Tuesday, November 18, 2014

LE QUANG VINH * LIỆT NỮ TƯỜNG VY

Chuyện người Liệt nữ “Nam tiến” làng Vĩnh Lộc: Đinh Kế Thị Tường Vi
(Xây dựng) - LTS: Chị Đinh Kế Thị Tường Vi - Làng Vĩnh Lộc, xã Quảng Lộc, huyện Quảng Trạch (tên mới là Thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình; có lẽ là người phụ nữ trẻ nhất, đầu tiên của của quê hương Quảng Bình tham gia Quân đội nhân dân VN trong thời kỳ chống Pháp. Người con gái mới 16 tuổi, theo truyền thống Bà Trưng, Bà Triệu cùng Lời hiệu triệu cứu nước của Bác Hồ; chị đã "Tòng quân Nam tiến” đợt I, vào cuối năm 1946. Sau gần 5 năm chiến đấu trên mặt trận nóng bỏng và ác liệt nhất ở Thừa Thiên Huế - Chiến khu Ba Lòng (Phân khu Bình Trị Thiên), năm 1951 khi vừa tròn 20 tuổi, chị Tường Vi đã anh dũng hy sinh tại Phong Thu (Phong Điền), dâng trọn tuổi thanh xuân đẹp nhất trong cuộc đời cho non sông đất nước.

 

Nhân dịp Kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập QĐNDVN (22/12/1944 - 22/12/2014), TS trân trọng giới thiệu tấm gương của người Liệt nữ Đinh Kế Thị Tường Vi cùng bạn đọc qua bài viết “Chuyện người Liệt nữ “Nam tiến” làng Vĩnh Lộc Đinh Kế Thị Tường Vi” của Nhà báo Lê Quang Vinh.
Liệt Nữ Tường Vi
Trên Chiến khu Ba Lòng
Người con gái mà Đại tá Lê Phương nói đến trong Hồi ký “Trên Chiến khu Ba Lòng” (Tác phẩm mới công bố gần đây); bị giặc giết trong một trận càn, đó là chị Đinh Kế Thị Tường Vy, con gái cụ Đinh Kế Tác - Người làng Vĩnh Lôc, xã Quảng Lộc, thị xã Ba Đồn (tên cũ là huyện Quảng Trạch), tỉnh Quảng Bình:
“Tôi cảm phục người bạn gái cùng quê đã anh dũng chống lại bọn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp chị. Chị đã bị bắn chết trên bãi cát, với thân thể lõa lồ, tang thương”. Đoạn hồi ký kể về cuộc càn của giặc Pháp trên vùng rừng núi có tên Phong Thu, thuộc Phân khu Bình Trị Thiên năm 1951, được ông Lê Phương viết bằng cả trái tim yêu thương đồng chí đến nao lòng và hờn căm chất chứa bởi sự dã man của giặc khiến trời xanh cũng phải quặn đau. Hồi ký của người chiến sĩ “trong cuộc”, nóng bỏng đến ngày nay:
“Tôi nhớ đến mùa chiến dịch, cùng cán bộ cơ quan về xuôi đi chiến đấu. Lúc này, tôi không trực tiếp cầm súng nhưng không phải ở mãi sau trận tuyến. Chúng tôi phải “nhanh như điện”, chuyển tải những mệnh lệnh chiến đấu, những lời động viên của cấp trên, những tờ báo theo sau gót người chiến sĩ. Cùng ém quân phục kích đoàn xe lửa trên cầu Mỹ Chánh, đánh ở Liêm Công Tây, Liêm Công Đông. Chiến dịch Lê Lai, Phan Đình Phùng đều có mặt. Trong cuộc chiến đấu đó, tôi đã bị thương, nhỏ giọt máu đào cho Tổ quốc.Tôi nhớ trận địch lùng ở Phong Thu (huyện Phong Điền – Thừa Thiên), vì sơ hở mà của mất người hy sinh. Cả cơ quan bị bao vây như trong một cái túi. Trên Trời máy bay, sau lưng quân bộ, dưới sông ca nô.

Chúng tôi, những người lính văn phòng, không một tấc sắt để chống cự; chỉ kịp tiêu hao tài liệu, công văn. Mở đầu trận lùng, bọn giặc trên máy bay bắn bị thương đồng chí Dung nằm cách tôi một thước. Tiếng Dung gọi: “Phương ơi, tao bị thương rồi”! Trong tay không có một cuộn băng nào, phải mau chóng đưa Dung vào nấp trong bụi rồi xé áo băng bó cho bạn.

Tôi cảm phục người bạn gái cùng quê đã anh dũng chống lại bọn lính gian ác khi chúng toan hãm hiếp chị. Chị đã bị bắn chết trên bãi cát, với thân thể lõa lồ, tang thương. Tôi mến thương người chị gái nuôi quân (lâu ngày quên mất tên), lấy thân mình che đạn cho mẹ con một cháu bé. Chị hy sinh cách tôi không đầy một cánh tay.
Giờ phút nguy cấp, tiếng loa của giặc rõ dần, không còn cách nào khác là vứt hết đồ đạc, chôn tài liệu và bơi qua sông. Sông không rộng, nhưng nước chảy mạnh. Tôi cố lấy hết sức bơi sang đến bờ thì kiệt sức, nằm sóng sượt. Tiếng ca nô của địch ầm ầm, các đồng chí đều phải chạy, hướng thẳng lên rừng, sau lưng đạn bay như mưa.
Sau trận lùng ấy, mỗi người chỉ sót lại chiếc quần đùi mặc trên người, bụng thì đói, cắn răng thoát hiểm tìm về căn cứ. Các đơn vị bạn mở cuộc “lạc quyên” giúp đỡ chúng tôi, cùng nhường cơm xẻ áo. Chúng tôi lại bắt tay xây dựng nhà cửa. Lao động quần quật suốt ngày. Trận lụt năm 1951 phá hoại ghê gớm tài sản của đồng bào. Bình Trị Thiên đã nghèo lại nghèo thêm, đã khổ lại khổ thêm. Bao kho gạo dự trữ cho kháng chiến bị ngập.

 Gạo ngâm nước lụt lâu ngày phơi khô mốc ẩm, lên men. Nấu cơm lên thối đến nỗi cho chó chó chê, cho lợn lợn không ăn. Cơm nấu xong, xới ra trên lá môn quạt hết hơi đến nguội để bớt thối. Thế nhưng, mấy hôm đầu không ai ăn được. Cái đói giày vò, cái bụng bắt phải nuốt, công việc bắt phải ăn, nhắm mắt nhắm mũi mà đút vào mồm. Anh em ăn vào đi lỏng, ra toàn vỏ gạo (vì gạo chưa xát). Dần dần bụng chúng tôi cũng phải quen với loại cơm đáo để này và đành phải “làm bạn” với nó hàng tháng trời.
Ăn uống như thế, nên nhiều đồng chí đã “quỵ xuống” vì mệt nhọc, vì sốt rét... Gạo đã thiếu thuốc càng thiếu hơn. Lên cơn sốt rét thì đắp chăn mà run. Có được viên thuốc quinine vàng liền hoà ra hàng lít nước để chia nhau.
Trong gian nan mới thật thương nhau. Tình đồng chí xây bằng máu. Cứ mỗi lần đồng chí nào về xuôi lên mang theo được lon gạo nếp, không nỡ ăn một mình, mà mượn cái nồi to đổ thật nhiều nước, nấu cháo húp mỗi ngưòi một bát.
Gian khổ, đói rét không làm chúng tôi lung lay, lòng vẫn lạc quan tin tưởng. Những ngày ở chiến trường Bình Trị Thiên thực sự là “trường học” rèn luyện thử thách, đào tạo nên người chiến sĩ. Song cũng có những kẻ hèn nhát, tham sống sợ chết, dao động hoang mang, không chịu nổi đã đầu hàng giặc.”
Chị Đinh Kế Thị Tường Vi trong đoạn văn trích, được kể lại chân thực và vô cùng kiệm lời, nhưng đủ để hiển hiện lên hình ảnh chị là một nữ “Anh hùng Liệt sĩ” khá tiêu biểu: kiên trinh, bất khuất, hy sinh anh dũng đến giọt máu cuối cùng giữa bầy lang sói; chị quyết không thể cho chúng làm nhục nhằm giữ nguyên phẩm tiết của người con gái tuổi xanh, hiến dâng trọn vẹn cuộc sống tươi đẹp nhất cho Tổ quốc lúc lâm nguy.
Ngay sau khi trận càn xẩy ra tại Phong Thu 1951, tổ chức và đoàn thể hồi ấy cũng đã nắm rõ vì sao chị Tường Vi hy sinh. Nhiều vị lão thành tham gia kháng chiến chống Pháp cùng thời Đại tá Lê Phương và chị Tường Vi, hiện vẫn còn nhớ chi tiết về sự hy sinh của người nữ điệp báo này: Chị Đinh Kế Thị Tường Vy là người trực tiếp quản lý và sử dụng điện đài trong đơn vị, nên khi bị giặc vây chặt tứ phía, theo phản ứng nghiệp vụ của công tác (cơ yếu) mà chị đã được huấn luyện (người “đặc trách” điện đài), chị phải mau chóng hủy máy móc cùng mọi tài liệu liên quan (“Tôi nhớ trận địch lùng ở Phong Thu, vì sơ hở mà của mất người hy sinh. Cả cơ quan bị bao vây như trong một cái túi. Trên Trời máy bay, sau lưng quân bộ, dưới sông ca nô.

Chúng tôi - những người lính văn phòng - không một tấc sắt để chống cự; chỉ kịp tiêu hao tài liệu, công văn.”). Vào thời đó (1950 - 1951), phương tiện vô tuyến điện đài quân sự kết cấu còn khá cồng kềnh và rất nặng; vật liệu gần như 100% sắt thép có độ bền chắc cao...Bình thường, người có sức khỏe phá được cỗ điện đài loại này cũng rất khó. Vì thế thời gian để cho chị thực hiện xong nhiệm vụ đương nhiên bị kéo dài hơn so mọi chiến sĩ khác, khiến cơ hội phá vòng vây thoát địch là vô cùng ngặt nghèo.

Chị Tường Vi phải dồn mọi khả năng, sức lực để quyết phá hủy bằng được phương tiện thông tin chỉ huy chỉ trong mươi lăm phút nguy cấp. Đó là chiến công rất có ý nghĩa của công tác bảo mật trên chiến trường. Chiến công này thực sự đặc biệt so với sức lực của một người con gái bé nhỏ trong hoàn cảnh tính mạng “ngàn cân treo sợi tóc”. Do đó, chị Tường Vi bị sa vào tay giặc là điều cực kỳ khó tránh khỏi. Tuy nhiên, nhờ có chiến công của chị mà sau trận càn, mọi tài liệu bí mật của cơ quan Phân khu bộ Bình Trị Thiên đã không bị rơi vào tay giặc; thế trận trên toàn tuyến Chiến khu Thừa Thiên - Ba Lòng (Quảng Trị) - Tây Quảng Bình những ngày tiếp theo vẫn được giữ vững.
Là một phụ nữ rất đẹp, tuổi mới 20 – 21, căng phồng nhựa sống; bọn giặc như bầy quỷ dữ, không thể bỏ qua cơn khát thú tính cùng sự hung ác tột độ, chúng đã dùng sức mạnh tập thể cưỡng bức hãm hiếp chị. Chúng lột trần quần áo người con gái ngọc ngà, nhưng rõ ràng không thể nào thực hiện được sự đồi bại vì chị Tường Vi ngoan cường chống trả quyết liệt. Dầu biết sẽ chết, chị quả cảm bảo vệ đến cùng phẩm tiết của mình. Vì thế lũ quỷ cay cú cùng bản chất hung bạo, liền xả súng bắn chết người con gái trung dũng, kiên cường của quê hương Vĩnh Lộc chúng ta.
Theo hồi ký "Trên Chiến khu Ba Lòng" của ông Lê Phương, trận càn phục kích này của giặc Pháp, đơn vị ông hy sing mất 2 nữ đồng chí và 1 chiến sĩ nam bị thương. Rõ ràng gương hy sinh của “người bạn gái cùng quê”,“người chị gái nuôi quân lấy thân mình che đạn cho mẹ con một cháu bé” và của “đồng chí Dung” (bị thương) là vô cùng anh dũng, rất điển hình trong chiến tranh. Ở khía cạnh này, các anh chị đã chiến thắng cả đội quân hung hãn của giặc để hoàn thành sứ mạng của người chiến sĩ vệ quốc “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!”.

Đoạn hồi ký của Đại tá Lê Phương (trích dẫn) ngắn gọn, hàm súc nhưng lột tả được hiện thực bi tráng về cái chết oanh liệt của hai nữ Liệt sĩ trong sự nghiệp cứu nước và cách mạng của nhân dân ta thời kỳ kháng chiến chống Pháp; khiến người đọc hôm nay phải quặn lòng vì quá xot xa...Chắc chắn hai chị sẽ còn sống mãi trong ký ức của nhiều thế hệ con cháu cũng như quê hương xứ sở. “Tôi mến thương người chị gái nuôi quân (lâu ngày quên mất tên), lấy thân mình che đạn cho mẹ con một cháu bé. Chị hy sinh cách tôi không đầy một cánh tay” - Càng đau đớn bội phần, vì Đại tá Lê Phương còn không thể nhớ lại nổi tên người nữ đồng chí ấy (chuyện xẩy ra từ năm 1951, hồi ký được viết năm 1959). Quá đau, quá thương cảm vì sự hy sinh mất mát đến tột cùng! Một Nữ Anh hùng “VÔ DANH”!
Lời kể của cựu Phó chủ nhiệm Việt Minh xã Vĩnh Trạch
Ông Đinh Duyệt, năm nay 95 tuổi – Cán bộ Tiền Khởi nghĩa, Huy hiệu 65 tuổi Đảng (2012), nguyên Chuyên viên Cao cấp công tác tại Toà án Nhân dân Tối cao; hiện nghỉ hưu tại quê nhà là thôn Vĩnh Lộc, xã Quảng Lộc, Thị xã Ba Đồn (huyện Quảng Trạch cũ), tỉnh Quảng Bình; khi được tiếp xúc Hồi ký "Trên chiến khu Ba Lòng" của em trai vợ mình (Bà Lê Thị Toán) là Đại tá Lê Phương, nguyên sĩ quan công tác tại Cục Chính trị Bộ tư lệnh Phòng không – Không quân (thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đến ngày nghỉ hưu), lòng bồi hồi xúc động nhớ lại: Chị Đinh Kế Thị Tường Vi có Thân phụ là cụ Đinh Kế Tác, tục danh “Xu Tác” - Một nhà thầu khoán (Sur veilzan) có tiếng thời Pháp thuộc; rất yêu nước và có nhiều công lao đóng góp đối với quê hương.

Cụ cùng nhà thấu khoán và là bạn thân quê ở làng bên Hoà Ninh (nay là xã Quảng Hoà, Thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình) tên là Đoàn Phiến, tục danh “Xu Phiến” cùng chung tiền của công sức xây dựng nên Trường tiểu học Élémenter Hoà Ninh cho con em mấy làng vùng Nam phủ Quảng Trạch thời đó: Hoà Ninh, Vĩnh Lộc, Phú Trịch, Vĩnh Phước, Minh Lệ, La Hà...có nơi học tập. Riêng với mảnh đất chôn rau cắt rốn là làng Vĩnh Lộc, cụ Đinh Kế Tác đã bỏ công của vật lực đắp xếp 2 con kè lớn bằng đá hộc lẫn đá sa thạch để ngăn luồng nước xiết chống xói lở giải đất ven sông làng Vĩnh Lộc, làng Phú Trịch (phía Rào Đơờng

 - Nguồn Nậy sông Gianh, nhánh chảy qua các làng Vĩnh Lộc, Cồn Sẻ và Văn Lôi). Hai con kè đá này sau gần cả trăm năm hiện vẫn còn y nguyên tác dụng (đắc dụng). Nếu chiến tranh Pháp - Việt không nổ ra, cụ đã hoàn thành tâm nguyện xây dựng một cây cầu cho cả 2 làng Vĩnh Lộc – Hoà Ninh liền bờ, vị trí định xây dựng gần lối bến sông cạnh nhà ông Đặng Phụng, để đi ra đường “Kiệt Ngang” Hòa Ninh qua chợ Mới (Minh Lệ).
Ông Đinh Duyệt - cán bộ "Tiền Khởi nghĩa", năm nay 95 tuổi.
Chị Đinh Kế Thị Tường Vi là một cô nữ sinh hiếm hoi thời đó ở vùng quê nghèo Vĩnh Lộc, được bọ mạ (cha mẹ) gửi vào Kinh đô Huế cho ăn học và chị đã học thêm một nghề “thời thượng” lúc đó là đánh máy chữ cả tiếng Pháp lẫn tiếng Việt. Thế rồi cuối năm 1946, Pháp núp bóng quân Anh trở lại đánh chiếm Sài Gòn – Gia Định và cả Nam bộ. Hưởng ứng “Lời Hiệu triệu cứu nước” ngày 20 tháng 12 năm 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh (đêm hôm trước 19/12/1946, chiến sự bùng nổ - mở đầu Ngày “Toàn quốc kháng chiến”), chỉ trong 2 tháng cuối năm 1946 - đầu năm 1947, nhân dân Thẻ Làng (chỉ riêng Giáp Đông) đã có 3 đợt nam nữ thanh niên xung phong “Nam tiến” để cùng quân dân Nam Bộ đánh giặc.

Đợt “Nam tiến” đầu tiên, có 4 anh chị em, trong đó có chị Đinh Kế Thị Tường Vi. (Thẻ Làng: tục danh; tên chữ là “Thị Lang” có từ thời Nhà hậu Lê, đời sau đổi thành: làng “Vĩnh Khang”, rồi “Vĩnh Lộc”. Riêng Làng Vĩnh Lộc phía Bắc sông Hoà Ninh goị là “Giáp Đông”, không bao gồm “Xóm Vụng”; một phần làng Vĩnh Lộc ở phía Nam sông Hoà Ninh, goị là “Giáp Đoài”).
Ông Đinh Duyệt nhớ lại như in, hình ảnh cô em gái nhỏ nhắn, tóc dài, nước da trắng nõn nà nhưng bặm trợn khi lên vị trí diễn giả để tranh luận với đám thanh niên cũng đang hừng hực khí thế “Nam tiến”. Khi mấy cán bộ Việt Minh thấy rõ mồn một chị Tường Vi là cô gái còn quá nhỏ tuổi (chị là bạn học với anh Lê Phương - sinh năm 1932, so các anh cùng đăng ký “Nam tiến” đợt I này ít hơn ngót chục tuổi), thân hình lại "liễu yếu đào tơ", dứt khoát không tiếp nhận và để chị kê khai lý lịch cũng như viết quyết tâm bày tỏ nguyện vọng lên đường ...; chị Đinh Kế Thị Tường Vi liền “nhảy phốc” lên cướp lời mọi người, với giọng vô cùng dõng dạc, dứt khoát:

“Ông cha ta đã dạy rồi, giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh. Tui (tôi) tuy là “đàn bà con gái” nhỏ tuổi, nhỏ người nhưng ăn thua là ở cái tinh thần đánh giặc cứu nước chứ không phải vì con gái hay tuổi nhỏ, người nhỏ mà bỏ qua”. Thế là không ai còn cản được chị Đinh Kế Thị Tường Vi lên đường “Nam tiến” cùng 3 trai làng khác là anh Đinh Xuân Dật (tên trong Bằng Tổ quốc ghi công: Liệt sĩ Đinh Thụy Sơn), Nguyễn Đăng Khoa và Đinh Như San.

Chị Đinh Kế Thị Tường Vi, hai anh Đinh Xuân Dật và Đinh Như San hy sinh trong những năm đầu và giữa cuộc kháng chiến chống Pháp; còn anh Nguyễn Đăng Khoa (sinh năm Quý Hợi – 1923) may mắn sống sót, tiếp tục chiến đấu suốt gần 30 năm trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp - Mỹ và xây dựng quân đội sau Hoà Bình và đất nước thống nhất, là sĩ quan với cấp bậc “Thiếu tá”. Cụ qua đời cách đây 17 năm (27/11/Đinh Sửu - 1997) khi đã về nghỉ hưu nhiều năm tại quê nhà.
Buổi đăng ký cho thanh niên lên đường “Nam tiến” đợt đầu tiên này diễn ra tại đình làng Vĩnh Lộc (ngôi đình giữa cánh đồng, đã bị triệt phá sau Cải cách ruộng đất mấy năm). Thời điểm này, Cụ Nghè Cơ Nguyễn Bá Ky là Chủ nhiệm Việt Minh xã Vĩnh Trạch (xã Quảng Lộc sau này); ông Đinh Duyệt (cháu gọi Cụ Nghè là “Cậu ruột”) – Cấp Phó của Cụ. Hai cậu cháu chính là hai cán bộ Việt Minh nòng cốt, cao nhất tổ chức các cuộc lên đường “Nam tiến” trên quê hương mình.
Anh Đinh Như San có người anh ruột là Đinh Như Hằng, tham gia lực lượng vũ trang tại địa phương và cũng hy sinh anh dũng trong trận chống càn đầu tiên của quân Pháp vào phía Nam Quảng Trạch đầu năm 1947. Hai anh em Đinh Như Hằng và Đinh Như San là con trai cụ Đinh Thị Vặt - tục danh “Giang Ưa”. Cụ là O ruột (cô ruột) của ông Đinh Duyệt. Hiện địa phương đang làm các thủ tục để đề nghị Chủ tịch nước Truy tặng Danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cho cụ Giang Ưa.
Mối lương duyên ngày lên đường và bức hình còn lại
Thạc sĩ Nguyễn Bá Sinh, nguyên Phó giám đốc “Công ty Tư vấn – Đầu tư xây dựng Giao thông - Công chính Hà Nội”, con thứ 5 của cụ Nghè Cơ Nguyễn Bá Ky (như đã nói, cụ Nghè Cơ Nguyễn Bá Ky chính là cậu ruột của ông Đinh Duyệt), khi đọc hồi ký “Trên Chiến khu Ba Lòng”, đã chia sẻ những tư liệu rất quý về mối tình đầu và bức ảnh “duy nhất còn lại” mà gia đình đang thờ phụng người nữ anh hùng liệt sĩ này:
“Những ngày sau CM tháng 8, chị Đinh Kế Thị Tường Vy là một nữ sinh trung học; đã tham gia hoạt động phụ nữ cùng chị gái tôi là Nguyễn Thi Ngọc Lan. Chị Nguyễn Thi Ngọc Lan sau này trở thành vợ của người cán bộ Việt Minh - Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên (Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng).
Dạo đó, chị Đinh Kế Thị Tường Vy hay sang nhà tôi ở "bên Xóm" (một phần làng Vĩnh Lộc phía Nam sông Hoà Ninh, người xưa goị là “giáp Đoài”) để cùng chị Lan trù tính công tác đoàn thể. Dáng người chị Tường Vi thanh mảnh, xinh xắn; nước da trắng trẻo, mái tóc tha thướt tôn vẻ đẹp dịu hiền như người con gái xứ Huế.
Ông Nguyễn Văn Phầu và Thạc sĩ Nguyễn Bá Sinh
Tôi có người chú họ tên là Nguyễn Văn Phầu, sinh năm 1925, học trường Khải Định - Huế. Chú tôi vào “Vệ quốc đoàn” năm 1949; sau đó được điều ra Việt Bắc học “Trường Sĩ quan Lục quân”; rồi được giữ lại làm cán bộ “huấn luyện”. Đến năm 1959, với quân hàm “trung úy”, chú chuyển ngành sang công tác tại Bộ Lao động (nay là Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội). Tại đây, ông tiếp tục học lên Đại học Giao thông – Vận tải (chuyên ngành “Cơ khí ô tô”), làm việc suốt mấy chục năm ở Bộ. Trước khi nghỉ hưu, ông là Vụ trưởng “Vụ Định mức & Tổ chức Lao động”.
Ông Nguyễn Văn Phầu, sinh năm 1925, nay đã 90 tuổi.
Chú Phầu tôi cùng làng với chị Đinh Kế Thị Tường Vy nên hai người biết nhau từ tấm bé và khi còn lứa truổi "học sinh", đã rất mến rồi đâm lòng yêu thương chị. Có lẽ do “Duyên Trời” (Thiên duyên) nên hai người dễ dàng có "hẹn ước". Ôông mệ (ông bà) tôi đã có “cơi trầu”, “chai rượu” sang thưa với Ôông mệ bên nhà chị xin được kết giao “thông gia”. Nhưng rồi, còn đâu ! Kháng chiến bùng nổ. Sau khi mặt trân Huế vỡ, quân Pháp đánh lan ra Quảng Trị, Quảng Bình. Khói lửa ngút trời. Những chàng trai cô gái làng tôi như anh Lê Phương, chị Tường Vy, chúPhầu tôi... rời làng lên đường đi chiến đấu. Lúc chia tay, chị Tường Vy tặng chú tôi một tấm ảnh nhỏ (cỡ 3x4 cm ảnh snows ) làm kỷ niệm – như lời "hẹn ước trăm năm" của đôi trai gái.
Chị được tổ chức điều vào Phân khu Bình Trị Thiên làm công tác điện đài (mật mã); còn chú Phầu tôi ra Bắc học Trường sỹ quan lục quân. Rồi một hôm từ Việt Bắc, chú Phầu tôi nhận được tin sét đánh: Trong một trận càn của giặc, chị Tường Vy đã lọt vào tay giặc và anh dũng hy sinh như lời kể của anh Lê Phương trong hồi ký “Trên chiến khu Ba lòng”. Từ đó, bức hình chị Tường Vi đối với chú Phầu tôi là “chứng nhân” của mối tình nồng thắm “thuở ban đầu” và cả quê hương yêu dấu trong ba lô người chiến sỹ trên mỗi bước hành quân suốt cả chiều dài hai cuộc kháng chiến đánh Pháp và đánh Mỹ.
Nhiều năm sau khi đất nước đã hòa bình, anh trai chị là ông Đinh Kế Nhậm đã dày công tìm kiếm được hài cốt chị Tường Vy tại Phong Thu, Phong Điền – Thừa Thiên Huế, đưa về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ quê nhà. Thời điểm này, chú Phầu tôi cũng đã ở tuổi tám mươi, mái tóc bạc phơ, chân đi chầm chậm về thăm quê.

Trước đó, tại Thủ đô Hà Nội, chú tôi thuê hiệu ảnh chụp lại tấm hình của người yêu cũ vô vàn yêu dấu – Di ảnh còn lại duy nhất của chị Tường Vi năm xưa, rồi phóng to lên thành ảnh thờ. Chính trong dịp về quê này, ông đem bức hình đã phóng trao lại cho gia đình chị Tường Vi. Trong giây phút xúc động ngập tràn, ông Đinh Kế Nhậm đón nhận hình em mà gần như “chết lặng” vì quá bất ngờ và đau đớn sau mấy chục năm mới lại được nhìn thấy khuôn mặt người em. Hai anh em liền đặt bức chân dung lên bàn thờ gia tiên thắp hương cho chị rồi cùng con cháu ra nghĩa trang liệt sĩ xã Quảng Lộc, tìm đến bên mộ người yêu - người đồng chí.

Trước nấm mộ có ngôi sao quân hiệu nhỏ nhoi như hiển hiện trái tim người chiến sĩ và dòng tên qúa đỗi thân thương, tất cả đám người ai ai cũng nhói buốt tâm can với hàng hàng nước mắt tuôn trào đẫm má. Cuộc “đoàn viên” đặc biệt ấy, với những bông hoa cúng trắng muốt trong làn khói hương bay não nùng, chú Phầu tôi như khuỵu xuống, bất giác trong tâm linh cảm thấy câu thơ Kiều mà mấy trăm năm trước Thi hào Nguyễn Du đã viết gần như để dành riêng cho mình và người yêu hôm nay:“Minh dương đôi ngả cách rồi, Cõi trần mà lại thấy người cửu nguyên”…”.
Anh trai trưởng trong gia đình chị Đinh Kế Thị Tường Vi - Đinh Kế Nhậm, tiếp bước người em gái vào "Vệ quốc đoàn" năm 1947. Năm 1954, được “phục viên” về quê Vĩnh Lộc tham gia công tác tại địa phương. Rồi ông trở thành cán bộ của Ngành Ngân hàng, công tác suốt mấy chục năm liền trong cuộc kháng chiến chống Mỹ - cứu nước và sau này khi đất nước thống nhất, tại các địa phương tỉnh Quảng Bình.

Những năm tháng về quê Vĩnh Lộc nghỉ chế độ hưu trí, ông cùng ông Đinh Duyệt, hai người bạn từ thời trẻ thơ, lại hăng hái tham gia tích cực công tác xã hội; đóng góp nhiều công sức cùng con em xây dựng “Nông thôn mới” quê nhà như gương sáng và sự hy sinh của cha và em gái. Ông Đinh Kế Nhậm qua đời năm 2005, thọ 78 tuổi.
Ông bà Đinh Kế Nhậm có 7 người con. Tất cả đều được học hành chu đáo và trưởng thành. Trong đó người con trai cả Đinh Vĩnh Hiền, bộ đội kháng chiến chống Mỹ - cứu nước, tham gia đánh bọn Pol Pot xâm lấn biên giới Tây – Nam và giải phóng nhân dân Cam Pu Chia khỏi họa diệt chủng; Thạc sĩ chuyên ngành Ngân hàng Đinh Quang Hiếu – Tỉnh ủy viên, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tỉnh Quảng Bình... Một đại gia đình suốt mấy đời có công với nước và ngày nay con cháu chắt đang tiếp bước truyền thống cha ông, sống gương mẫu phấn đấu cống hiến nhiều hơn nữa xây dựng quê hương.
23 giờ 13’ ngày 17/11/2014

No comments: