Saturday, November 29, 2014

HOA KỲ VÀ TRUNG QUỐC

 

Trung Quốc phản công, Mỹ sẵn sàng chưa?

Việt-Long - RFA
2014-11-27
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
fiery-cross-reef
Không ảnh chụp hoạt động tân tạo của Trung Quốc ở Đá Chữ Thập
Courtesy of IHS

Phía nam, chỉ xâm lấn Việt Nam, vì sao?

Hôm thứ ba Philippines bất chấp  lời kêu gọi của Trung Quốc, đã đưa ra toà xét xử 9 ngư dân Trung Quốc đánh bắt rùa biển trong hải phận tranh chấp, tuyên phạt mỗi người 102 ngàn đô la hoặc phải chịu 6 tháng tù.  Hình như Việt Nam chưa làm như vậy bao giờ, trong khi Trung Quốc vẫn bắt giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam để đòi tiền chuộc. Lý do vì sao?

Có thể là vì giữa Việt Nam với Trung Quốc còn có mối quan hệ giữa hai đảng Cộng sản cầm quyền. Hai nước đã nỗ lực giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải dựa trên mối quan hệ đó hơn là trên căn bản mối quan hệ ngoại giao thông thường.

Khi đã giải quyết một cách khác thường như vậy thì cũng có thể có những cam kết khác thường mà ngoài hai đảng Cộng sản ra không ai được biết.

Nhưng giả sử có sự cam kết như vậy thì vì sao phía Trung Quốc vẫn bắt giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam để đòi tiền chuộc mà không cần một phán quyết tư pháp nào, và Việt Nam phải đóng tiền mới chuộc được dân của mình về?

Thực ra, không thể đoan chắc hai bên có cam kết điều gì và cam kết ra sao; nhưng hành động độc đoán như vậy của Trung Quốc mới cho thấy rõ bản chất hiếp bức nước nhỏ của một xứ chuyên hành xử theo kiểu bá quyền nước lớn. Và qua đó người ta cũng thấy cái thế khó xử của Việt Nam, ở vị thế một nước nhỏ yếu hơn nhiều mà lại nằm vào vị trí “môi hở răng lạnh”, luôn luôn hứng chịu mọi sự áp chế từ hằng ngàn năm nay.

Tuy nhiên, nhìn lại, Miến Điện cũng ở vào vị trí sát cạnh nước lớn Trung Quốc không khác gì Việt Nam, nhưng tại sao Bắc Kinh không hiếp bức được như đối với Việt Nam?

Vị trí địa lý và mối quan hệ giữa Miến Điện với Trung Quốc, so với quan hệ Trung Quốc-Việt Nam xem ra có những điểm khác biệt rất căn bản. Trước hết về yếu tố địa chính trị, Miến Điện không nằm ở vị trí chắn đường thuỷ lộ và vùng biển phía nam của Trung Quốc.

 Địa thế biên giới Miến-Hoa rất hiểm trở, không dễ tiến quân xâm chiếm. Miến Điện vốn là một vương quốc hùng mạnh, nhiều lần có chiến tranh với Thái Lan. Cho đến thế kỷ trước Trung Quốc cũng chưa phát triển được như ngày nay, nên mãi đến nay Trung Quốc mới nhắm vào Miến Điện vì cần đầu tư vào những đập thủy điện ở Miến, và muốn có những căn cứ nhìn ra Ấn Độ Dương.


Trong khi đó giữa Việt Nam với Trung Quốc, ngày nay thì mang nặng mối quan hệ giữa hai đảng Cộng sản, và từ xưa đã có những đặc tính văn hoá, xã hội, văn minh, chủng tộc gần gũi. Dân tộc Lạc Việt vốn thuộc giòng Bách Việt, là chủng tộc phát xuất từ chủng cổ Mã Lai (Indonésien- theo Pháp Ngữ) là giống người giỏi nghề biển, thạo nghề rừng, từng chiếm hữu từ quần đảo Indonesia đến tận bờ nam sông Dương tử.

Chủng Cổ Mã Lai của giòng Bách Việt về sau lại hoà nhập với Đại chủng Á từ phía bắc sông Dương Tử tràn xuống, từ khoảng thời gian cách nay chừng 5 ngàn năm, thành chủng Nam Á. Qua mấy ngàn năm giòng Bách Việt và chủng Nam Á bị dân tộc Trung Hoa từ phía bắc thôn tính và đồng hoá dần, chỉ còn lại xứ Đại Việt giữ được giòng giống và lãnh thổ ở miền Bắc Việt Nam ngày nay, là phần còn lại của xứ Âu lạc sau thời gian bị đẩy lùi xa về phía nam.


 Vào thời kỳ đó các dân tộc ở từ địa giới Chiêm Thành trở đi, cả cao nguyên miền Trung Việt Nam ngày nay với Thuỷ Lục Chân Lạp và Nam Thái, Miến Điện... vẫn thuộc chủng Cổ Mã Lai, mãi về sau Tây nguyên, Chiêm Thành, Thuỷ Chân Lạp mới hoà nhập với dân tộc Việt.

Dân tộc Việt và dân tộc Nam Trung Hoa có nguồn gốc chủng tộc gần gũi như vậy, nên  người Trung Hoa luôn luôn muốn thu phục chủng tộc Việt mà họ coi là dân Bách Việt thoát ly sự đồng hoá. Ngược lại, người Việt không hề coi mình là đồng chủng với Trung Hoa, khi cao nguyên Tây bắc và Trung phần vẫn có cư dân gần như thuần chủng cổ Mã Lai.

Và do đó vào những thời kỳ hưng thịnh và chiến thắng như trong triều đại ngắn ngủi của vua Quang Trung, nhà vua cũng từng ngỏ ý muốn chiếm lại lãnh thổ cổ xưa của Việt tộc từ Lưỡng Quảng rồi lựa thế lấn dần tới bắc Hồ Nam, vì cổ sử của Việt Nam ghi rõ Động Đình Hồ trên sông Dương tử là nơi phát xuất truyền thuyết Lạc Long Quân.

Như vậy ta mới thấy mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc rất tế nhị và cũng rất phức tạp, vừa thân thiết như cùng huyết thống vừa hận thù nhau truyền kiếp, khiến Việt Nam luôn luôn phải chịu cái ách và phải giải cái ách bành trướng xâm lấn của Trung Quốc từ ngày lập nước Văn Lang cách nay mấy ngàn năm.

Không thể chung đường

Dù sao chăng nữa, đó cũng không phải lý do Trung Quốc đòi cưỡng chiếm cả biển Đông, và không phải chỉ biển Đông mà còn cả thị trường châu Á và xa hơn nữa, theo con đường tơ lụa thế kỷ 21 mà Bắc Kinh đang quảng bá.

Muốn thế, Trung Quốc phải tìm mọi cách không chế Nhật Bản và đẩy bật ảnh hưởng kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ ra khỏi châu Á. Có phải nhân lúc Hoa Kỳ vướng bận ở Trung Đông và Ukraine, mà Chủ tịch Tập Cận Bình vừa khai mào cuộc phản công ở hai hội nghị thượng đỉnh APEC và G-20?  Trong khi Hoa Kỳ còn “mắc cạn” với Hiệp định TPP cho thị trường tự do châu Á Thái Bình Dương thì ông Tập Cận Bình tung ra đề nghị về FTAAP tạo thị trường tự do cho cả 21 quốc gia APEC.

 Sau đó ở Brisbane, Australia, hai nhà lãnh đạo Úc-Hoa hân hoan công bố hiệp ước thị trường tự do song phương, trong ý đồ rõ ràng của Bắc Kinh nhằm lôi kéo châu Đại dương ra khỏi mối quan hệ với Hoa Kỳ cùng liên minh quân sự Mỹ-Nhật-Úc-Ấn được cho là đang manh nha hình thành.

Tử những hành động của Trung Quốc, khung cảnh thế giới ngày nay tựa như tình hình thế giới hồi gần giữa thế kỷ 20  khi các thế lực quân sự kinh tế hùng mạnh đi đến chỗ đối đầu nhau, tranh giành thuộc địa, giành thị trường, nguồn nguyên liệu, khởi phát chiến tranh...

Nhưng vẫn còn mối hy vọng rằng ngày nay thế giới đã học được nhiều bài học lớn về chiến tranh trong thế kỷ 20, con người cũng lãnh hội được bài học về tinh thần thực tế, không đặt nặng lý tưởng về chủ nghĩa, hay quốc gia, chủng tộc, tôn giáo.


Tinh thần thực tế là ý hướng theo đuổi cuộc sống hoà bình, thịnh vượng, hạnh phúc bằng mọi cách, mọi giá, không đặt nặng tự ái dân tộc, quốc gia, chỉ nhắm tới phúc lợi kinh tế và cuộc sống hưng vượng. Ngoại trừ những khu vực ở Trung Đông và Phi châu còn bị kích động và ép buộc bởi những kẻ hoạt đầu chính trị, tôn giáo cực đoan, còn hầu hết Âu Á Mỹ chỉ nhắm đến cạnh tranh kinh tế trong hoà bình như mục tiêu hàng đầu.

Tuy vậy, trở lại vấn đề biển Đông, người ta thấy có nhiều điều kém lạc quan vì chính sách bành trướng ngang nhiên của Trung Quốc.
Tuần qua Philippines đã hành động rất tế nhị và khôn khéo. Khi đưa ngư dân Trung Quốc ra tòa xử, Philippines đã giữ được thể diện quốc gia và cho Trung Quốc thấy rõ lập trường bảo vệ chủ quyền, đồng thời khi tuyên phán một bản án để có thể thả ngay các bị cáo, Manila vẫn tỏ ra chấp thuận và thi hành yêu cầu của Bắc Kinh đòi trả tự do vô điều kiện cho ngư dân của họ.

Tuy nhiên, nói đến cạnh tranh hoà bình, người ta thấy những hành động nhằm giải quyết hoà bình của Philippines và Việt Nam không hề ngăn được Trung Quốc trong sách lược vươn cánh tay dài ra tới Trường Sa, nằm trong chiến lược bành trướng xa hơn nữa để thực hiện con đường tơ lụa thế kỷ 21. Trung Quốc đang bồi đắp đá Chữ Thập mà họ chiếm của Việt Nam ở Trường Sa thành căn cứ có sân bay và hải cảng, cùng lúc cũng tân tạo nhiều cồn đá thành đảo lớn và những căn cứ kiên cố ở giữa Trường Sa, sau khi Đài Loan tái tạo đảo Ba Bình thành căn cứ quân sự có đường băng cho máy bay lên xuống.

Cùng lúc, tại Diễn đàn Hương Sơn ở Bắc Kinh, Trung Quốc cao giọng quảng bá cho cái gọi là cấu trúc an ninh mới dựa trên quan niệm "người châu Á lo việc an ninh cho châu Á".

Mùi khói súng?

Song song với màn khai pháo kinh tế thương mại ở thượng đỉnh APEC và G-20, có phải Bắc Kinh đang mở màn trận phản công chiến lược và quyết đẩy Hoa Kỳ ra khỏi châu Á?

Hoa Kỳ dường như đã dự phòng tình huống nay từ khi thực thi chiến lược chuyển trục sang châu Á. Nhưng Bộ trưởng quốc phòng Chuck Hagel lại vừa từ chức sau những trì trệ về an ninh quốc phòng ở Iraq, Afghanistan, giữa lúc Liên Bang Nga quyết tâm giành chiếm Crimea và đông Ukraine. Bộ trưởng Hagel là người thay mặt cho Hoa Kỳ khẳng định chính sách chuyển trục sang châu Á trong những lúc hành pháp Mỹ không rảnh tay để khẳng định lập trường ở những hội nghị liên quan đến an ninh quốc phòng châu Á. Sự ra đi của ông khiến dậy lên mối lo ngại Hoa Kỳ lơ là vói châu Á vì tình hình Trung Đông và Ukraine.

Tuy nhiên, xét lại, chính sách chuyển trục ấy đã được hình thành từ đầu nhiệm kỳ của Tổng thống Obama, nhưng chỉ được chính thức công bố cách nay ba năm. Bộ trưởng Hagel từng thay mặt hành pháp Mỹ khẳng định chính sách chuyển trục, chính điều đó đã nói lên rằng Hoa Kỳ không lúc nào lơ là với châu Á.

Vậy phải chăng nay là lúc Hoa Kỳ điều chỉnh, củng cố chiến lược an ninh quốc phòng để hỗ trợ chính sách kinh tế thương mại nhằm giành thị trường ở châu Á, đối đầu với Trung Quốc, đồng thời củng cố phòng thủ châu Âu?

Mùi khói súng dường như phảng phất đâu đây. Trung Quốc phát triển hùng mạnh và nhanh chóng không khác Đức, Nhật thời xưa, gợi lại ký ức rất mới của loài người về những cuộc chiến tranh giành chiếm thuộc địa và thị trường từ cuối thập niên 1930.  Đức vươn nhanh như Phù Đổng chỉ trong hơn hai thập niên sau thể chiến thứ nhất, rồi khai chiến ở châu Âu, sau đó Nhật tung quân chiếm các thuộc địa của Anh-Pháp-Mỹ ở Đông Nam Á, các hạm đội hàng không mẫu hạm dưới bóng cờ Mặt Trời tung hoành khắp Thái Bình Dương...

Cho đến năm 1945 thì khởi đầu cuộc chiến tranh lạnh, mà Việt Nam là một xứ sở nạn nhân đau thương nhất, mãi đến 1975 mới tắt đi mồi lửa nồi da xáo thịt. Nhưng người Việt lại tiếp tục đổ máu vì Trung Quốc, do hậu quả của những sai lầm tồn tại từ thời chiến tranh lạnh, trong khi mối thương đau của cả dân tộc chưa hề có dấu hiệu ngưng lành. 

Tập Cận Bình muốn áp đặt luật chơi trên trường quốc tế như thế nào ?

Thụy My, theo Le Figaro/ blog Thụy My
Ảnh bên:Tập Cận Bình luôn nuôi mộng vượt qua Mỹ, thành đại cường hàng đầu thế giới
Theo nhật báo Le Figaro, người đứng đầu Trung Quốc đang tập trung quyền lực trong tay nhằm đạt cho được các tham vọng.
 
Lần đầu tiên từ mười năm qua, Bắc Kinh là chủ nhà hội nghị thượng đỉnh APEC vào đầu tháng 11. Chủ tịch Trung Quốc đã sắp đặt mọi thứ sẵn sàng trước hội nghị quan trọng này.

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương gồm 21 nước thành viên ; trong đó có Hoa Kỳ, Nga, Nhật Bản ; chiếm 40% dân số thế giới và 46% trao đổi thương mại toàn cầu. Tập Cận Bình, vốn đã chú tâm củng cố quyền lực từ khi lên làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) kiêm Chủ tịch nước cách đây gần hai năm, ngự trị trong các buổi tiếp tân trong lớp áo của vị hoàng đế đỏ, hiện thân của sức mạnh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.


Trong dịp này, dân Bắc Kinh được nghỉ sáu ngày…để cho bầu trời không còn bị ô nhiễm và không làm ảnh hưởng đến « sự hài hòa » được tuyên truyền lâu nay. Chủ tịch Trung Quốc chú tâm giảm bớt tình hình căng thẳng ở các địa phương, nhằm trưng ra hình ảnh một cường quốc không còn mặc cảm và có tinh thần trách nhiệm.

Từ ba mươi năm qua, Trung Quốc nhấn mạnh đến « sự cất cánh hòa bình ». Từ ngữ này đã biến mất trong các bài diễn văn chính thức. François Godement, giám đốc chương trình Châu Á- Trung Quốc của European Council on Foreign Relation nhận xét : « Bắc Kinh không còn nói về sự hài hòa trong quan hệ quốc tế, cũng như việc dân chủ hóa đối với vai trò của các nước nhỏ ».

Trong ba thập kỷ, Trung Quốc đã làm theo khuyến cáo của Đặng Tiểu Bình, cha đẻ chính sách cải cách kinh tế, « giấu đi những gì sáng chói và gắn bó với những góc tối » trong chính sách đối ngoại. Nay thì Tập Cận Bình muốn đảm bảo « giấc mơ Trung Hoa », đó là sự hùng cường và vị thế vừa tìm lại được.

1) Phải chăng người đứng đầu Trung Quốc từ nay kiểm soát được tất cả các đòn bẩy quyền lực? 

Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương ĐCSTQ được đánh dấu với ý hướng của Tập Cận Bình : nắm lại một nền tư pháp bị suy yếu bởi nạn thông đồng lợi ích ở địa phương. Đây không phải là việc xây dựng một nền tư pháp độc lập, nhưng là việc tập trung hóa, tách rời khỏi ảnh hưởng địa phương, với nét mới là cho phép kháng cáo.

Biện pháp này nằm trong chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình, tăng cường dấu ấn của ông ta lên chế độ. Trong hai năm, ông Tập đã lập ra vô số các ủy ban mà ông ta là chủ tịch : quốc phòng, an ninh, kiểm soát internet, cải cách kinh tế…không có lãnh vực quan trọng nào thoát tầm tay của ông Tập cả.

Tập Cận Bình là lãnh đạo Trung Quốc được báo chí nhà nước nêu tên nhiều nhất kể từ thời người sáng lập chế độ là Mao Trạch Đông đến nay. Nhiều nhà quan sát khẳng định sau Người cầm lái vĩ đại, chưa có lãnh đạo nào khác thâu tóm bằng ấy quyền lực. François Godement xác nhận : « Người Trung Quốc nói rằng mọi con đường đều dẫn đến cá nhân Tập Cận Bình ». Chính sách đối ngoại cũng không thoát khỏi quy luật này, và từ nay được điều phối ở cấp Hội đồng An ninh Quốc gia do ông Tập lãnh đạo.

2) Sự liên minh với nước Nga của ông Putin có là điều đáng ngại cho phương Tây ? 

Ngay từ cuộc gặp đầu tiên với Tổng thống Nga, Tập Cận Bình đã thổ lộ là cá tính hai người có rất nhiều điểm chung…tuy không nói rõ là những điểm gì. Họ cùng sùng bái quyền lực độc đoán, cùng thống nhất với nhau trong việc chối từ các giá trị phương Tây (dân chủ, nhân quyền, tự do), và trong nỗi hoài nhớ đế chế Liên Xô cũ. Trong một bài diễn văn, Tập bày tỏ sự tiếc nuối là không ai ở Liên Xô có can đảm chặn lại sự sụp đổ của hệ thống xô-viết và sự tan rã của đế chế này.

Các biện pháp trừng phạt Matxcơva của phương Tây do cuộc khủng hoảng Ukraina, đã khiến Nga vội gieo mình vào cánh tay Trung Quốc, đang đói năng lượng và nhờ đó có được khách hàng mới. François Godement ghi nhận : « Trung Quốc nhận ra điểm yếu của Liên hiệp châu Âu và Hoa Kỳ trong cuộc khủng hoảng này, thấy đây là cơ hội để thủ lợi về kinh tế mà chẳng mất mát gì cả ». 

Các lãnh đạo phương Tây hiện không cảm thấy là đáng ngại. Một nhà ngoại giao cho rằng đây không phải là « một sự xích lại gần lâu bền. Trung Quốc đã tiến xa hơn so với Nga. Đây là một liên minh ý thức hệ cơ hội, chống lại những gì đến từ phương Tây ». 

3) Trung Quốc vẫn luôn đối đầu với Hoa Kỳ ? 

Tập Cận Bình đã có cuộc gặp song phương với Barack Obama bên lề thượng đỉnh APEC. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trước đó đã tiếp Dương Khiết Trì, cựu Ngoại trưởng này là cố vấn Nhà nước Trung Quốc tại Boston, để làm giảm nhẹ căng thẳng Mỹ-Trung trước cuộc gặp.

Cho rằng đã tiến quá nhanh, Bắc Kinh không còn chấp nhận danh sách các nhà ly khai mà các vị khách Mỹ đưa ra đòi trả tự do. Và các lãnh đạo Trung Quốc cũng không ngần ngại công khai nói lên những bất đồng với Washington. Các chủ đề không thiếu : cuộc khủng hoảng Hồng Kông, nhân quyền, căng thẳng tại Biển Đông và Biển Hoa Đông với các láng giềng Đông Nam Á và Đông Bắc Á, tin tặc.

François Godement khẳng định : « Trung Quốc chấp nhận nguyên tắc đối đầu chiến lược với Hoa Kỳ. Bắc Kinh ý thức được rằng dù tầm mức không bằng Washington, nhưng cho rằng thời gian sẽ đứng về phía mình »…Sự suy yếu của phương Tây làm tăng nhanh tốc độ đi lên của Trung Quốc, mà nền kinh tế có thể gấp đôi so với Hoa Kỳ vào năm 2030 theo một số ước đoán. Đại cường này lúc đó có thể trở nên mờ nhạt hơn.

4) Phải chăng các nước láng giềng châu Á có lý, khi lo sợ tham vọng lãnh thổ của Bắc Kinh ? 

Các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc đáp ứng một mệnh lệnh bên trong của ĐCSTQ : vượt qua tất cả các dạng cạnh tranh nội bộ về dân tộc chủ nghĩa, và sử dụng làm công cụ để thay thế cho ý thức hệ cộng sản quá cố. Từ khi Tập Cận Bình lên ngôi, Trung Quốc đã khiến cho đa số các nước láng giềng ở Biển Đông lo ngại.
 
Tháng 11/2013, Bắc Kinh đã gây ra bão ngoại giao khi đơn phương quy định vùng nhận dạng phòng không trên phần lớn Biển Hoa Đông, bao trùm cả quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang do Nhật Bản kiểm soát nhưng Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền.

Tháng 5/2014, Trung Quốc cho kéo một giàn khoan đến vùng biển Hoàng Sa, Việt Nam, gây ra khủng hoảng nghiêm trọng với Hà Nội. Bắc Kinh liên tục tiến hành các hoạt động xây dựng để khẳng định chủ quyền tại Biển Đông, nơi họ yêu sách đến 90% : khu vực chiến lược này là nơi giao thoa của các tuyến đường hàng hải quan trọng, và một số đảo cũng được Malaysia, Brunei, Việt Nam, Philippines, Đài Loan đòi hỏi chủ quyền. Tháng 10/2014, Bắc Kinh còn xây dựng đường băng trên một trong các hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, được đặt tên lại là Yongxing, trở nền điểm tiền tiêu của tham vọng trên biển Trung Quốc.

Lấn dần từng bước theo kiểu tằm ăn dâu, Trung Quốc ghi điểm trong cuộc xung đột lãnh thổ « lịch sử » mà các giải pháp xem ra từ nay trong tầm tay họ. Trong cuộc đấu với Hoa Kỳ, chính quyền Trung Quốc dòm ngó xem Washington có thể bảo vệ các đồng minh của mình đến mức nào.

François Godement nhấn mạnh : « Trung Quốc giảm căng thẳng xuống lúc sắp diễn ra hội nghị thượng đỉnh vừa qua. Bắc Kinh có khả năng giảm tần suất và cường độ xảy ra các sự cố trong những tháng gần đây, chứng tỏ một sự phối hợp ngoại giao và sự nắm quyền rất chặt chẽ của Tập Cận Bình, nhất là đối với quân đội. Các nước trong khu vực hết sức lo ngại». 

5) Trung Quốc có còn cần đến quyền lực mềm để tác động ?

Cho dù triển khai mạng lưới các Viện Khổng tử cùng khắp - công cụ để truyền bá văn hóa Trung Hoa - ngoại giao kinh tế vẫn là đòn bẩy chính của quyền lực mềm Trung Quốc. Với 4.500 tỉ đô la dự trữ ngoại hối, Bắc Kinh có năng lực tấn công khủng khiếp. Đầu tư trực tiếp Trung Quốc ra nước ngoài không ngừng phá các kỷ lục. Năm 2014, con số này có thể vượt ngưỡng 100 tỉ đô la. Bắc Kinh ban bố các ân huệ kinh tế theo lợi ích của chính mình và theo không khí chính trị với các đối tác.

Trung Quốc chủ yếu đầu tư vào châu Phi, tại đây Bắc Kinh đã vượt qua ảnh hưởng của Mỹ. Trao đổi thương mại với châu lục này tăng 30% kể từ năm 2000. Trung Quốc đầu tư nhắm vào các dự án hạ tầng của Nhà nước, mà không quan tâm đến chế độ ấy như thế nào. Mô hình quản lý « không dân chủ » của Bắc Kinh được một số nước hoan nghênh, và cũng được dùng để tự ca ngợi trong nội bộ.

Cũng nhờ châu Phi mà Trung Quốc đảm bảo được nguồn cung năng lượng. Ảnh hưởng Bắc Kinh tại lục địa mà các lá phiếu có trọng lượng khá trong các cuộc bỏ phiếu tại Liên Hiệp Quốc, là một vũ khí đáng ngại để tạo nên liên minh. Trong số 54 nước châu Phi, chỉ có ba nước công nhận Đài Loan (Burkina Faso, Swaziland, Sao Tomé-et-Principe). Nhưng thường là để nói không và hiếm khi có sáng kiến.

Bắc Kinh tỏ ra thận trọng trong việc nhận trách nhiệm quốc tế phù hợp với trọng lượng kinh tế của mình, đóng vai trò người ổn định trong các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới. Trung Quốc chờ đợi đến khi đạt đến sức mạnh tối đa để áp đặt trên trường quốc tế.
  http://vi.rfi.fr/chau-a/20141127-tap-can-binh-muon-ap-dat-luat-choi-tren-truong-quoc-te-nhu-the-nao/

 TQ mở hội thảo cổ vũ khái niệm 'Châu Á là của người Á Châu'
Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân nói rằng 'Các nước Á Châu có trách nhiệm đầu tiên đối với an ninh khu vực của họ'.
Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân nói rằng 'Các nước Á Châu có trách nhiệm đầu tiên đối với an ninh khu vực của họ'.
 
Hôm 23 tháng 11, các nhà phân tích công bố một phúc trình, nói rằng dự án lấp biển quy mô do chính quyền Trung Quốc thực hiện trên một bãi đá ngầm nhỏ bé nằm cách Hoa Lục tới 500 hải lý, sẽ cho phép Trung Quốc đáp phi cơ quân sự tại đó, và như vậy, giúp Bắc Kinh mở rộng phạm vi hoạt động trong Biển Đông.

Phúc trình của giới phân tích được đưa ra giữa lúc một tổ chức có liên kết với Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc chủ trì một hội nghị quốc tế ở Bắc Kinh hôm thứ Sáu và thứ Bảy vừa qua, với mục đích khẳng định lời kêu gọi của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hãy thiết lập một cấu trúc an ninh khu vực mới, được dựa trên khái niệm “Châu Á là của người Á Châu”, một khái niệm nhằm tìm cách giảm thiểu vai trò của Hoa Kỳ trong khu vực.

Lên tiếng tại Hội thảo Hương Sơn diễn ra hôm thứ Sáu và thứ Bảy,  Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân nói rằng “Các nước Á Châu có trách nhiệm đầu tiên đối với an ninh khu vực của họ.”

Trong bài diễn văn quan trọng nhất tại hội thảo này ở Bắc Kinh, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Tướng Thường Vạn Toàn nói rằng Trung Quốc muốn các nước hãy “vượt lên trên lối tư duy của thời Chiến Tranh Lạnh”, ám chỉ những liên minh của Hoa Kỳ trong khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, mà Trung Quốc coi là nhằm mục đích kiềm chế Trung Quốc.


Bản tin lưu ý rằng Tướng Thường Vạn Toàn rất ít khi lên tiếng trước công chúng. Trong bài diễn văn, ông nói rằng Trung Quốc muốn tăng cường các cuộc tham vấn giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, và nói rằng Bắc Kinh muốn củng cố các thủ tục để ứng phó với các cuộc khủng hoảng, qua đó  nhắc đến một thoả thuận mới đây giữa Chủ tịch nước Trung Quốc và Tổng Thống Obama.

Tham gia hội thảo quốc tế này có các chuyên gia an ninh phương Tây, và một số vị tham tán quân sự, kể cả từ Hoa Kỳ, nhưng các giới chức cao cấp nhất trong chính phủ của Tổng Thống Obama đã từ chối lời mời.

Hôm 20 tháng 11, Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ đã thông qua nghị quyết kêu gọi giải quyết hòa bình các cuộc tranh chấp ở Biển Đông và biển Hoa Đông.
Quốc hội Mỹ ra nghị quyết H.Res-714, tái khẳng định sự ủng hộ của chính phủ và quốc hội Mỹ đối với các nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình trong các vùng biển này.
Nghị quyết nhấn mạnh Mỹ ủng hộ và bảo vệ tự do hàng hải và hàng không tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương theo luật pháp quốc tế.
Nguồn: Global Times, AFP
 http://www.voatiengviet.com/content/trung-quoc-mo-hoi-thao-co-vu-khai-niem-chau-a-cua-nguoi-a-chau/2532249.html

CẠNH TRANH TÀU NGẦM TRUNG - MỸ Ở BIỂN ĐÔNG VÀ BIỂN HOA ĐÔNG


 

BienDong.Net: Nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng cường quốc biển, Bắc Kinh đang ra sức phát triển lực lượng tàu ngầm của họ. Địa bàn hoạt động chính của tàu ngầm Trung Quốc hiện nay là Biển Đông và biển Hoa Đông.


Trung Quốc đã xây dựng căn cứ tàu ngầm ở Vịnh Á Long - Tam Á gần đảo Hải Nam, bao gồm cả hầm ngầm. Căn cứ tàu ngầm trong Vịnh Á Long, hướng ra Biển Đông này có thể chứa được cả tàu ngầm hạt nhân chiến lược và tàu ngầm thông thường.


Gần đây, Trung Quốc mới hoàn thành đường ống ngầm để tàu ngầm có thể di chuyển vào trong hầm ngầm tại vùng biển gần đảo Hải Nam, Trung Quốc. Căn cứ theo các hình ảnh chụp từ vệ tinh, các nhà quan sát quân sự cho rằng, tàu ngầm Trung Quốc có thể từ hầm thông qua đường ống ngầm bí mật này xuất kích ra Biển Đông mà không bị các máy bay trinh sát Mỹ đang giám sát các hoạt động quân sự của Trung Quốc tại vùng biển này phát hiện. Vì vậy, mọi động thái liên quan đến tàu ngầm ở khu vực này đều là lĩnh vực có độ bảo mật cao nhất.


Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ trước Quốc hội Mỹ, hải quân Trung Quốc hiện có 56 tàu ngầm tấn công, gồm: 51 tàu động cơ diesel, 5 tàu động cơ hạt nhân (trong đó có 3 tàu động cơ hạt nhân có thể mang tên lửa đạn đạo). Trong năm nay, Trung Quốc sẽ trang bị cho các tàu này tên lửa hành trình Julang - 2 với tầm bắn 740 km, từ Tây Thái Bình Dương có thể bắn tới Hawai, nếu từ miền Trung Thái Bình Dương có thể bắn tới California. Trung Quốc dự kiến sẽ tăng thêm 5 tàu loại này, giúp hải quân Trung Quốc nâng cao đáng kể sức mạnh răn đe hạt nhân trên biển. Những tàu ngầm được trang bị ngư lôi và tên lửa hành trình chống hạm sẽ giúp Bắc Kinh thực hiện mục tiêu chuẩn bị sẵn sàng cho quân đội Trung Quốc chiến đấu và giành thắng lợi trong chiến tranh cục bộ ở thời đại thông tin hiện nay.


Trong trường hợp chiến sự nổ ra, Trung Quốc có thể huy động các tàu ngầm, không quân và sức mạnh tên lửa từ trên bờ và trên biển với hệ thống chỉ huy hiện đại, điều hành các lực lượng, xử lý thông tin từ máy tính tới tình báo. Trung Quốc đã có nhiều tiến bộ trên bình diện tác chiến tàu quân sự, tàu ngầm. Gần đây, Đô đốc Samuel Locklear, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ đã phải thừa nhận về “sự tiến bộ rất đáng kể năng lực tàu ngầm của Trung Quốc. Đồng thời, ông cũng bày tỏ sự không hài lòng về kế hoạch cắt giảm hạm đội tàu ngầm của Mỹ từ 55 chiếc xuống còn 42 chiếc vào năm 2029.


Ông Dean Cheng, chuyên gia quân sự Quỹ Heritage của Mỹ nhận định “tàu ngầm là vũ khí quan trọng nhất, ngoài bom hạt nhân, vì chúng có khả năng tàng hình, ít tiếng ồn và có khả năng xuất hiện ở khắp mọi nơi. Trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột trên biển, tàu ngầm có khả năng sẽ gây đổ máu đầu tiên cho đối phương”.


Việc Trung Quốc đẩy mạnh hoạt động của tàu ngầm ở Biển Đông và biển Hoa Đông để thực hiện mục tiêu xây dựng cường quốc biển rõ ràng ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích an ninh và việc triển khai chính sách “tái cân bằng chiến lược” ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ. Để đối phó với hạm đội tàu ngầm Trung Quốc đang gia tăng, từ cuối năm 2013, Hải quân Mỹ đã điều động 6 máy bay tuần biển và săn tàu ngầm hiện đại nhất P - 8 Poseidon đến căn cứ Kadena (ở Okinawa Nhật Bản), theo dõi nhất cử nhất động của tàu ngầm Trung Quốc. Đây là hành động của Mỹ đáp trả lại việc Bắc Kinh đơn phương tuyên bố áp đặt vùng nhận diện phòng không ở Hoa Đông. Cả Tokyo và Washington khẳng định họ không có nghĩa vụ phải tuân thủ quy định của Trung Quốc trong khu vực này, trong khi Bắc Kinh đã đe dọa sử dụng vũ lực để duy trì quyền kiểm soát hầu hết biển Hoa Đông.


Quần đảo Okinawa có tầm quan trọng đối với chiến lược của Mỹ bởi nó án ngữ một bề của biển Hoa Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền gay gắt giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Đó cũng là nơi Mỹ có căn cứ gần nhất tới Biển Đông nơi Trung Quốc đang sa vào tranh chấp chủ quyền với một loạt nước Đông Nam Á.


Theo báo The Wall Street Journal (WSJ), chiếc P - 8 có các thiết bị do thám gồm radar, vệ tinh định vị và ống kính hồng ngoại. Hoặc các phao dò sóng sonar hình ống, tổ bay có thể thả xuống biển để nó nổi khoảng 8 giờ dò tìm các vật thể lặn dưới biển. Một số nhà quan sát nhận định P - 8 có khả năng “thay đổi cuộc chơi” ở Biển Đông. P - 8 đạt tốc độ cao 907 km/giờ, có khả năng săn tàu ngầm, tàu nổi, thu thập tin tình báo, trinh sát và giám sát biển.


Máy bay tuần biển P - 8 làm việc với các vệ tinh có nhiệm vụ giám sát các căn cứ tàu ngầm, và thả các máy nghe dưới lòng biển để nghe tiếng tàu ngầm di chuyển, phối hợp với các tàu mặt nước có thiết bị sonar dò tìm dưới nước. Một khi xác định được mục tiêu tiềm tàng, chiếc P - 8 liền thả các phao chìm mang thiết bị dò tìm sonar, sau đó bay vòng vòng trên khu vực này để nhận tín hiệu từ phao chìm truyền lên.


Máy bay P - 8 có bán kính tác chiến 2.222 km và hoạt động 4 giờ trước khi bay trở về căn cứ. Điều có nghĩa từ căn cứ Kadena (ở Okinawa Nhật Bản), máy bay P - 8 có thể bay đến phía nam Biển Đông. Đại tá Mike Parker, Chỉ huy Lực lượng số 72 Hải quân Mỹ xác nhận “khả năng của máy bay cho phép chúng tôi xuống đến tận phía nam của Biển Đông… Chúng tôi vẫn thường xuống đó. Chúng tôi có đủ khả năng xác định vị trí của tàu ngầm, và nếu cần, thông báo cho họ rằng chúng tôi biết họ ở đâu”. Mặt khác, Mỹ đang xúc tiến các bước để cho phép máy bay P - 8 thậm chí hoạt động nhiều thời gian hơn trên Biển Đông. Đó là việc đàm phán thỏa thuận với các nước trong khu vực Biển Đông để cho máy bay P - 8 sử dụng sân bay của các nước này trong các phi vụ dò tìm tàu ngầm.


Với mục tiêu biến Biển Đông thành nơi hoạt động chính của tàu ngầm Trung Quốc trước khi vươn ra các vùng biển xa, dĩ nhiên Trung Quốc không hài lòng với các hoạt động của máy bay P - 8. Tháng 8/2014 đã xảy ra vụ tiêm kích J - 11 của Trung Quốc bay cản đầu một chiếc P - 8 của Hải quân Mỹ ở Bắc Biển Đông. Phía Mỹ nói rằng máy bay P - 8 lúc đó đang hoạt động trong không phận quốc tế, cách đảo Hải Nam hơn 200 km.


Hình ảnh do Mỹ công bố cho thấy chiến đấu cơ của Trung Quốc nhào lộn và khoe vũ khí ngay trước mũi P - 8, phía trên đảo Hải Nam, nơi Trung Quốc có căn cứ tàu ngầm. Phía Trung Quốc khẳng định phi công của họ bay an toàn và yêu cầu Mỹ ngừng các chuyến bay trinh sát gần căn cứ của Trung Quốc.


Những động thái nói trên của Trung Quốc và Mỹ cho thấy một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông. Mỹ hiểu rất rõ rằng việc Trung Quốc sử dụng lực lượng tàu ngầm để khống chế Biển Đông đe dọa nghiêm trọng lợi ích an ninh của Mỹ ở khu vực. Do vậy Mỹ đã phải tăng cường lực lượng để giám sát hoạt động của tàu ngầm Trung Quốc. Việc Trung Quốc gia tăng hoạt động của tàu ngầm ở Biển Đông và biển Hoa Đông và cuộc cạnh tranh Trung - Mỹ trong lĩnh vực tàu ngầm đã thôi thúc các nước khác trong khu vực vào cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực tàu ngầm.


Các chuyến đi của tàu ngầm Trung Quốc qua eo biển Malacca vào Ấn Độ Dương đang gây mối lo ngại cho Ấn Độ. Tháng 8/2014, Ấn Độ đã cho ra mắt tàu chiến chống ngầm tự sản xuất đầu tiên và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã cam kết sẽ tăng cường sự phòng thủ để “không kẻ nào dám coi thường Ấn Độ”. Tháng 9/2014, ngay trước chuyến thăm Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tàu ngầm lớp Song - 039 của Trung Quốc đã ghé thăm một cảng biển ở thủ đô Colombia của Srilanka. Ấn Độ Dương lâu nay được coi là “sân nhà” của Ấn Độ, việc Trung Quốc mở rộng phạm vi hoạt động của tàu ngầm ra Ấn Độ Dương đe dọa trực tiếp lợi ích an ninh của Ấn Độ. Do vậy, Ấn Độ phải tăng cường khả năng chống lại tàu ngầm của mình để đối phó. Ấn Độ đang tăng cường hạm đội 15 tàu ngầm và sẽ dành 13 tỷ USD để chế tạo tàu ngầm trong nước.


Các nước khác trong khu vực cũng tìm cách đối phó. Việt Nam đã tiếp nhận 2 tàu ngầm lớp Kilo từ Nga và sẽ nhận 4 chiếc còn lại từ nay đến năm 2016 trong tổng hợp đồng trị giá 2 tỷ USD ký năm 2009; Indonesia có kế hoạch vận hành 12 tàu ngầm và sẽ mua 2 chiếc từ Công ty đóng tàu Daewoo của Hàn Quốc. Úc đang tìm cách thay thế 6 tàu ngầm diesel lớp Collins cũ, nước này đang cân nhắc việc chi 17,6 tỷ USD để trang bị 12 tàu ngầm mới. Singapore, hiện có 6 tàu ngầm, đã đặt mua thêm 2 chiếc khác từ công ty ThyssenKrupp của Đức. Đài Loan hiện có 4 tàu ngầm, nhưng 2 chiếc đã quá hạn sử dụng và chỉ dùng để huấn luyện. Để đối phó với mối đe dọa thôn tính từ Trung Quốc đại lục, Đài Loan có kế hoạch tự chế tạo các tàu ngầm của riêng mình và đang cần sự trợ giúp của Mỹ trong lĩnh vực này.


Việc Trung Quốc liên tục tăng cường ngân sách quốc phòng, tập trung vào phát triển hải quân, trong đó có lực lượng tàu ngầm không chỉ tạo cớ cho Mỹ tăng cường lực lượng săn tàu ngầm ở khu vực để kiềm chế Trung Quốc mà đã đẩy các nước khu vực vào một cuộc chạy đua vũ trang mới trong lĩnh vực tàu ngầm, gây nguy cơ bất ổn ở khu vực. Mặc dù các nước đang cố gắng tăng cường lực lượng tàu ngầm để đối phó với Trung Quốc, nhưng xem ra chỉ có Mỹ mới đủ khả năng tạo ra sự răn đe với Trung Quốc trong lĩnh vực tàu ngầm để duy trì ổn định ở Biển Đông và biển Hoa Đông./.
BDN

NHỮNG ĐỘNG THÁI MỚI CỦA MỸ LIÊN QUAN ĐẾN BIỂN ĐÔNG 


 
BienDong.Net: Trước những hành động hiếu chiến của Trung Quốc ở Biển Đông trong thời gian qua, nhất là việc Trung Quốc đang ráo riết lấn biển mở rộng các bãi, xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa để xây dựng căn cứ quân sự làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông, gần đây Mỹ có nhiều biểu hiện tỏ ra cứng rắn hơn trên vấn đề Biển Đông.

Trong cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh ngày 12/11/2014, bên lề Hội nghị cấp cao APEC, Tổng Thống Mỹ Barack Obama khẳng định Mỹ có lợi ích cơ bản trong vấn đề tự do hàng hải và tranh chấp lãnh thổ ở khu vực cần được giải quyết hòa bình theo luật pháp quốc tế.

Chỉ 3 ngày sau cuộc gặp với Chủ tịch Tập Cận Bình ở Bắc Kinh, phát biểu tại Đại học Queensland, Australia, bên lề Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 8 Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) ngày 15/11/2014, Tổng thống Barack Obama cảnh báo về nguy cơ xung đột nhãn tiền ở khu vực Châu Á, khi Trung Quốc tranh giành chủ quyền với các nước láng giềng. Ông Obama nhận định vấn đề tranh chấp lãnh thổ, trên các hòn đảo hay bãi đá, có thể bùng phát thành nguy cơ đối đầu. Trong đó, Trung Quốc hiện là quốc gia liên quan đến một loạt tuyên bố chủ quyền gây tranh cãi với các quốc gia Đông Nam Á trên Biển Đông và với Nhật Bản trên biển Hoa Đông. Đồng thời, ông Obama nhấn mạnh Trung Quốc “phải tuân thủ các quy tắc và luật lệ giống như các quốc gia khác, dù trong lĩnh vực thương mại hay các vấn đề trên biển” và phản đối sự ép buộc, đe dọa của các nước lớn đối với các nước nhỏ.

Ngày 20/11/2014, Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ đã thông qua một loạt nghị quyết, trong đó có nghị quyết tái khẳng định sự cần thiết phải tìm giải pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, cho các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông và Biển Hoa Đông. Nghị quyết mang mã số H.Res - 714, do Hạ nghị sỹ đảng Dân chủ Eni Faleomavaega bảo trợ, đã được Ủy ban Đối ngoại Hạ viện nhất trí thông qua, trong đó tái khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ và Quốc hội Mỹ đối với các nỗ lực tìm giải pháp hòa bình và trên cơ sở các nguyên tắc luật pháp quốc tế đã được các nước công nhận đối với các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông và biển Hoa Đông.

Nghị quyết một lần nữa khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ đối với tự do hàng hải, sử dụng các vùng biển và vùng trời ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương theo luật pháp quốc tế. Nghị quyết H.Res - 714 cũng lên án mọi hành động cưỡng chế hoặc sử dụng vũ lực gây cản trở các quyền tự do tại các vùng biển và không phận quốc tế; hối thúc Trung Quốc kiềm chế thực thi quyết định Vùng Nhận dạng phòng không (ADIZ) ở biển Hoa Đông, coi đây là một hành động đi ngược quyền tự do bay qua không phận quốc tế, đồng thời yêu cầu nước này không có các hành động tương tự tại các vùng biển khác của Châu Á - Thái Bình Dương.

Nghị quyết kêu gọi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), các đồng minh, bạn bè của Mỹ và các nước có tranh chấp cùng nhau nỗ lực tìm giải pháp hòa bình cho các tranh chấp, thông qua việc thiết lập một Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Đây là lần đầu tiên Ủy ban đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua một nghị quyết về Biển Đông. Các năm trước, nghị quyết về Biển Đông đã được trình ra Hạ viện Mỹ nhưng chưa được thông qua. Trong năm 2014, đây là lần thứ hai Quốc hội Mỹ thể hiện thái độ mạnh mẽ đối với sự leo thang căng thẳng của Trung Quốc tại các vùng biển tranh chấp. Hồi tháng 7/2014, với toàn bộ phiếu thuận, Thượng viện Mỹ đã nhất trí thông qua Nghị quyết mang mã số S.Res 412 về Biển Đông, phê phán việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển của Việt Nam và yêu cầu Trung Quốc quay lại nguyên trạng trước ngày 01/5/2014.

Cùng thời điểm Nghị quyết H.Res - 714 được thông qua, Ủy ban đánh giá kinh tế và an ninh Mỹ - Trung (USCC) công bố Báo cáo nói rằng các chính sách của Trung Quốc làm căng thẳng quan hệ song phương. Báo cáo chỉ rõ quan hệ an ninh giữa 2 cường quốc thế giới đã xấu đi trong năm 2014 trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông và biển Hoa Đông, các tranh chấp lãnh thổ gia tăng và tiềm năng Mỹ - Trung đối đầu gây thương vong có nguy cơ leo thang thành "một cuộc khủng hoảng chính trị lớn".

Báo cáo nhấn mạnh các máy bay và tàu quân sự Trung Quốc đã đối đầu với máy bay và tàu Mỹ “nhiều lần kể từ cuối năm 2013..., trong đó quân nhân Trung Quốc đã có cách hành xử không an toàn, không chuyên nghiệp và hung hăng có thể dẫn đến thiệt hại về người hay một cuộc khủng hoảng chính trị lớn”.

Báo cáo của USCC kêu gọi Quốc hội Mỹ tăng ngân sách cho Hải quân Mỹ hiện diện ở Châu Á - Thái Bình Dương nhằm duy trì tình trạng sẵn sàng chiến đấu và “đối trọng với năng lực quân sự ngày càng tăng lên của Trung Quốc”.

Ngày 21/11/2014, Washington một lần nữa chính thức lên tiếng trước động thái bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông, kêu gọi Trung Quốc dừng ngay lập tức mọi hành vi xây dựng đảo nhân tạo thông qua phát biểu của Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Mỹ Jeffrey Pool. Ông Pool cho rằng dự án lấp biển xây đảo nhân tạo của Bắc Kinh tại khu vực Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa là một hành động phi pháp trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Ông Pool bày tỏ: “Chúng tôi kêu gọi Trung Quốc dừng ngay kế hoạch xây đảo nhân tạo và thực hiện các sáng kiến ngoại giao nhằm khuyến khích tất cả các bên kiềm chế đối với những hành động tương tự”.

Những động thái trên đây cho thấy Mỹ hết sức lo ngại sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông ảnh hưởng đến việc triển khai chính sách “tái cân bằng chiến lược ở Châu Á - Thái Bình Dương” nói chung và lợi ích của Mỹ ở Biển Đông nói riêng./.
BDN

TỔNG THỐNG MỸ BARACK OBAMA VÀ CHỦ TỊCH TRUNG QUỐC TẬP CẬN BÌNH CÔNG KÍCH NHAU TẠI ÚC 

 

BienDong.Net: Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cùng đến Úc để tham dự Hội nghị G20. Người đứng đầu nước Mỹ và Trung Quốc đã tận dụng cơ hội này để công kích lẫn nhau nhằm tạo lợi thế trong triển khai chiến lược của mình đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và đối với Biển Đông nói riêng. Tổng thống Obama tranh thủ thúc đẩy chính sách “tái cân bằng chiến lược” ở Châu Á – Thái Bình Dương và can dự sâu thêm vào Biển Đông; còn Chủ tịch Tập Cận Bình tranh thủ thúc đẩy “giấc mơ Châu Á – Thái Bình Dương”, thực hiện mục tiêu độc chiếm Biển Đông.

Phát biểu tại Đại học Queensland, Australia, bên lề hội nghị thượng đỉnh lần thứ 8 Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) hôm 15/11/2014, Tổng thống Obama cảnh báo về nguy cơ xung đột nhãn tiền ở khu vực Châu Á, khi Trung Quốc tranh giành chủ quyền với các nước láng giềng. Ông Obama nhận định vấn đề tranh chấp lãnh thổ, trên các hòn đảo hay bãi đá, có thể bùng phát thành nguy cơ đối đầu. Trong đó, Trung Quốc hiện là quốc gia liên quan đến một loạt tuyên bố chủ quyền gây tranh cãi với các quốc gia Đông Nam Á trên Biển Đông và với Nhật Bản trên biển Hoa Đông.

Trong bài phát biểu của mình, ông Obama nhắc lại quan điểm Mỹ hoan nghênh sự lớn mạnh của Trung Quốc, nếu quốc gia này thể hiện được vai trò trách nhiệm và hòa bình trên thế giới. Tuy nhiên, Trung Quốc "phải tuân thủ các quy tắc và luật lệ giống như các quốc gia khác, dù trong lĩnh vực thương mại hay các vấn đề trên biển".

Người đứng đầu Nhà Trắng nhấn mạnh rằng một trật tự an ninh hiệu quả ở Châu Á không thể dựa trên sự ảnh hưởng hay ép buộc, đe dọa của các nước lớn đối với nước nhỏ, mà cần dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau.

Trong bài phát biểu, Tổng thống Obama cam kết rằng Washington sẽ vẫn hiện diện mạnh mẽ trong khu vực; khẳng định chính sách xoay trục của Mỹ tại Châu Á là có thực và vẫn đang được thực hiện. Nói về các lợi ích lâu dài của Mỹ ở khu vực, ông Obama nhấn mạnh: "Các thế hệ người Mỹ đã phục vụ và chết ở đây để người dân Châu Á - Thái Bình Dương có thể sống tự do. Vì vậy, không ai có thể nghi ngờ quyết tâm hay cam kết của chúng tôi đối với các đồng minh trong khu vực"; đồng thời tuyên bố: "Chúng tôi sẽ tiếp tục làm sâu sắc thêm các cam kết của mình mỗi ngày, sử dụng mọi phương thức - ngoại giao, quân sự, kinh tế, sự phát triển, và sức mạnh các giá trị của chúng tôi".

Bằng bài phát biểu của mình tại Đại học Queensland, Australia, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phát đi những cảnh báo mạnh mẽ đối với Trung Quốc. Lời cảnh báo được đưa ra chỉ vài ngày sau chuyến thăm chính thức Bắc Kinh và dự Hội nghị cấp cao APEC đầu tháng 11/2014 cho thấy rõ những bất đồng lớn giữa Washington và Bắc Kinh về các vấn đề an ninh khu vực.

Trong khi đó, Người đứng đầu Trung Quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình lại có những lời lẽ tỏ ra hòa dịu khi phát biểu tại Quốc hội Úc ngày 17/11/2014 ngay sau Hội nghị thượng đỉnh G20. Trong bài phát biểu dài tại Quốc hội Úc, ông Tập nhấn mạnh: “Nhìn nhận lịch sử cho thấy, các nước cố theo đuổi vũ lực trong quá trình phát triển đều thất bại”… “Hòa bình là quý giá và cần được bảo vệ. Quan điểm lâu dài của Trung Quốc là giải quyết hòa bình các tranh chấp với các nước có liên quan, giải quyết tranh chấp về lợi ích hàng hải thông qua đối thoại và tham vấn”.

Các nhà phân tích cho rằng, phát biểu mang tính chất ‘hòa bình’ này của Tập Cận Bình có vẻ trái ngược với những hành động hung hăng hiếu chiến của Bắc Kinh ở Biển Đông và biển Hoa Đông thời gian qua. Trên thực tế thì quân đội Trung Quốc không bác bỏ khả năng xảy ra xung đột trong tranh chấp biển. Ông Tập đã đưa ra những lời biện hộ cho hành động sai trái của Bắc Kinh rằng Trung Quốc “phải luôn đề cao cảnh giác chống lại các yếu tố có thể lấy đi hòa bình” và ưu tiên cho giám sát và phòng thủ ở khu vực Biển Đông, Hoa Đông.

Nhiều nhà quan sát cho rằng với ngân sách quốc phòng ngày càng lớn Trung Quốc đang tự trang bị các khả năng để xử lý vấn đề nhiều hơn là chuyện phòng thủ hay giám sát các biên giới hàng hải, thậm chí có ý kiến cho rằng Trung Quốc đang chuẩn bị cho một cuộc chiến trên biển. Một báo cáo gần đây của Diplomat nhấn mạnh rằng, các lực lượng vũ trang của Trung Quốc đang mở rộng khả năng tấn công đổ bộ, gia tăng can dự vào các tranh chấp lãnh thổ. Một số học giả cứng rắn của Trung Quốc cũng tán thành quan điểm “sức mạnh quân sự quy mô lớn” cần được phát triển để ngăn chặn việc bị “lâm vào thế bị động” bởi các nước khác.

Giữa lúc Trung Quốc đang đẩy mạnh các hoạt động ở Biển Đông để hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò” sai trái, tiến tới độc chiếm Biển Đông như hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam; xây dựng sân bay trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa; lấn biển, mở rộng các bãi ở Hoàng Sa và Trường Sa thì dư luận quốc tế không thể tin vào những lời nói hoa mỹ mà ông Tập Cận Bình nêu ra trong bài phát biểu của mình tại Quốc hội Úc hôm 17/11 vừa qua.

Các nhà phân tích đều cho rằng lời nói và hành động của Trung Quốc không đi đôi với nhau. Ông Tập chính là người đã khẳng định thêm những đánh giá của các nhà phân tích đó là “nói một đằng làm một nẻo”. Từ khi lên nắm quyền ở Bắc Kinh, ông Tập đã thi hành một chính sách hết sức cứng rắn với các nước láng giềng ven biển của Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông, nhưng trong các bài phát biểu thì ông lại dùng những lời hoa mỹ để lừa bịp dư luận.

Ý đồ của ông Tập là muốn dùng những lời nói hoa mỹ này để đẩy Mỹ ra khỏi khu vực nói chung và Biển Đông nói riêng. Cho dù ông Tập cố gắng tìm mọi cách để đánh lừa dư luận, nhưng qua các hành động thực tế của Bắc Kinh thì cộng đồng quốc tế đều thấy rõ “bộ mặt” thật của Bắc Kinh là kẻ bành trướng bá quyền.

Ngược lại, đối với Mỹ, mặc dù ông Obama phát biểu với những lời khá mạnh mẽ nhưng các nước đều thấy rõ vai trò của Mỹ trong việc duy trì hòa bình ổn định khu vực; hầu hết các nước trong khu vực đều ủng hộ chính sách “xoay trục” của Mỹ bởi đây là nhân tố quan trọng kiềm chế và ngăn chặn sự bành trướng trên biển của Trung Quốc.

Lời qua tiếng lại giữa ông chủ Nhà Trắng và ông chủ ở Trung Nam Hải cho thấy cạnh tranh Trung – Mỹ ở khu vực nói chung và ở Biển Đông, biển Hoa Đông sẽ ngày càng gay gắt. Để duy trì vị trí siêu cường số 1 của mình Mỹ cần bảo vệ những lợi ích chiến lược của Mỹ ở khu vực, trong đó có Biển Đông và biển Hoa Đông.

Ý đồ của Trung Quốc muốn gạt Mỹ ra khỏi cuộc chơi ở khu vực khó có thể thực hiện được bởi chính các nước trong khu vực cần đến sự hiện diện của Mỹ để làm nhân tố đối trọng với sự lấn lướt, hăm dọa của Bắc Kinh./.
BDN
 

BienDong.Net

MỸ KHẲNG ĐỊNH CHÍNH SÁCH “XOAY TRỤC” Ở CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ TĂNG CƯỜNG CAN DỰ VÀO BIỂN ĐÔNG


 
BienDong.Net: Trước những đồn đoán hoài nghi về chính sách của Mỹ đối với Châu Á - Thái Bình Dương và đối với Biển Đông, gần đây các nhà lãnh đạo Mỹ liên tiếp khẳng định lại chính sách “tái cân bằng chiến lược” ở Châu Á - Thái Bình Dương nói chung và quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông nói riêng.

Ngày 5/11/2014, phát biểu tại Trường Quan hệ quốc tế Cao cấp Johns Hopkins, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tái khẳng định tầm quan trọng của Châu Á - Thái Bình Dương trong chính sách toàn cầu của Mỹ. Một mặt, ông Kerry coi việc củng cố quan hệ Mỹ - Trung là “một bộ phận chủ chốt” của chính sách “tái cân bằng chiến lược” ở Châu Á - Thái Bình Dương.

Về vấn đề Biển Đông, Ngoại trưởng John Kerry nhấn mạnh: “Mỹ có lập trường mạnh về cách thức mà các yêu sách được theo đuổi và cách thức các tranh chấp được giải quyết”. Tuyên bố này của Ngoại trưởng Mỹ đã xác định một cách rõ ràng hơn quan điểm của Mỹ trên vấn đề Biển Đông từ chỗ “quan tâm” lên thành “có lập trường” đối với cách thức mà các bên theo đuổi các yêu sách ở Biển Đông và cách thức giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Trước đó, trong một phát biểu công khai của mình, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Michael Fuchs ngày 11/7/2014 nói rằng: “Mỹ rất quan tâm đến cách thức mà các nước giải quyết tranh chấp cũng như việc các yêu sách của các nước có phù hợp với luật biển hay không?”. Quan điểm mới của Mỹ được ông John Kerry đưa ra tạo cho Mỹ một khả năng rộng lớn hơn trong can dự vào hành động của các nước liên quan đến đòi hỏi chủ quyền và xử lý tranh chấp ở Biển Đông.

Ngày 15/11/2014, trong bài diễn văn phát biểu tại Đại học Queensland, Australia, bên lề Hội nghị Thượng đỉnh lần 8 Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20), Tổng thống Mỹ Barack Obama khẳng định chính sách “tái cân bằng chiến lược” của Mỹ ở Châu Á - Thái Bình Dương; nhấn mạnh Mỹ là một phần quan trọng đối với thế cân bằng sức mạnh tại Châu Á và Washington mong muốn gia tăng vai trò của mình trong khu vực. “Chúng tôi sẽ tiếp tục tham gia sâu sắc hơn, sử dụng mọi yếu tố thuộc về sức mạnh Mỹ”, ông nói.

Tổng thống Obama khẳng định Mỹ sẽ hợp tác chặt chẽ với các nước nhằm tăng cường vị thế của họ, từ đó, những nước lớn không thể “bắt nạt các quốc gia nhỏ bé” - cụm từ thường dùng trong một số tài liệu tham khảo liên quan đến vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Ông Obama nhấn mạnh Washington đang lên kế hoạch chia sẻ sức mạnh trên biển cùng các nước ở Châu Á, đồng thời, tìm ra điểm chung về lợi ích quân sự với Việt Nam cũng như tăng cường khả năng hàng hải của nước này.

Ông Obama bày tỏ mong muốn tìm ra điểm chung về lợi ích quân sự cũng như tăng cường khả năng hàng hải của Việt Nam và tăng cường quan hệ với các nước Châu Á khác. “Mỹ sẽ tiếp tục mở rộng hợp tác với các các cường quốc đang lên và các nền kinh tế đang lên. Chúng tôi dự định hỗ trợ Việt Nam theo đuổi những cải cách kinh tế và khả năng hàng hải mới. Chúng tôi sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ đối tác toàn diện với Indonesia, nước là ví dụ điển hình cho sự đa dạng... Chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng quan hệ với Malaysia, trung tâm đang phát triển của các doanh nghiệp và của sự sáng tạo. Chúng tôi hỗ trợ cho vai trò lớn hơn ở Châu Á - Thái Bình Dương của Ấn Độ”, ông Obama nói.

Mặt khác, Tổng thống Obama yêu cầu Trung Quốc phải tuân thủ những quy tắc về ứng xử trên Biển Đông với các nước láng giềng. Ông nhấn mạnh: “Chúng tôi sẽ hỗ trợ nỗ lực của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) nhằm đạt đến một bộ quy tắc ứng xử chung với Trung Quốc để tăng cường luật pháp quốc tế trên Biển Đông”. Đồng thời ông Obama tỏ ý muốn các nước lớn như Ấn Độ tăng cường hỗ trợ và đảm nhận những trọng trách lớn hơn tại Châu Á - Thái Bình Dương. Ông Obama nói: “Cùng nhau, chúng ta có thể cải thiện an ninh, duy trì tự do hàng hải và khuyến khích các nước giải quyết tranh chấp lãnh thổ một cách hòa bình”.

Trước đó, ngày 13/11/2014, phát biểu tại Diễn dàn cấp cao Đông Á tổ chức ở Myanmar, Tổng thống Barack Obama yêu cầu các bên thực hiện nghiêm túc đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), yêu cầu chấm dứt các hoạt động lấp biển mở rộng các bãi ở Biển Đông để duy trì nguyên trạng ở Biển Đông.

Đáng chú ý là bên lề Hội nghị G20 tại Úc, ngày 16/11/2014 với sự tham gia của Tổng thống Brack Obama, Hội nghị Thượng đỉnh của 3 nước Mỹ, Nhật, Úc đã ra Tuyên bố lần đầu tiên kêu gọi giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, đồng thời khẳng định việc thúc đẩy tự do, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không ở khu vực./.
BDN

No comments: