia đồng ý. Thế là ông và cậu con trai Trần Quốc Thanh lao vào việc. Chẳng bao lâu 5 chiếc xe bọc thép được cải tiến, tiêu thụ xăng giảm từ 40 lít xuống 25 lít/100km, tháp pháo tự động, Campuchia rất hài lòng, vì từng có chuyên gia quân sự VN sang sửa nhưng không đạt, vẫn trục trặc, hư hỏng.


Campuchia đánh giá cao, quý trọng khả năng hiếm có, tinh thần tìm tòi cải tiến, lối sống giản dị khiêm tốn của ông Trần Quốc Hải, rất trọng thị dành cho ông tiêu chuẩn ăn, ở, đi lại như cán bộ cấp cao của quân đội. Gần đây Nhà Vua còn phong cho ông danh hiệu “Đại tướng quân”. Hiện nay cha con ông đang nhận đóng mới 25 chiếc xe bọc thép cải tiến, nâng 6 bánh lên 8 bánh, có thể di chuyển thuận lợi trên địa hình phức tạp hơn.

Trước đây, hồi tháng 6/2014 mạng Đất Việt thuật lại câu chuyện một nhà phát minh khác không được trọng dụng trên đất nước mình. Đó là kỹ sư Phan Bội Trân, học từ Pháp về. Ông ham mê nghiên cứu về tàu ngầm, mò mẫm làm ra tàu ngầm nhỏ cho ngành thể thao du lịch biển . 

 Chiếc tảu làm thử đẩu tiên đặt tên là Yết Kiêu 1, dài 3 mét 2, nặng 1 tấn, vỏ bằng composite, có ống kính viễn vọng, máy cung cấp khí, có bánh lái ở phía trước, phía sau và chiều ngang, có thể lặn sâu 70 mét trong nửa giờ, tất cả bộ phận đều làm từ trong nước, trừ động cơ phải nhập. Tàu ngầm tự tạo cho thể thao, du lịch biển được thử nghiệm từ năm 2010 ở hồ bơi Trường Trung cấp Kỹ thuật Hải quân Sài Gòn. Kết quả được đánh giá là khả quan, thiết thực. Giá thành chừng 10.000 US$. Sáng chế này cũng không được trong nước hoan nghênh, bị ế.

Nhân các sự kiện trên, đã có nhiều tờ báo mạng và blogger trong nước bình luận vì sao chính quyền trong nước không khuyến khích, còn ghẻ lạnh với các nhà sáng chế phát minh từ nhỏ đến lớn của nước mình. Có blogger đau xót nhắc rằng một nước có 24.000 tiến sỹ, 10.000 giáo sư mà chưa sản xuất nổi một chiếc đinh vít hiện đại đúng tiêu chuẩn.


Ai nấy đều rõ Việt Nam là thuộc nhóm đèn đỏ của toàn thế giới về sáng chế, phát minh, về số lượng các bài nghiên cứu có tính chất tìm tòi, khai phá về khoa học và kỹ thuật.
Về nhà khoa học, ngoài nhà toán học Ngô Bảo Châu còn ai nữa? Đây là hậu quả của lối học vẹt, học thuộc lòng, nhồi sọ các công thức chết, không khuyến khích óc tưởng tượng, suy luận, tự tìm hiểu mọi hiện tượng và sự vật, tò mò tìm ra cái mới.


Trao đổi chuyện này với một nhà báo Pháp chuyên về kinh tế các nước châu Á, ông có cách nhìn sâu và độc đáo. Ông bảo cái nguyên nhân của nguyên nhân là nền kinh tế VN không bình thường, không giống ai. Ông giải thích:
- Bình thường mở đầu cho phát triển kinh tế trong một nước nông nghiệp là phải tập trung vào sự nghiệp công nghiệp hóa, từ tích lũy ban đầu rồi tiến dần lên với quá trình hiện đại hóa. Quá trình đó có khi dài hàng thế kỷ, với sự hình thành của một đội ngũ ngày càng đông công nhân tay nghề cao và cán bộ kỹ thuật chuyên sâu, gắn liền với nền giáo dục cung cấp công nhân và cán bộ kỹ thuật lành nghề, mang tinh thần cải tiến, sáng chế phát minh kết hợp với nền khoa học kỹ thuật không ngừng đi kịp với thế giới.

-  Sau vài chục năm nền sản xuất đạt mức công nghiệp hóa, hiện đại hóa cao, vốn tư bản được tích lũy, tích tụ lớn lên dần mới xuất hiện những nhóm tài phiệt hùng mạnh, những đế chế kinh tê - tài chính đại tỷ phú, như ở phố Wall Street ở New York, Hoa Kỳ, từ đó sinh ra những ngân hàng ngày càng lớn để chuyên kinh doanh tiền tệ, cổ phiếu, chứng khoán.

-  Về mặt thuần sản xuất ra giá trị của cải thì nông dân, công nhân, lao động tri thức - kỹ thuật , nhà kinh doanh… mới thật là cái gốc, là những người làm giàu thêm cho xã hội. Còn giới tài phiệt - ngân hàng chỉ là kẻ lợi dụng ăn bám vào giới lao động nói trên, lấy của người này chuyển cho người khác. Cho nên một chế độ tốt là chế độ chăm lo cái gốc, là ưu tiên cho việc sản xuất ra ngày càng nhiều của cải, đào tạo nhiều công nhân tay nghề cao, nhiều cán bộ kỹ thuật tài giỏi, có nền khoa học giáo dục khai phóng khuyến khích tìm tòi, phát minh, sáng chế phong phú, tạo nên nền sản xuất năng suất không ngừng được nâng cao.

Có vẻ như Bộ Chính trị cầm quyền trong nước đã rất coi nhẹ cái phần gốc nói trên, cho nên năng suất lao động xã hội rất thấp, công nhân chuyên nghiệp thiếu trầm trọng, sáng chế phát minh hầu như vắng bóng, kỹ thuật lạc hậu đến mức tận cùng của khu vực, nền giáo dục vẫn theo kiểu giáo điều nhồi sọ. Trong khi đó ngân hàng nhan nhản: ngân hàng Nhà nước, ngân hàng quân đội, ngân hàng xây dựng, gân hàng thương mại, ngạn hàng ngoại thương, ngân hàng tỉnh, ngân hàng huyện, ngân hàng ngành.

Trong Quốc hội không thấy tiếng nói của nhà khoa học - kỹ thuật, không ai biết bộ trưởng khoa học và công nghệ là ông nào. Quốc hội vẫn bàn nhiều đến ngân sách, tiền lương, đến các khoản nợ, nợ quốc gia, nợ của các cơ sở quốc doanh, nợ của ngành ngân hàng, vẫn chỉ lo các nguồn ODA và FDI bị giảm bớt do nền kinh tế của trong nước vẫn chưa đủ sức tự phát triển bình thường.

Phải chăng đây là “nét sáng tạo độc đáo” của Bộ Chính trị các khóa gần đây, đã tạo nên cho giới lãnh đạo của đảng một cuộc đi tắt, đón đầu hoành tráng, không cần chờ cho nền kinh tế trải qua thời kỳ tư bản tích tụ ban đầu để tạo nên cả một hệ thống ngân hàng hùng hậu với những nhóm tài phiệt - tỷ phú đô-la Mỹ, hầu hết là bà con anh chị em bạn hẩu của các quan chức ở đỉnh cao quyền lực.

Với chiến lược đi tắt đón đầu như thế, thì phải 40 năm nữa thu nhập trung bình của người dân VN mới có thể bằng dân Nam Triều Tiên hiện nay, nhưng ngay bây giờ tài sản của các tỷ phú đô-la VN đâu có thua kém các tỷ phú Nam Triều Tiên hay Thái Lan.

Một bạn Pháp ghé tai tôi: Dân Việt Nam các ông hiền quá. Sự phi lý quái đản của nước Việt Nam không thể trông đợi gì ở cuộc cách mạng hoa hồng hay hoa huệ hay hoa sen mà cần phải có một cú điện chấn (un electro-choc). Phải chịu đau, choáng váng, xáo trộn một chút, mọi người thức tỉnh, giật mình, mới có cuộc đổi đời cần thiết và xứng đáng với dân tộc Việt Nam.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 

Bùi Tín

Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.
http://www.voatiengviet.com/content/bi-kich-di-tat-don-dau/2526459.html

Buồn vui chuyện anh ‘hai lúa’ bán chất xám

Fanpage Thanh Niên

Từ khi đọc những bài viết trên báo về câu chuyện cha con “hai lúa" Trần Quốc Hải ở Tây Ninh đã chế tạo, cải tiến cả xe bọc thép, được Thủ tướng Hunsen và Quốc vương Norodom Sihamoni (Campuchia) ghi nhận, trọng thưởng, tôi thấy lòng buồn, vui lẫn lộn.

Ban đầu, ông Hải được Quốc vương Campuchia tặng bằng khen và gọi ông là "nhà khoa học". Còn Trần Quốc Thanh, con trai ông thì được gọi là "kỹ sư, nhà kỹ thuật". Trong lễ kỷ niệm 25 năm ngày thành lập Lữ đoàn 70 (ngày 13.10 vừa qua) của quân đội Hoàng gia Campuchia, cha con ông Hải lại được Thủ tướng Hunsen trao tặng Huân chương Đại tướng quân do Quốc vương ký ban tặng.

 may-bay-tu-che
Hai chiếc trực thăng tự chế của anh Trần Quốc Hải (Tây Ninh) - Ảnh: Minh Thuận
Hơn thế, bạn còn mời cha con ông Hải sang hẳn Campuchia làm việc với chế độ bổng lộc như một vị tướng: từ biệt thự sang trọng, xe riêng đi lại, 18 hecta đất đã trồng xoài như để ngỏ cửa chờ ông nhận lời… cho đến nhập quốc tịch cho cả gia đình ông Hải để sang hẳn đó nghiên cứu các sáng chế khoa học mà ông ấp ủ.
Nếu chỉ đọc ở một bài báo, có lẽ sẽ không tin nổi câu chuyện trên, nhưng có rất nhiều bài báo cùng viết, khiến cho bản thân ông Hải cũng tưởng mình đang ngủ mơ. Nghe nói, mỗi chiếc xe bọc thép sửa chữa cho quân đội nước bạn, ông Hải được khoán trắng 25.000 USD, cả phụ tùng lẫn công sức. Chế tạo chiến sa bọc thép mới, ông được cấp ngay kinh phí trọn gói 200.000 USD/chiếc. Kết quả là ông đã sửa được cả thảy 11 chiếc, hoán đổi chạy từ xăng sang dầu, phù hợp với địa hình của bạn hơn loại xe vốn có, trong khi biết bao chuyên gia nước ngoài, kể cả Việt Nam, sang đất bạn đều bất lực. Hơn thế, ông còn chế thử nguyên chiếc xe bọc thép mới bằng giá thành đúng như bạn "ra đề”, với niềm vui khó tả.
Được bạn trân trọng và quyết mời sang hẳn để làm việc, song ông bảo: “Tôi chưa nghĩ đến việc sang bên đó. Nói thật, tôi cũng đi nhiều nước rồi. Mong muốn lớn nhất của tôi là phục vụ dân mình, nước mình”.
Cái đáng quý ở những con người như ông là thế. Nhưng nghĩ đi, ngẫm lại, nếu cha con ông có ở trong nước thì ước mơ sáng chế, ước mong làm khoa học của một anh "hai lúa" như ông cũng chẳng có cơ sở nào để hy vọng đổi đời..., nếu chính sách trọng dụng và đãi ngộ của chúng ta không mới, không hấp dẫn.
Được biết, ông Hải cũng từng nổi tiếng gần chục năm trước bởi đã từng mày mò tự chế tạo máy bay trực thăng, sau được Mỹ mua phục vụ triển lãm trong Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại bên đó. Song, có lẽ cũng có nhiều người hiểu lầm từ thông tin này. Thực ra, chế tạo lần đó chưa thành công. Đó mới chỉ là chiếc trực thăng mô hình vì nó không thể bay được, hoặc dù có bay được thì cũng rất không an toàn bởi kỹ thuật chưa đúng, còn nhiều hạn chế, xét ở góc độ khoa học hàng không.
Nhưng có lẽ, với nhà khoa học “hai lúa” này, điều đáng ghi nhận hơn cả là hàng loạt các loại máy nông cụ, phương tiện vận chuyển phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng từ sáng kiến của ông mà ra đời, đã tỏ ra hữu ích.
Ông đã nhận được biết bao lời ngợi khen của đơn vị nọ, ngành kia, thậm chí đi báo cáo thành tích trước nhiều hội nghị. Nhưng cuối cùng, ông chỉ nhận được những lời khuyên nên từ bỏ đam mê cháy bỏng sản xuất máy bay, bởi người khuyên ông biết rõ, với cơ chế này, rất khó có "cửa" cho ông. Chưa kể, còn nhiều hạn chế về kiến thức khoa học tối thiểu trong lĩnh vực hàng không, nên nếu có mày mò chế tạo cũng chẳng đi tới đâu, khi ở một đất nước đã có tới 9.000 giáo sư, phó giáo sư, trên 24.000 tiến sĩ các loại, còn chưa dám nghĩ tới.
Nhân tiện, nói đến những nhân vật sản xuất tàu ngầm của Việt Nam, có lẽ cũng cần nhắc tới ông Phan Bội Trân, một" hai lúa" khác. Ông cũng từng chẳng mấy ai ngó ngàng gì cho đến khi mày mò đóng tàu ngầm với mục đích phục vụ dân sinh. Khi doanh nghiệp nước ngoài đặt mua tàu ngầm để làm du lịch bên Malaysia, ông Trân đã phải buộc lòng để "5 đứa con" tinh thần của mình (ý là 5 con tàu xuất mẻ đầu tiên bán cho nước ngoài) ngậm ngùi xuất ngoại.
Điều đáng nói là phía đối tác cũng mời ông sang sản xuất tại chỗ, coi như là một đề án khoa học công nghệ của Chính phủ nước họ để được hưởng ưu đãi thuế tại chỗ. Nếu chuyện này xảy ra, chúng ta lại sẽ thiệt đơn thiệt kép: vừa không thu được thuế xuất khẩu, vừa lãng phí chất xám, tài năng của công dân ở nước mình.
Qua những câu chuyện đề cập trên, tôi cho rằng, về một góc độ nào đó, cơ chế và chính sách đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ hiện nay của nước nhà đang có cái gì đó không ổn, cần xem lại và cần có một sự chuyển động mạnh mẽ, tích cực hơn trong tư duy của cơ quan quản lý khoa học.
tau-ngam-truong-sa-tu-che


Tàu ngầm tự chế mang tên Trường Sa 01 của doanh nhân Nguyễn Quốc Hòa (Thái Bình) vận hành thử trên sông - Ảnh do
nhân vật cung cấp
Có lẽ, chúng ta cũng không thể đầu tư ngân sách cho những dự án kiểu như "hai lúa" Trần Quốc Hải khi ông có ý tưởng sản xuất máy bay trực thăng, như ông Nguyễn Quốc Hoà sản xuất tàu ngầm... Song, có lẽ cũng nên thoáng hơn khi chúng ta tạo điều kiện, cấp phép cho ông Phan Bội Trân sản xuất tàu ngầm, nếu xã hội có nhu cầu; cho ông Nguyễn Quốc Hoà, doanh nghiệp cơ khí ở Thái Bình - người sản xuất tàu ngầm được phép chạy thử nghiệm ngoài sông lớn hay biển khơi, chứ không nên đùn đẩy, để ông chủ tàu ngầm Trường Sa này buộc phải thử trên hồ nước nông choèn như vừa qua, vì không ai cấp phép cho chạy. 

Tất nhiên, vì sinh mạng của con người, các cơ quan có trách nhiệm cũng nên có biện pháp trợ giúp, động viên ban đầu, để những sáng kiến của người dân được cổ vũ, phát huy, thay vì để họ thí nghiệm một cách đơn độc và tính chuyện rời xa quê hương để “xuất khẩu” chất xám.
Vấn đề nữa, nên hết sức tránh, không thể xem thường những anh "hai lúa" một khi họ có ý tưởng hữu ích và khả thi, có thể ứng dụng trên thực tế sau khi được các cơ quan khoa học thẩm định. 
Trường hợp cha con "hai lúa" Trần Quốc Hải đại tu và đóng mới xe bọc thép cho quân đội bạn Campuchia mới đây là việc rất đáng suy nghĩ. Hãy để ông Trần Quốc Hải thử thách khả năng của mình trên chính những phương tiện, trang thiết bị quân sự của chúng ta vốn đã quá cũ từ trong chiến tranh, hoặc đã hỏng hóc lâu nay, giờ đang phải xếp kho.
Nếu làm được việc này, tôi tin rằng sẽ tiết kiệm được rất nhiều ngân sách chi cho quốc phòng mỗi năm. Tôi tin, ông Hải sẽ không bao giờ tính chuyện ra đi, cho dù được đãi ngộ đặc biệt thế nào đi nữa, nếu như những gì ông vừa bày tỏ, là thật lòng.
Hành Thiện (*)
(*) Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, một nhà báo sống và làm việc tại Hà Nội.


Sẽ ra sao nếu Đại tướng quân Hai Lúa vẫn ở VN?

Không xét về nền tảng hạ tầng kỹ thuật, chỉ xét riêng khía cạnh văn hóa thôi , cũng có thể thấy nhân loại đã có thể thiệt thòi nhiều nếu Edison được sinh ra ở Việt Nam!Những thông tin về hai bố con "Đại tướng quân" hai lúa Trần Quốc Hải, làm tôi liên tưởng tới Thomas Edison và hơn 1000 phát minh được đăng ký bởi ông. Tại sao Edison có thể có và đăng ký một số lượng phát minh, sáng chế lớn đến vậy từ hàng trăm năm trước, trong khi cha con ông Hải lại phải sang tận Campuchia để phát huy khả năng của mình trong bối cảnh Việt Nam đang cần thúc đẩy năng lực sáng tạo của mọi công dân để góp phần chấn hưng đất nước?

Không xét về mặt thể chế, cơ chế - vốn còn đầy rẫy các bất cập và hạn chế trong việc  khuyến khích, nâng đỡ các phát minh ở nước ta lâu nay;  cũng không xét về nền tảng hạ tầng kỹ thuật, chỉ xét riêng khía cạnh văn hóa thôi, cũng có thể thấy nhân loại đã có thể thiệt thòi nhiều nếu Edison được sinh ra ở Việt Nam!

Cần thẳng thắn thừa nhận rằng bên cạnh những nét đẹp ngàn đời của mình, Văn hóa truyền thống của Việt Nam chúng ta cũng chứa đựng những yếu tốkìm hãm tính sáng tạo của con người.


Campuchia, đại tướng, Thomas Edison, khoa học, phát minh
Một tướng lĩnh Campuchia bên chiếc xe thiết giáp do cha con ông Hải chế tạo hoàn chỉnh. Ảnh: LĐO
Trước hết, do được  bắt nguồn từ văn minh lúa nước, người Việt ngày trước có xu thế sống quần cư và lâu dài tại một nơi nhất định. Nếu không có bất trắc gì do chiến tranh hay thiên tai thì đa phần dân chúng chỉ sinh sống tại quê hương bản quán của mình chứ ít chịu đi xa nếu không bị bắt buộc. Câu nói "tha phương cầu thực" hay "sảy nhà ra thất nghiệp" phần nào nói lên tính cách này. Điều kiện sống ít thay đổi đã dần dần làm cho con người ta không phải đối mặt với nhiều thách thức mới và qua đó định hình tính cách "ngại" hay "lười" thay đổi hoặc không có nhu cầu tìm kiếm cái mới.

Đặc biệt kể từ khi Nho giáo được truyền bá và ngấm sâu vào văn hóa của người Việt đã góp phần tạo nên một xã hội Việt Nam ì ạch, ngại và chậm thay đổi, cũng như luôn bị "lỡ nhịp" khi cần đưa ra các quyết sách quan trong cho cộng đồng.

Trong một xã hội như vậy, sẽ rất khó cho ai đó muốn làm cái gì khác đi hay thay đổi, hoặc làm mới những thứ mà họ cho là không còn phù hợp. Đôi lúc những phát minh hay sáng tạo có thể chứng minh tại chỗ tính hợp lý và hiệu quả của nó, nhưng không dễ gì chúng được chấp nhận bởi vì không ai dám chịu trách nhiệm nếu nhỡ may những phát minh này tạo nên các xáo trộn trong xã hội.
Mải miết sống trong một xã hội với bao điều lệ ràng buộc cùng nhiều mất mát cũng như mất kết nối với quá khứ do chiến tranh gây ra, một ngày nhìn lại người Việt bỗng nhận ra rằng mình thực sự không có gì của riêng mình cả. Sống bên cạnh người Hán, chúng ta đã quen mượn các công cụ do họ phát minh để phục vụ đời sống và quản lý xã hội. Khi tiếp xúc với Phương Tây, chúng ta choáng ngợp với các thành tựu nhờ các phát minh, sáng chế của Tây mang lại. Việc được thừa hưởng các thành tựu này (tuy luôn đi sau) đã một lần nữa tạo nên một hệ quả, đó là "chúng ta chỉ cần học của Tây của Tàu đã là quá đủ rồi" và "dù có cố đến đâu, chúng ta cũng không thể quay lại từ đầu cũng như không thể vượt hay hơn họ được".

Tâm lý này, theo tôi có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến tính "sính ngoại" của phần đông người Việt. Một khi đã sính ngoại thì rõ ràng các yếu tố "nội" bị xem là thứ yếu và người ta sẽ sử dụng các "tiêu chí ngoại" để so sánh, đánh giá những gì mà người mình nghĩ ra, làm ra. Tác dụng phụ của việc này chính là chúng ta không tin hoặc không đánh giá cao khả năng của người mình, cộng đồng mình và bất cứ cái gì có "yếu tố Việt" đều có thể bị đặt câu hỏi cùng sự nghi ngờ về tính khả thi. Có thể nói vấn đề cốt lõi ở đây đó chính là chúng ta không tin là người mình có thể làm được những điều lớn lao và thái độ chấp nhận thân phận yếu kém của mình được thể hiện qua câu nói hóm hỉnh của GS. Hoàng Ngọc Hiến, "tại cái nước mình nó thế"!


Ngay từ nhỏ, mọi người đã được dạy dỗ phải nghe lời và đi theo những gì người lớn cho là đúng, là hợp lý. Xã hội Việt có rất ít không gian dành cho những ai nghĩ khác, làm khác. Tính phản vệ rất lớn tiềm ẩn trong mỗi cộng đồng sẽ nhanh chóng giết chết bất kỳ ý nghĩ hay hành động nào bị cho là "chơi trội" hay "trái khoáy". Việc "nể Tây" khiến ai nấy "không phục ta" đang tồn tại trong tâm lý của rất nhiều trí thức Việt ngày trước và cả đến tận hôm nay. Văn hóa "cây đa, cây đề" trong các lĩnh vực khoa học cũng phần nào hạn chế và kìm hãm niềm tin và các ươc mơ khoa học của nhiều người khi nghĩ rằng trước mặt họ đang có một bức tường thành khó vượt qua được.

Giả sử nếu tác giả của Flappy Bird thay vì phát hành game này trên Google Store mà đi thử nghiệm trong nước trước thì có thể trò chơi này đã chết yểu trước khi được thế giới biết đến. Sính ngoại cộng với sự đố kỵ chính là nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng phổ biến trong xã hội ngày nay - đó là "bởi vì đó là các thành tựu của Tây của Tàu chứ không phải của anh, của chị nên tôi không chê bai hay có ý kiến gì; nhưng nếu nó là của Việt thì chắc phải có vấn đề ở đâu đó".

Cùng với sự thay đổi của hoàn cảnh sống, người Việt ngày hôm nay có nhiều mơ ước hơn, nhiều niềm tin và bản lĩnh hơn. Chúng ta không muốn mãi mãi chỉ dừng lại ở mức "thừa hưởng, tận dụng" công ghệ và phát minh của người khác.

Những người như ông Hòa chế tạo tàu ngầm ở Thái Bình, ông Hiển chế tạo máy bay ở Bình Dương cho thấy xã hội ngày nay đang thay đổi và người Việt không còn muốn luôn bị tụt hậu mãi ở phía sau nữa. Bài học về sự thành công của con chim Flappy có thể minh chứng một điều rằng không có gì là quá muộn hoặc không thể nếu chúng ta biết vận dụng đúng và hiệu quả sức mạnh nội tại của mình cộng với lòng khát khao và niềm tin chiến thắng.
Vị trí thứ hai của Hàn Quốc trên bảng xếp hạng chỉ số sáng tạo toàn cầu do tạp chí Bloomberg khảo sát năm 2014 có thể cho chúng ta đôi điều suy nghĩ. Về phần mình, tôi đoán rằng, tuy cùng nằm ở Châu Á, nhưng chắc xã hội của họ người dân cầu thị hơn, tin tưởng vào khả năng của nhau hơn và ở đó, vì đại cục, mỗi người được sử dụng, đánh giá đúng giá trị của họ hơn!
Trần Văn Tuấn

Nghiên cứu và phát triển

Gs Nguyễn Văn Tuấn/ FB Nguyen Tuan
Những gì các ông như Trần Quốc Hải (Tây Ninh), Bùi Hiển (Bình Dương), Nguyễn Văn Thắng (Hà Nội) làm không phải là “nghiên cứu” hiểu theo nghĩa sáng tạo ra tri thức mới. Nhưng họ có tìm đọc tài liệu, nghiền ngẫm trước khi bắt tay vào chế mấy cái máy, kể cả trực thăng. Những việc tìm tài liệu và nghiền ngẫm có thể xem là research.

Thật sự, tôi nghĩ những gì họ làm được có thể nói theo Tây là “development”. Có thể họ chẳng hiểu biết gì về cơ học, toán học, nhưng họ làm theo kiểu trial-and-error, cho đến khi được việc.

Toyota ngày xưa cũng làm như thế. Honda cũng làm như thế. Cách làm trial-and-error đó cũng thường là cách làm của nhà khoa học. Chỉ khác cái là họ không có bằng cấp và làm ở nhà, còn mấy người kia thì có bằng cấp và làm trong lab. Một cái khác nữa là mấy ông nông dân làm thành sản phẩm, còn mấy ông sư sĩ thì không làm thành sản phẩm. 

Tôi nghĩ công chúng bất bình là tại sao VN có quá nhiều giáo sư tiến sĩ mà không có thành tựu gì đáng chú ý. Thật ra thì có đấy (như máy bay không người lái mà báo chí nhại là giống đồ chơi), nhưng mấy thứ họ làm ra chẳng giúp gì cho các bác nông dân và tiểu thương, nên người ta nghĩ: Việc nhỏ mà còn không làm được thì nói chuyện lớn hơn ai dám tin? Thật ra, ngay cả cái máy bay không người lái đó và cả cái VAM-1 và VAM-2 cũng chỉ là lấp ráp từ các bộ phận mua từ nước ngoài. Nhìn như thế thì các sư sĩ VN còn kém hơn các bác Hai Lúa một bậc, bởi vì các bác Hai Lúa ấy tự mình làm và làm từ đầu. Thật ra, nói cho công bằng, bảo mấy bác sư sĩ cầm cái cây hàn gas hay hàn điện đã là quá khả năng của họ rồi! 

Năm ngoái khi đi dự hội nghị bên Paris, tôi yêu cầu được đi xem cái lab khởi đầu của ông Servier (chủ tịch tập đoàn dược toàn cầu Servier) ở Orléan. Khi đến nơi, tôi thấy công ti duy trì cái nhà của ông rất tốt. Cái shed sau nhà của ông cũng chính là lab đầu tiên của ông. Khỏi nói ra, chúng ta cũng biết nó rất đơn sơ và chẳng có gì là tinh vi cả. Ông bắt đầu sự nghiệp như thế, chẳng ai cấm ông không được bào chế hay làm thử nghiệm. Thật ra, một trong những sứ mệnh của Nhà nước là tạo điều kiện và hỗ trợ cho các sáng kiến của người dân, chứ đâu có Nhà nước nào hành tinh này viết trên văn bản là “Thôi, anh đừng sáng chế nữa”. 

Thật ra, đối với dân kĩ nghệ và sáng chế thì họ chẳng cần công bố quốc tế. Họ có ý tưởng và làm ra sản phẩm rồi mới đăng kí bằng sáng chế. Có khi sản phẩm chưa hoàn chỉnh, người ta vẫn đăng kí bằng sáng chế mà chẳng cần công bố quốc tế gì cả. Đối với họ, sản phẩm dùng được trong thực tế là ok, và đó là tiêu chí thành công của họ. Khi người dân cần máy gặt lúa, họ làm ra máy gặt lúa và tăng năng suất lao động, và thế là họ đã thành công. 

Còn nghiên cứu ư? Các bác sư sĩ ngành hàng không đã nghiên cứu gì, đóng góp vào tri thức thế giới ra sao, công bố ở đâu, thì vẫn là những câu hỏi kinh điển. Nói tóm lại, họ chẳng làm nghiên cứu và cũng chẳng có development đúng nghĩa. Vậy thì xin làm ơn đừng khoe mấy cái nhãn “GS TS” ra vì nó chối mắt, chối tai quá, và xấu hổ quá. Thú thật, mỗi lần tôi thấy cái nhãn đó của những người xuất hiện như là chuyên gia để bình luận công trình của người khác là tôi cảm thấy … vomit. Những gì các ông Hai Lúa làm có thể không được xem là nghiên cứu đúng nghĩa, nhưng rõ ràng là có tính innovative (cách tân), chắc chắn innovative hơn các bác sư sĩ. Hiện nay, VN cần ưu tiên cho innovation hơn là cho những dự án viễn vông.

Theo FB Nguyen Tuan
QUÊ CHOA 

No comments: