Saturday, November 15, 2014

LÊ QUANG VINH * BỨC HÌNH MỘT NGƯỜI LÍNH

ngominh | 22 Aug, 2014, 10:20 | VĂN | (4559 Reads)

BÍ ẨN BỨC HÌNH MỘT NGƯỜI LÍNH ĐIỆN BIÊN THỜI CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

LÊ QUANG VINH
Chân dung anh có nước ảnh màu “nâu đen”, cỡ 4x6; áo sơ mi trắng, nét mặt hơi ngước lên, nên nhìn cổ cứ cao cao.
Chân dung anh có nước ảnh màu “nâu đen”, cỡ 4×6; áo sơ mi trắng,
nét mặt hơi ngước lên, nên nhìn cổ cứ cao cao.
SAU 9 NĂM ĐI KHÁNG CHIẾN, HÒA BÌNH RỒI NHƯNG NGƯỜI LÍNH CAO XẠ PHÁO CỦA “TRUNG ĐOÀN PHÁO CAO XẠ 367” THAM GIA ĐÁNH TRẬN ĐỊÊN BIÊN PHỦ, ĐÃ KHÔNG ĐƯỢC TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG, VÌ “GIA ĐÌNH ĐỊA CHỦ”! THAY THÂN XÁC MÌNH, BỨC HÌNH ĐẦU TIÊN CỦA CON TRAI VỀ TỚI TAY MẸ MỘT CÁCH NHƯ “GIÁN ĐIỆP”. ĐẾN NAY, CÂU CHUYỆN ĐÓ VẪN LÀ ĐIỀU ĐẦY BÍ ẨN TRONG GIA ĐÌNH TÔI.                               
       Bức hình đầu tiên của anh Lê Phương “về nhà”
              bằng con đường bí ẩn như “gián điệp”
            Anh Cả tôi, Đại tá Lê Phương (Lê Duy Phương, sinh tháng 11/1932 (10/Nhâm Thân) – Từ trần ngày 25/11/Nhâm Thân (18/12/1992) – Một trong những người lính được Quân đội cử ra nước ngoài huấn luyện kỹ thuật quân sự và tiếp nhận pháo cao xạ 37mm, để về nước cùng đông đội thành lập “Trung đoàn Pháo cao xạ 367″ tham gia chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954, đặc biệt Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, giải phóng Tây Bắc. Trung đoàn 367 là đơn vị Cao xạ pháo đầu tiên của QĐNDVN, tiền thân Quân chủng Phòng không – Không quân. Trong kháng chiến đánh Mỹ, anh Lê Phương là sĩ quan cao cấp công tác tại Cục Chính trị Quân chủng này, với cấp bậc Đại tá. Nhân 69 năm “Ngày Cách mạng 19 tháng 8” và “Quốc kháng 2 – 9” (1945 – 2014), xin kính cẩn gửi đến hương hồn anh cùng những người đồng đội, nén nhang lòng tưởng nhớ và ghi ơn sâu nặng công đức của các anh đối với gia đình, quê hương, đất nước.
            Hòa bình lập lại năm 1954, khắp xóm thôn phố phường miền Bắc, từ rừng núi, đồng bằng đến vùng duyên hải và hải đảo xa xôi; từ Mục Nam Quan đến Cửa Tùng – Sông bến Hải với cầu Hiền Lương đang bị chia cắt…; hầu như đa phần, trong mỗi gia đình có con em đi kháng chiến đều được trở về nhà thăm cha mẹ, anh chị em ruột thịt, họ hàng, quê hương. Riêng anh trai tôi Đại tá Lê Phương – Một trong những người lính mang sứ mệnh thành lập Đơn vị Cao xạ pháo đầu tiên của QĐNDVN “Trung đoàn Pháo cao xạ 367″, tiền thân Quân chủng Phòng không – Không quân, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ đến toàn thắng và tất cả những ai cùng cảnh ngộ, lại “biệt tăm, vô âm tín”, không được về thăm nhà dầu quê hương đã thanh bình, yên vui nếu như không có bão tố CCRĐ ập tới.

Bao tháng ngày mòn mỏi đợi con và nỗi nhớ thương mẹ già, các em nhỏ khôn cùng của người mẹ ở hậu phương và người chiến sĩ hơn 3000 ngày đi đánh giặc giữ nước ngoài mặt trận “Gan không núng, chí không sờn”, bỗng chốc bị tan chảy bởi đại họa Cải cách ruộng đất. Không có sự dã man, vô nhân đạo nào tàn ác nhường ấy, đã giáng lên hàng vạn gia đình có công với Cách mạng mà con cái họ đang “đằng đằng sát khí” chiến thắng, trong đó có gia đình tôi với hoàn cảnh người cha lâm bệnh nặng vừa qua đời.                               
       Trước đó, nơi khói lửa chiến chinh, những vần thơ chất chứa bao gian khó, sự hy sinh cho kháng chiến và chiến thắng, cùng những mong ước cháy bỏng về tương lai, anh tôi ghi lại đầy hào sảng bằng những vần thơ của người lính thật thà, hồn nhiên đến khó tin:
“…Tuổi thư sinh dạn dày sóng gió
Đôi chân non trong khói lửa trường chinh
Càng đi nhiều, càng lại săn gân
Luôn vững bước dưới cờ Cách mạng
Theo tiếng gọi thân yêu của Đảng
Dâng trái tim, hiến cả cuộc đời
Đẹp vô cùng tuổi mười chín, đôi mươi
Mang danh hiệu quang vinh: “Đồng chí”!
Ta gặp Đảng như con gặp Mẹ!
Ta lớn khôn, mạnh mẽ, trưởng thành
Chín năm ròng làm một “chiến binh”
Thật vinh dự nhưng cũng đầy gian khổ
Nhớ những ngày:
Trên chiến trường Thừa Thiên, Quảng Trị
Khoai sắn, rau bay nuôi sống con người
Một bộ áo quần rách nát tả tơi
Không chăn chiếu, không giầy, không dép
Nhớ những hôm lên cơn sốt rét,
Viên thuốc vàng pha hàng lít nước chia nhau
Nhớ hôm nào ra trận lần đầu,
Tim đập mạnh, tay run run, sợ chết!
(Có những phút phải đấu tranh mãnh liệt
Lấy lòng tin chiến thắng những sai lầm).
Kháng chiến trường kỳ chồng chất tháng năm
Xa quê mẹ cũng thêm năm, thêm tháng…
Tuy xa cách, nhưng ta hằng ước vọng
Một ngày nào trở lại thăm mình
Thăm bà con thân thuộc, gia đình
Thăm cảnh cũ, người xưa đang mong ngóng!…”
                                                  “Quê hương” – Lê Phương
Đại đội trưởng Lê Phương (trái) cùng đồng đội trên Cầu Thê Húc (Đền Ngọc Sơn) trong những ngày đầu tiếp quản Thủ đô Hà Nội.
Đại đội trưởng Lê Phương (trái) cùng đồng đội trên Cầu Thê Húc (Đền Ngọc Sơn) trong những ngày đầu tiếp quản Thủ đô Hà Nội.
                              
           Chắc do ước vọng quá giản dị có phần tội nghiệp này “thấu tới trời xanh” ít nhiều hay sao ấy, nên khoảng đầu năm 1955, không biết bằng con đường nào rất bí ẩn, chỉ có thể là con đường “gián điệp” mới thành, mà Mự tôi (Cụ Ngô Thị Kiêm – , Sinh: 12/8 Bính Ngọ (29/9/1906) – Từ trần: 18/9 Mậu Thìn (28/10/1988) nhận được một bức hình trơ trọi không phong bì, không mảnh giấy bọc của con trai Lê Phương, được ai đó đưa tới và bỏ ở hàng rào đầu ngõ nhà tôi; trong khi con người “bằng xương bằng thịt” của anh – sau 9 năm trời đi kháng chiến chống Pháp, không được về nhà vì gia đình đang bị quy thành phần giai cấp “Địa chủ”(?)!

 Bức hình ngỡ vô thức mà đã làm một nhiệm vụ thiêng liêng là “thay thân xác” người con yêu dấu để về với mẹ già của mình đang mòn mỏi ngóng trông từng giây từng phút. Chân dung anh có nước ảnh màu “nâu đen”, cỡ 4×6; áo sơ mi trắng, nét mặt hơi ngước lên, nên nhìn cổ cứ cao cao. Cả nhà mừng lắm. Mừng đến mức, quên sạch tình cảnh đói rách, lầm than đang bí bích, không lối thoát hằng ngày!
           Nhưng ngày ấy, Mự tôi ( tức Mẹ tôi) cũng không thể biết, vì sao sáng sớm trên bờ rào vườn nhà (rào bằng củi “ran” từ nhiều năn trước), có ai đó cố tình tới giắt tấm hình lại chính của người con trai cả mình còn nguyên mới màu thuốc, ở vị trí dễ thấy, khiến người nhà ra là nhặt được liền? Câu hỏi cứ thường trực, lửng lơ trong đầu Mự theo thời gian trôi tận đến ngày về cõi cửu tuyền trong vòng tay anh cả.

Mấy chục năm trước, khi mẹ con sum vầy trong đoàn tụ gia đình; Mự đã không quên hỏi lại chuyện bức hình về nhà “như ma đưa” ấy thì anh trai cho biết, bức hình gửi về theo đường “dây thép” bình thường (bưu điện), địa chỉ tên làng cũ Hòa Ninh (tên mới theo CCRĐ phải là “Chòm Phú Hòa, xã Quảng Hòa”). Bì thư chỉ có tên người nhận là ả Liệu tôi (Chị Lê Thị Liệu), không ghi tên người gửi (Lê Phương).
Bên trận địa pháo – Ô Cách, Gia Lâm – Hà Nội (1954)
Bên trận địa pháo – Ô Cách, Gia Lâm – Hà Nội (1954)
          

 Trong thư là tấm ảnh cùng tờ giấy pơ luya mỏng được viết đôi ba dòng với thông tin: con còn sống, khỏe mạnh; nhớ thương ông Ngoại, cha mẹ, anh chị em, quê hương chòm xóm…Tuyệt nhiên không cho biết đang làm công việc gì, ở đâu – Anh tôi dường như cũng đã lường trước bao bất trắc đường trở về nhà và tác động trực tiếp của bản thân bức thư này đối với địa phương cũng như gia đình, nên mới như vậy. Có lẽ thư về tới làng đúng vào những ngày gia đình tôi bị Đội CCRĐ quy thành phần địa chủ, Mự tôi đang bị đấu tố, nên người ta đã xé phong bì để kiểm duyệt rồi vứt bỏ tất cả vào đống rác trên xã.

Phải là một người rất lớn tuổi trong làng, một người già nhưng có trí nhớ khá tốt, bởi sau gần chục năm mà vẫn nhận ra mặt mũi anh trai tôi – Thằng Cu Chắt (tên hồi nhỏ anh Lê Phương). Người này cũng phải là người “nằm lòng” lắm với “thế thái nhân tình” cuộc đời và ít nhiều “dây mơ rễ má” với nhà tôi, nên dẫu tình cờ mà ngẫu nhiên nhặt được tấm hình ở đâu đó, vẫn cứ đem về giắt cẩn thận lên cành ran bờ rào cho đúng “chủ nhân” của nó. Người ta phải bỏ bức hình theo cách “gián điệp” vậy, không là chết ngay. CCRĐ đang cao trào thế này, ai mà dám dây vào nhà “địa chủ” cho mang họa.
          Hàng chục năm sau – khi đã “sửa sai” rồi, vì sửa sai là “sửa sai bằng mồm” thế thôi, nên nhiều người vẫn không muốn qua lại thân mật “tình làng nghĩa xóm” như xưa với nhà tôi, kể cả nhà bà con họ hàng nội – ngoại thân. “Người đưa ảnh” bí ẩn cũng có thể đã chết sau đó mấy năm; vì vậy đến nay, tấm hình anh trai “về được nhà” vẫn là điều đang bị phủ kín bởi không khí kỳ thị giai cấp, khủng bố cân não đến làm cho ngu dân hồi ấy. Vả lại, chuyện này giờ nghĩ lại là “kỳ lạ” thật, nên tìm hiểu rõ thêm để cùng suy ngẫm và tự an ủi nhau về một “thời xa vắng”; chứ vào những năm tháng trong – sau CCRĐ – kéo dài suốt mấy chục năm nữa, nỗi lòng ai cũng luôn nặng trĩu ưu tư nhiều thứ, thì chuyện “truy tìm” đường về nhà của tấm ảnh người anh, không phải là điều “quan trọng” để bận tâm quá nhiều…

         Tôi muốn nói vài lời về cây “củi ran”, đã là kỷ niệm của tuổi thơ – Thứ cây gỗ vô cùng cứng, bọn trẻ chúng tôi luôn dùng rạ (dao rạ) đẹo vụ (gọt con quay). Vụ đẹo bằng củi ran khi trọi (chọi) “ù” to, “ngáy” (ngủ) lâu vì “đằm” và “tít” bởi nó rất nặng. Trong cuộc trọi vụ, đinh của vụ bè hay nhọn dẫu sắc mấy cũng không bửa nổi yếm và chóp vụ. Đứa mô có con vụ gỗ ran này, bao giờ cũng nắm chắc phần thắng trong cuộc trọi. Đoàn Khắc Diệm, con ông Hội Chằn – Bạn cùng xóm tôi, là rất khéo tay đẹo vụ và trọi vụ. Có thể là nhất làng. Vụ ran chỉ thua vụ đẹo bằng cây gỗ “vàng lồ” nhiều gai sắc nhọn như lông nhím, thi thoảng có cây mọc bên các bụi tre làng, rất khó chặt (đẵn) nên hiếm đứa có. Cây ran cứng, rắn chắc, lại chịu ẩm tốt khiến vườn nhà ai cũng rào bằng loại cây củi này; vì thế tụi trẻ chúng tôi dễ dàng “ăn trộm” để mà đẹo vụ.

            Được ngắm xem bức hình anh Lê Phương, đây là lần đầu tiên trong đời, tôi biết mặt người anh trai của mình. Bởi vì tôi mới 9 tuổi, còn anh thì đi bộ đội cũng đã 9 năm rồi, ngần tuổi của tôi.Tôi tìm một mẩu giấy nhỏ bằng bàn tay rồi dán bức hình của anh lên đó; xong xuôi lại dán tờ giấy đã có ảnh anh lên tường nhà phía trên cửa sổ. Cửa sổ của bức tường gian giữa nhà ngang hướng đông, có 5 chấn song gỗ cạnh vuông.

Đây là vị trí trang trọng nhất trong nhà nên tôi đã ngắm nghía để chọn lựa mà dán ảnh anh. Ở nhà người khác (nông dân), vị trí này người ta thường treo ảnh Cụ Hồ, hoặc một câu khẩu hiệu kiểu như: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”, “Thù bọn cường hào, địa chủ muôn đời muôn kiếp không tan”, “Quyết tâm không quy sai một người, không hạ lầm một địa chủ”. Nhà mình là “nhà địa chủ”, nên không được treo ảnh của lãnh tụ và cũng chẳng có khẩu hiệu nào của Cải cách ruộng đất.

Nỗi buồn những tháng năm gia đình gặp đại họa CCRĐ(TrênTrận địa Cao xạ pháo ngoại thành Hà Nội).
Nỗi buồn những tháng năm gia đình gặp đại họa CCRĐ(TrênTrận địa Cao xạ pháo ngoại thành Hà Nội).
 
Thời gian này, cả nhà phải ở “nhà ngang”, vì “nhà nậy” (nhà lớn) đã bị “Đội cải cách” (CCRĐ) tịch thu, chia cho 3 hộ “bần cố nông” ở mất rồi. Đó là gia đình o Hai Duyển, ả Cu Bổn – mẹ vợ của ông Lương Ngọc Bính, BT Tỉnh ủy Quảng Bình hiện nay và ả Cu Đào. Ăn ở nơi nhà tôi được nấy tháng, thì thình lình đứa con gái thứ 2 của ả Cu Đào tự nhiên đau bụng rồi chết đột ngột; gia đình ả ấy lo sợ hoảng hồn đành bỏ suất nhà “quả thực” này, về lại ở chung cùng nhà bên chồng.
 
 Đến năm 1973, không hiểu sao vợ chồng ả Cu Đào quên khuấy chuyện buồn đau cũ, lại mua nương vườn này của nhà tôi. Vừa cất nhà mới xong, anh ả Cu Đào triệt hạ luôn Thiên đài (cây hương thờ ngoài trời) vô cùng đẹp và xưa cũ rêu phong, bởi được xây đắp cầu kỳ từ thời cố Nội tôi – Cụ cố ông Lê Văn Khoan – 黎文寬 (1850 – 1924), Cụ cố bà Đoàn Thị Giản – 段氏簡 (1851 – 1934), cách thời gian hạ giải ngót cả trăm năm. Thiên đài nhà tôi cao 2 tầng, mái uốn cong hình “đầu đao” mềm mại như mái đình chùa; bốn xung quanh, nhất là hai cột đỡ mặt tiền, được người khéo nghề vừa đắp nổi vừa khảm mảnh sành sứ, thủy tinh nhiều màu sắc với muôn hình hoa lá, rồng phượng và mấy loài chim muông thú thuộc “cảnh tiên” trên trời…
 
Xung quanh Thiên đài, các cụ trồng nhiều cây trái như cây thịu lịu (cây lựu), mấy cây ổi đào sát phía sau hàng rào dâm bụt luôn có bao nhiêu hoa đơm, đong đầy đỏ rực như những “chùm lửa”. Chạy dọc vườn là hàng cau trĩu quả (cả vườn nhà có tới vài ba chục cây cau), đặc biệt 2 cây sát Thiên đài luôn được chim rặt rặt (chim sẻ) chọn làm tổ và thi thoảng vài con kheéc (chim khách) chuyền cành báo cho biết sắp sửa nhà có khách hoặc tin vui; rất nhiều chim manh manh, chim chìa vôi, chim chào mào đậu vắt vẻo trên tàu cau, còn líu lo hót nghe rất vui tai. 
 
Phía trước sát chân Thiên đài được vun trồng tỉa tót nhiều cây hoa cây cảnh như năm – sáu khóm hoa hiên, hoa mẫu đơn, hoa hường (hồng nhạt), hoa lài (nhài); một cây tùng cảnh uốn lượn mình rồng, hai cây vạn tuế chầu hai bên; cùng ba – bốn hòn đá lèn có vô số hang nhỏ xuyên tâm hình thù kỳ dị của chốn mê cung như trong chuyện cổ tích để làm “hòn giả sơn”. Lại còn mấy chậu cảnh trồng cây rẻ quạt, cây lô hội, cây quế, cây hương nhu – rặt là cây thuốc nữa. Sau cú xóa bỏ bất thường Thiên đài vài năm, cô con gái út (sinh sau CCRĐ nhiều năm) đang học trường PT cấp 2, độ15 – 16 tuổi “trăng tròn” của anh ả Cu Đào, theo chúng bạn vào tận vùng rừng Xuân Sơn – Troóc (Bố Trạch), cách quê tôi khoảng 20 – 25 cây số đường sông, để hái củi. 
 
Khi đang trên Rào Son (Rào Nan) trở về bến Hói Đồng (Hòa Ninh), thuyền bị lật giữa dòng nước xiết làm em gái chết đuối vô cùng đau thương, oan uổng. Phải mấy ngày sau mới vớt được xác. Nay tôi không còn nhớ tên em gái nhỏ này nữa, nhưng nước da trắng nõn cùng thân hình mũn mĩm và mái tóc dài suôn đen óng ánh của em thì không thể nào quên được. Sự vụ tai ác ập đến quá tội nghiệp, khiến nhiều lời đồn đại nổi lên, chắc đến tai anh ả này; nên sau đó không lâu, gia đình lại phải dựng lên một “Thiên đài” mới kiểu cách “đơn giản”, chứ nhà anh ả Cu Đào làm sao có tiền của để thuê thợ giỏi các nơi về làm lại như xưa được; âu cũng nhằm sửa lại lỗi lầm “phạm thượng” trời đất thổ thần nơi ở mới. 
 
Mà vùng tôi, đâu còn ai có nghề thâm hậu như “đời sơ” nữa để mà thuê. Tuy vậy từ bấy đến nay, cũng phải 40 năm rồi, con cháu anh ả Cu Đào có cuộc sống yên ổn. Riêng anh ả Cu Đào qua đời 10 - 20 năm nay do đau ốm và tuổi già. Ả đi trước, anh đi sau. Anh Cu Đào cùng họ Đoàn xa bên Mệ Nội tôi – Cụ Đoàn Thị Diệp (Mệ nội Đòan Thị Diệp 段氏燁 – Sinh năm 1879 (?), từ trần ngày 13/3/Bính Thân (1956), số phận như tôi đã kể trong “Đám tang mệ Nội tôi – Nghịch lý thời Cải cách ruộng đất”. Không biết thưa với hương hồn anh ả như thế nào, nhưng tôi không bao giờ tin dưới suối vàng các cụ, ông bà Họ Lê của tôi; các bậc thần linh trong khu vườn, lại có thể làm điều gì đó để “phạt” gia đình, nên hai lần “trùng lai” gặp đại họa, đau thương ngút trời như thế.
 
Cụ Ngô Thị Kiêm - 吾 氏 縑 , Sinh: 12/8 Bính Ngọ (29/9/1906) – Từ trần: 18/9 Mậu Thìn (28/10/1988)
Cụ Ngô Thị Kiêm – 吾 氏 縑 , Sinh: 12/8 Bính Ngọ (29/9/1906) – Từ trần: 18/9 Mậu Thìn (28/10/1988)
           Quay trở lại để nói về gian giữa nhà ngang là nơi đặt cối giã gạo, giã đậu lạc ép dầu. Mự tôi có nghề ép dầu lạc dầu vừng, dầu hạt bông (dầu hạt bông lấy sợi, chuyên để thắp sáng). Về sau này, tôi thường được mự giao giã gạo nếp ngâm rồi rây ra bột, để mự làm bánh rán bán ở chợ Trường. Khi không giã gạo giã đậu, thì vần cối sang một bên để mắc võng nằm (võng gai). Đấy là nói thời gian chưa bị “địa chủ” và sau ngày “sửa sai” được trả lại thành phần “tiểu thương” thì nhà mới có cối, có các thức đó để giã.

           Làm gì mà tiểu thương? Nhà thuần nông, chỉ vào tiết “nhàn” thì thi thoảng Mự tôi mới nấu nồi cháo canh, làm vài trăm chiếc ram rán (miền Bắc là “nem”) đi chợ Trường, chợ Mới (Minh Lệ), chợ Thọ Linh (Quảng Sơn), chợ Đồn bán. Hoặc là vào Khương Hà, Troóc, Phù Mỵ mua dưa trấy (trái), rau cải; lên Lệ Sơn (Văn Hóa, Tuyên Hóa) mua trù (trầu) cau chỗ ni (này) bán sang chỗ khác – là “buôn thúng bán mẹt” ấy. Dân ở Hòa Ninh, buôn bán kiểu ni để kiếm thêm tiền phổ biến tới gần nửa thôn.

          Bên cạnh của sổ, kê một “tấm bổ” (tấm ván to ghép khoảng 3 – 4 tấm ván mỏng với nhau dùng thưng che hai bên giường thờ). Nhà tôi là “trưởng họ” nên có giường thờ to rộng bằng gỗ gõ (gỗ gụ), gọi là “giường Tàu” (kiểu Tàu), không phải bàn thờ nhỏ như mọi nhà khác. Khi người ta đến thu hết giường, tủ, bàn ghế, phản gọ và tất thảy mọi tài sản (ống nhổ, nồi niêu soong chảo, chén bát, chai lọ, cối giã gạo… đều bị thu) làm “của thực” (tài sản địa chủ); còn người thì bị đuổi ra khỏi nhà nậy để cho nông dân vào; mấy mẹ con buộc phải dỡ các tấm ván bổ từ gian giữa nơi đặt giường thờ nhà nậy, chuyển xuống nhà ngang để kê làm chỗ nằm. Tai ương của “Cải cách ruộng đất”, nó tàn ác như vậy. Đến nơi thờ phụng ông bà tổ tiên nhà người ta, cũng không được yên; người sống thì khổ cực muôn bề.

           Vào giữa năm 1956, trong một đợt anh Lê Phương bị ốm, phải vào nằm điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tâm trạng buồn nhớ và nhiều điều khác nữa thôi thúc, anh đã viết cuốn hồi ký mang tựa đề “Tiếng lòng của tuổi xuân”. Tác phẩm “Tiếng lòng của tuổi xuân” là khúc tráng ca văn xuôi, dung lượng chủ yếu dành viết về đời sống chiến đấu của anh và đồng đội trên khắp mọi chiến trường của cuộc kháng chiến chống Pháp mà anh từng góp mặt. Thấp thoáng trong đó vẫn là những “tiếng lòng” của một chàng trai trẻ hướng về gia đình, quê hương – Nhất là người mẹ già vô cùng yêu kính của anh. Xin trích một đoạn dưới đây:


           …“Kháng chiến thành công, hoà bình lập lại. Mọi người reo vui vì máu lửa đã ngừng, tang tóc đã chấm dứt. Làm sao nói hết được nỗi lòng người mẹ trong ngày thắng lợi của Tổ quốc được đi đón những người con yêu quý trong khói lửa trở về. Làm sao nói hết được nỗi vui mừng của những đứa em trong ngày hội hoà bình của non sông cầm cờ đỏ, cờ xanh hoà bình vẫy chào những người anh bộ đội…
        Trong nguồn vui chung của dân tộc, mẹ tôi hằng mong đợi – ước mong rất thông thường và tất nhiên của người mẹ, người em: chờ đợi và chờ đợi…người thân thương nhất của mình. Nhưng tôi vẫn chưa thể trở lại quê hương để thăm mẹ, gia đình, bà con thân thuộc bởi ở nhà đang bị quy thành phần “địa chủ”; trong khi các bạn đồng đội khác có cái may mắn hơn được sống những ngày đượm tình ruột thịt trong lòng quê hương đã giải phóng.
        Trong những ngày sau hoà bình mới lập lại, trong bộ đội nhiều đồng chí muốn về thăm quê như tôi. Nhưng vì trên cương vị “một chiến sỹ nhân dân” lúc đó, tôi chưa thể nghĩ đến niềm vui đó được. Tôi biết nơi quê hương xa xôi kia mẹ, chị gái và các em tôi mong mỏi lắm. Sai lầm của CCRĐ đã làm tiêu tan nỗi ước vọng của mẹ, chị và em tôi. Đau thương đã đến với người mẹ già vô tội và những đứa em thơ ngây… Mọi người đã biết lúc đó mà ai mang hai tiếng “địa chủ” thì cuộc sống vật chất lẫn tinh thần sẽ như thế nào?”…
                  (Hồi ký “Tiếng lòng của tuổi xuân” – Lê Phương)
             Cũng tấm lòng đó, tâm trạng đó, nên trong bài thơ dài (trường thiên, ngót nghìn câu) – “Quê hương”, khi nói về hoàn cảnh này của mẹ và các em, câu thơ anh Lê Phương dường như quặn thắt, ngẹn đắng lại và đặc quánh:
“Con biết mẹ vừa qua cơn sóng gió
Nỗi sai lầm đổ vỡ đau thương
Bao tháng trời củ chuối thay cơm
Sống cô quạnh, bơ vơ, lạc lõng…
Thương các em thơ ngây bé bỏng
Tuổi măng non đáng được học hành
Nhưng rồi trong bão táp điêu linh
Đành cam chịu những điều oan trái
Trước cảnh đó mà lòng con tê tái
Một vết thương đau nhói trong lòng…”
                                           “Quê hương” – Lê Phương
         Mãi mấy chục năm sau nữa, khi Thân mẫu – Cụ Ngô Thị Kiêm đã qua đời, anh Lê Phương cũng về cõi “Vĩnh hằng” với tổ tiên ông bà, nỗi đau xé lòng đó vẫn in đậm trong tâm khảm con cháu:
                             “Có đêm lạnh bỏ nhà làm mẹ khóc
                             Câu Kiều xưa khua dậy tâm hồn con
                             Chiếc đòn gánh tre bao mùa đổi thóc
                             Nồi cháo canh tần tảo sớm hôm
                             Chợ Đồn chiều nào con Siêng* lạc
                             Cả nhà buồn da diết một cơn mưa
                             Đêm đói bạc hồn hồi “Cải cách”
                            Giết mèo ăn đau đến mấy mùa…”.
                            “Mười lăm năm, mẹ ơi…!”- Lê Quang Vinh

          (*Tên con chó cái bị “nân” không đẻ được, có lông loang hai màu vàng đen, chó “bốn đeo bốn mắt”. Đeo – móng vuốt phụ, mọc hai bên chin (bàn chân). Mắt cũng chỉ có 2 thôi, nhưng mỗi bên gần mắt, cả đám lông màu vàng lại mọc chồng một đốm lông màu đen hình tròn bằng con mắt, nhìn cứ như có mắt phụ. Nó khun (khôn) hơn tôi khi hồi còn nhỏ. Con Siêng luôn mừng vui hết cỡ lúc chủ về; biết nằm lỳ ở thềm để trông giữ nhà, không như tôi có đứa bạn mô đến kêu là chạy mất tích. Mự và các chị không biết “nỏ mô”(chỗ nào) mà tìm).
          Bức hình anh Lê Phương đầu tiên trong đời gửi về nhà sau 8 – 9 năm xa cách cha mẹ, gia đình, quê hương…được tôi dán nơi tường đó, khiến mự ưng ý lắm. Suốt ngày, cả đêm nữa – khi chưa đi ngủ, dưới ánh đèn dầu, mự và ba chị em tôi (Liệu, Lài,Vinh) luôn nhìn ngắm con trai, anh trai yêu dấu của mình.
Cho đến tận cuối tháng 10 năm 1956, sau “Sửa sai”, anh Lê Phương mới được sum họp bên Mẹ già, chị em tôi và quê hương.

Anh viết:
 …“Tôi trở về trong một sớm mùa đông
Bấm đốt ngón tay chẵn chín năm tròn
Bao thay đổi, ngập ngừng bỡ ngỡ
Mẹ còn đó và các em còn đó

Mẹ còn đó và các em còn đó
Chín năm rồi mới gặp gỡ hôm nay!
Mẹ ơi con đã về đây
Tuổi già mòn mỏi những ngày đợi trông”…
                      “Quê hương” – Lê Phương


Anh Lê Phương chăm sóc Mẹ khi cụ Ngô Thị Kiêm đang mệt nặng tại nhà riêng ở Khu tập thể PKKQ – thôn Hòa Mục, phường Trung Hòa, Q.Cầu Giấy, TP.Hà Nội.
          Anh trai vừa về đến nhà, đặt vội ba lô xuống đất, liền ôm chầm lấy Mự, cả hai nước mắt lưng tròng. Mự tôi ôm ghì lấy con trai, giữ chặt anh rất lâu như thể không thể để con xa mình thêm bận nữa. Không thể và không thể! Tôi đứng đó, bỗng như “hóa đá”, trong người mất hết hồn vía, lạnh toát và rum làm tôi phải cương người ra mới đứng vững. Run nhiều, rất nhiều.

Như người “chết giả” vậy. Đời tôi tính từ khi đã biết được mấy thứ, đến giờ 68 tuổi, chưa từng và gặp lại một lần bị run như thế. Tôi không nói được câu nào để “Chào anh”, hay “A…anh!”…như cảm thức thông thường. Rồi anh nhẹ gỡ vòng tay Mự ra, để quay lại phía 3 chị em tôi: Liệu – Lài – Cu Em (Vinh), khi đó người tôi cũng tự nhiên mềm nhũn trở lại, chắc trong đầu đã có hồn vía nhập vô rồi, khi đó tôi mới bật khóc. Bật khóc vì tủi hờn, bật khóc vì sung sướng. Các chị gái tôi đều trân trân như thế cả. Mắt đỏ hoe. Thật lạ lùng. Giây phút xúc động này, trong bài thơ “Quê hương”, anh tôi đã kịp lưu lại:
“Mẹ ơi! Chín năm xa, hôm nay về thăm mẹ
Trong gia đình tuy có sứt mẻ đau thương
Cha thân yêu bạo bệnh* không còn
Khi con đang trên đường ra mặt trận
Mẹ ơi!
Con đã thắp hương khóc cha bằng súng đạn
Nơi chiến trường cùng anh em bạn lập công
Chiến thắng trở về cha chẳng được gặp con
Nhưng nơi chín suối chắc cha sẽ mỉm cười kiêu hãnh
Vì con đã làm đúng lời cha yêu kính
Lúc sinh thời thường căn dặn chúng con
Hứa trước linh hồn cha và trước mẹ yêu thương
Lê Phương sẽ là người con xứng đáng”…
                                   “Quê hương” – Lê Phương
                 Cha tôi – Cụ Lê Duy Tiếu – Tục danh: Chắt Tíu, sinh năm Nhâm Dần (1902); mất ngày 26/10/năm Mậu Tý (26/11/ 1948), lúc tôi mới 18 tháng tuổi. Thời gian này, anh Lê Phương đang đánh nhau trên vùng giáp ranh của Chiến khu Ba Lòng – Thừa Thiên Huế. Chị gái thứ 2, Lê Thị Hạnh Phúc công tác tại cơ quan Hội Phụ nữ Cứu quốc huyện Quảng Trạch, Tỉnh Quảng Bình – Chị là Hội trưởng (hồi đó gọi là “Bí thư Phụ nữ huyện”); đóng ở vùng rừng núi Phúc Sơn, Tuyên Hóa – Chiến khu phía Tây Bắc Quảng Bình. Trước đó mấy năm, cha đưa cả gia đình lên tản cư ở vùng Mỹ Sơn – Vọng Liệu sát Hà Tĩnh, giáp biên giới Việt – Lào.

Địa danh này nổi tiếng “thâm sơn cùng cốc” in dấu trong câu hát ru em: “Ai lên Vọng Liệu mà ngồi ghế mây” (ghế không phải làm bằng cây song mây rừng, mà là “mây” trên trời cao ấy). Đây là chốn “rừng thiêng nước độc”, do đó Cha bị “ngã nước” sinh bệnh mới trên nền bệnh “lao lực” cũ. Khí hậu khắc nghiệt miền núi cao, một ngày có tới “bốn mùa”, muỗi vắt nhiều…lại thiếu thốn đủ bề; sức Cha không chịu nổi đành phải về lại quê nhà. Lúc này, Mự tôi bàn với con rể là anh Nguyễn Tương (chồng chị gái thứ hai) – Cán bộ cao cấp quân đội thời đó, đưa cha ngược đò dọc theo nguồn Rào Nậy (nhánh chính của Sông Gianh)  lên vùng Chợ Gát – Minh Cầm (Tuyên Hóa) để ông Thông Dư – Thầy thuốc Tây y, anh ruột Nhà thơ Lưu Trọng Lư (Hiệu thuốc “Lưu Trọng Dư” ở Ba Đồn tản cư lên), tích cực chạy chữa bằng thuốc tân dược buôn từ vùng tạm chiếm ra.

Anh Nguyễn Tương khi mới “Cướp chính quyền” (1945) là Huyện đội trưởng Huyện đội Quảng Trạch, năm 1947 là Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Bình, rồi chuyển qua làm Chính ủy Trung đoàn 18 (Quảng Bình)… Nghe nói thời gian trước khi chữa bằng Tây y, cách đó 1 – 2 năm, thầy Quỳnh người Hà Tịnh (Hà Tĩnh), Cụ Lý Huỳnh (thầy mạch giỏi, lại là anh họ Mự tôi ở bên Phường quê ngoại), trực tiếp kê đơn bốc thuốc Bắc điều trị cho Cha. Tất cả mọi cô gắng thế, nhưng vì bệnh quá nặng, Cha tôi dần suy sụp rồi bị thổ huyết qua đời ở tuổi 46 (lao phổi). Thật quá đau lòng.

Ôi, những ký ức sau hơn nửa thế kỷ rồi, vẫn buồn đau và tức tưởi trong tôi. Viết tới đây, nước mắt dàn dụa tuôn trào vì thương nhớ mự, thương nhớ anh khôn xiết…
                                                                              LQV
    (12giờ 45’, ngày 24/12/2012 – 5 giờ 35’ ngày 20/8/2014)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=460841

[1] Đau thương.
Xúc động quá.
Vừa đọc vừa rơi nước mắt.
----------------
Bà Nội tôi sinh năm 1890. Ông Nội sinh năm 1874 (hơn Bà Nội 16 tuổi). Ông Nội mất tháng 10 năm 1922, trước lhi Cha tôi ra đời 3 tháng. Khi ấy Bà Nội 32 tuổi. Bà mất năm 1962.

Cha tôi sinh năm 1922, cuộc đời rất giống Anh Phương.
[góp ý]| Viết bởi Cung Cảnh |22 Aug 2014, 13:28

[2] Cảm xúc tràn mi!!!!! Nhớ bà và cậu Phương quá!
Cháu cứ đọc đi đọc lại vì bài viết làm cảm xúc trong cháu dâng tràn, nghẹn lòng. THƯƠNG-XÓT bà và cậu Phương quá. Và cháu nhớ về ký ức khi còn nhỏ- lúc đó có bà, có cậu Phương. Bà và cậu Phương luôn nhân ái, hết lòng thương con thương cháu. Cháu vẫn ân hận vì khi còn nhỏ, cháu mải chơi mà chưa biết giúp, chưa biết chăm bà. Cháu vẫn trào nước mắt mỗi khi nhớ lại ngày xưa: Bà đã già, hơn 80 tuổi rồi, đi lại khó khăn vậy mà có hôm bà đã xách làn ra chợ Hôm nhặt lá bắp cải già rồi lại khệ nệ xách chiếc làn nặng đầy rau bước từng bước khó nhọc lên tận tầng 4 (để cho gà ăn). Mẹ cháu về biết được, xót bà nên đã la, dặn bà lần sau không cần như vậy. Khổ thân bà quá! Bà và cậu Phương ra đi khi cuộc sống còn quá nhiều khó khăn, chúng cháu còn nhỏ, thời gian được quây quần bên bà bên cậu Phương sao quá ngắn ngủi!
[góp ý]| Viết bởi Pham Le Hoa |22 Aug 2014, 16:57

[3] nỗi đau
Một người lính hy sinh đóng góp vào kháng chiến bảo vệ đất nước mà phải lén lút về nhà như một tội phạm. Thật là chua xót.
Khi nhắc về CCRĐ, các dư luận viên sẽ nhảy vào với luận điệu quen thuộc "sự việc đã qua ngót 60 năm và đã có sự nhìn nhận sai lầm, xin lỗi từ Nhà nước"
Nhưng "Hàng chục năm sau – khi đã “sửa sai” rồi, vì sửa sai là “sửa sai bằng mồm” thế thôi ... ". Đúng vậy.
Sai lầm sẽ được bỏ qua và tha thứ nếu người phạm lỗi thành thực nhận lỗi và sửa sai. Nhưng đảng và nhà nước có thật tình sửa sai CCRĐ không ? Thực tế là sau cái gọi là "sửa sai" dối trá đó, các gia đình nạn nhân CCRĐ vẫn phải chịu sự đối xử bất công tàn nhẫn, tài sản vẫn bị đảng cướp đoạt.
Giả vờ nhận sửa sai bằng mồm chỉ để xoa dịu tình hình lúc đó, bề ngoài mà thôi. Thực tế bên trong là đảng đã ăn mừng CCRĐ thành công, đã cướp đoạt thật nhiều ruộng đất tài sản từ tay người dân.
Bức hình sau "Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương cho các cố vấn Trung Quốc
 cuối năm 1955"
 
[góp ý]| Viết bởi Thuỷ Tinh |22 Aug 2014, 17:26

[4]
Hồi đó mình còn nhỏ, bị tuyên truyền chẳng biết gì hết. Vừa rồi xem lại tư liệu về đánh nhân văn giai phẩm thấy cũng ghê quá...
[góp ý]| Viết bởi p |22 Aug 2014, 18:08

[5]
Xin-loi la xin-loi gi? Do la TOI-AC.
Mang nguoi khong phai la "con sau cai kien", tan-hai bao nhieu gia-dinh hien-lanh vo-toi ma xong viec roi van con cuoi duoc? khen nhau duoc?
 Cho den bay gio, tat-ca nhung su-kien, nhan-vat, ma di theo no la toi-ac ghe-tom da lo mat, da phoi-bay nhung dieu ma nguoi co thien-luong khong ngo duoc...Nhung nhan-vat "vi-dai" ay chi biet va thuc-hien mot cach tan-tinh theo duong loi cua ngoai-bang "chi day"!
[góp ý]| Viết bởi Van Ha |23 Aug 2014, 11:41

[6] Bài viết cho cháu hiểu thêm về lịch sử và quá khứ
Cháu đọc bài viết này không thể kìm được nước mắt. Sự thật quá phũ phàng với kiếp người của một thời loạn lạc. Qua bài viết cháu như thấy bức tranh bi ai về cảnh sống cơ cực lầm than, mọi con  đường sống dường như bị bủa vây bởi thói sống ích kỷ, bởi cái nhìn cùn mằn, bởi lòng tham lam đố kỵ giữa con người với nhau trong cái biến cố lịch sử hãi hùng đó. vậy mà mọi thành viên trong gia đình chú vẫn vươn lên, khẳng định cái tâm trong trí sáng và tình thương yêu đùm bọc qua nỗi đoạn trường. Qua bài viết này, cháu càng hiểu được thêm về một thời khắc một thời khắc lịch sử vô cùng tàn nhẫn  và kinh hoàng đó. Bài viết đáng trân trọng và rất xúc động. 
[góp ý]| Viết bởi Hà Dung |24 Aug 2014, 17:13

[7] Gửi tặng Anh Lê Quang Vinh.(Đăng bởi Nguyễn Công Minh)
Lương giáo Hòa Ninh
                       “Giáo lương thì cũng một làng,
      Đồng cùng chung gánh đường làng cùng đi.
                        Mỗi người một đạo thì tùy,  
                Miễn sao có ngãi có nghì với nhau.”
                                                                                                                   (Ca dao Hòa Ninh)
Làng Hòa Ninh son trẻ
Ba giáp nối thanh thanh
Yên vui đầm ấm thôn lành
Hai nhánh sông Gianh vươn mình mát mẻ.
Làng Hòa Ninh xôn xao như cô gái dậy thì
Có mái đình dõng dạc uy nghi
Bên giáo ngự thánh đường lồng lộng.
Cày cuốc giáo lương chung đồng ruộng
Khoai mùa về, bột xé nghẹn cả đôi bên
Nước ngọt quanh năm chung giếng đầu làng
Chuông giữ cá, hạn về chung nhau tát.
Ngày mùa đông, chung che tơi bên giáo
Nắng vàng mùa hạ, chung nón lá bên lương
Những lớp con làng,chung một sân trường, chung thầy giáo,Chung phập phồng,hỏng đậu những mùa thi.
Nhớ khi xưa,lương giáo Hòa Ninh.

Suốt mấy năm ròng,cách biệt một đàng ngang
Thành hào đắp, chặn tình trên dưới.
Trong veo nước ngọt giếng Bàu
Giặc ngăn cản,nhớ thương gàu xóm dưới
Khoai đội nứt vồng, vắng người đi bới
Bông chiều trắng xóa, rụng xuống rác vùi.
Nhà cháy, người đi,trường xơ xác, ruộng đầy cỏ dại.
Chuông thánh đường thành coòng hương vệ
Giáo lương, phiên chợ nhìn không sửa mặt nhau!
Chao ôi làng xóm tơi bời,lương giáo cùng đau khổ.
Vắng giữa canh khuya, có người bên giáo
Băng qua thành gánh nước biếu bên lương
Nước ngỡ ngàng ngọt thắm tình thương
Tình lương giáo chung soi lòng bát nước.
     Căm uất cháy rồi, không tắt được
Một đêm kia nín thở,thì thầm du kích chôn bom
Bộ đội về làng,kèn lanh lảnh, lửa bừng chiến thắng.
Thôn xóm reo lên,xé toang đồn, đập nát thành ra.
     Bộ đội hôm qua về bên giáo
Nghe vang từng câu hát ru em
"Ai ơi, Em thì nỏ kể giáo lương
thuyền Việt Nam vững lái
Cứ thuận đường theo sông"
     Trời bừng sáng !..

Hoàng hôn rơi tiếng chuông ngân
Hòa Ninh đóng lúa nuôi quân rộn ràng
Hòa bình rồi, lại đầm ấm giáo lương
Em bé trở về,trường lại vang tiếng hát
Trai gái sớm chiều vui gánh nước
Hàng tre ton tả, đậm lá đậm màu
Lúa xum xuê, xanh mượt cánh đồng
Quên hẳn một thời xưa tẩm máu.
 
                                    Nguyễn Anh Tài
                                       Tháng 4/1952
[góp ý]| Viết bởi Nguyễn Công Minh |25 Aug 2014, 10:54

[8]
Cháu vốn không được tiếp xúc hay nói chuyện nhiều với Cậu Phương, nhưng lúc nào cháu cũng cảm nhận Cậu Phương là một con người hiền từ, nhân hậu. Trước đây cháu chỉ nghĩ thương cậu Phương ở chỗ lúc Cậu còn sống thì cuộc sống khó khăn, nhà nghèo. Nay nhà khá giả hơn thì Cậu không còn nữa. Chắc Cậu đang phù hộ cho gia đình mình ngày càng khấm khá, tốt đẹp, các anh/chị cũng có cuộc sống vững vàng hơn. Cậu ra chiến trường bao nhiêu năm còn không biết ngày trở lại, thế mà chiến thắng lại không được trở về nhà, chỉ dám báo tin "chui" với gia đình tình hình sức khỏe của người con đi chiến đấu cho Tổ quốc. Cảm giác này còn đau khổ gấp trăm ngàn lần cái cuộc sống vô cùng khó khăn của gia đinh mà cháu được biết. Đọc thơ cậu Phương mà thấy như rút từng khúc ruột, xót xa vô cùng.
[góp ý]| Viết bởi HienPL |25 Aug 2014, 12:23

[9]
Tôi đọc bài viết của anh mà thấy lòng nghèn nghẹn. Với gia đình tôi, nơi quê ngoại anh cũng xẩy ra việc đau lòng tương tự, do CCRĐ gây nên. Cám ơn anh đã góp thêm một chi tiết sự thật của lịch sử, để con cháu chúng ta hiểu thêm và hiểu đúng...
[góp ý]| Viết bởi Quang Hải |28 Aug 2014, 16:43

[10]
Con gái ngồi đây, ở nước Anh xa xôi thời tiết đang chớm vào đông, đọc từng chữ tững câu bài viết của Bố mà lòng thật nhiều cảm xúc, nước mắt nghẹn ngào rơi... Thương xót quá những mất mát, đau thương và oan ức mà Bà Nội, các Bác và Bố đã trải qua... Trong đầu con lại hiện về những hình ảnh của Bà và Bác Phương lúc cuối đời... Con còn nhớ như in hình ảnh Bà gầy gò nằm ở cái giường nhỏ nơi góc nhà Bác Phương... Mái tóc Bà bạc lơ phơ, da nhăn nheo lấm chấm đồi mồi...

Con còn nhớ như in những buổi chiều Bố Mẹ đưa còn vào viện Quân y 108 để thăm Bác nhưng nào con có được thực sự vào thăm( Bác kiên quyết không cho con vào vì sợ con sẽ lây bệnh của Bác) thế là con cứ tha thẩn chơi ngoài sân bệnh viện, mải mê nhặt những hạt đỏ đỏ từ trên cây rụng xuống nhiều mà con không nhớ tên nổi là cây gì... Đó là những ký ức nhỏ nhoi nhưng rõ ràng nhất của con về Bà và Bác... Đọc hồi ký của Bố xong mà lòng con nhớ nhà quá.... Chỉ mong Tết đến thật nhanh để lại được về quê hương nơi có Bố Mẹ luôn chờ đợi các con và cháu Lily.
[góp ý]| Viết bởi Con gái Quỳnh Giao |28 Aug 2014, 17:53

[11]

Cháu vô cùng xúc động khi đọc bài báo này, bài viết đã làm sống lại những kỷ niệm đầy tự hào đan xen những ký ức đau thương, chua xót nhưng lấp lánh tình cảm thiêng liêng ruột thịt của gia đình mình. Cháu không được chứng kiến thời khắc  lịch sử đau thương nhưng cảm nhận được những tai họa khôn cùng của CCRĐ đã giáng xuống những gia đình ưu tú, những con người ưu tú. Khi nói "ưu tú" là vì những gia đình đó, con người đó đáng được vinh danh , đáng được nhận rộng  thì lại bị vùi dập tra khảo cho đến chết  và tệ hơn cả cái chết đó là sự trớ trêu, nghiệt ngã  mà những ng đó phải hứng chiu: đó là đem của cải, xương máu, tuổi xuân... đi theo, cống hiến cho đất nước nhưng cái nhận lại được là sự đấu tố, bao vây về tinh thần, bị chia cắt tình cảm ruột thịt, hành hạ thể xác, tịch thu tài sản, chết đói ( cụ nội), tù đày, ghẻ lạnh không biết chết lúc nào, mồ mả ở đâu ( cụ ngoại), những người sống thì không bằng chết vì sự ghẻ lạnh, quay lưng bởi chính đất nước họ phục vụ. Năm 2005, nguyên Thủ tướng Việt Nam Võ VănKiệt nhìn nhận: "Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế." Viết đến đây cháu vô cùng xúc động, nước mắt tuôn trào thương Bà, Ba, các O và Chú quá!
    Chỉ bằng câu chữ ngắn gọn :" người lính thật thà, hồn nhiên đến khó tin" chú đã khái quát được cái thần của Ba cháu! Đoạn thơ chú trích dẫn thật xúc động không chỉ hình ảnh về Ba cháu mà con là hình ảnh cả 1 thế hệ lúc bấy giờ.
“...Tuổi thư sinh dạn dày sóng gió

Đôi chân non trong khói lửa trường chinh
Càng đi nhiều, càng lại săn gân
Luôn vững bước dưới cờ Cách mạng
Theo tiếng gọi thân yêu của Đảng
Dâng trái tim, hiến cả cuộc đời
Đẹp vô cùng tuổi mười chín, đôi mươi
Mang danh hiệu quang vinh: “Đồng chí”!
Ta gặp Đảng như con gặp Mẹ!
Ta lớn khôn, mạnh mẽ, trưởng thành
Chín năm ròng làm một “chiến binh”
Thật vinh dự nhưng cũng đầy gian khổ. "

 “Quê hương” – Lê Phương

  
    Thường những người chiến thắng được mọi người tung hô, vinh danh, đón chào vậy mà ba cháu không được về thăm mẹ, thăm em, không được liên lạc viết thư về thật là đau lòng. Bà các o và chú chắc luôn nhắc đến Ba cháu nên một người em mới 9 tuổi chưa hề biết mặt anh mà đã có những tình cảm sâu sắc. Chú đã chọn một chỗ trang trọng nhất, dễ nhìn nhất trong nhà để treo ảnh Ba cháu. Thế mới biết sự chờ đợi của người mẹ mong con, của người em ngóng tin anh khắc khoải nặng nề đến nhường nào:

 "Bức hình anh Lê Phương đầu tiên trong đời gửi về nhà sau 8 – 9 năm xa cách cha mẹ, gia đình, quê hương...được tôi dán nơi tường đó, khiến mự ưng ý lắm. Suốt ngày, cả đêm nữa - khi chưa đi ngủ, dưới ánh đèn dầu, mự và ba chị em tôi (Liệu, Lài,Vinh) luôn nhìn ngắm con trai, anh trai yêu dấu của mình." ."   Anh trai vừa về đến nhà, đặt vội ba lô xuống đất, liền ôm chầm lấy Mự, cả hai nước mắt lưng tròng. Mự tôi ôm ghì lấy con trai, giữ chặt anh rất lâu như thể không thể để con xa mình thêm bận nữa. Không thể và không thể! Tôi đứng đó, bỗng như “hóa đá”, trong người mất hết hồn vía, lạnh toát và rum làm tôi phải cương người ra mới đứng vững. Run nhiều, rất nhiều. Như người “chết giả” vậy. Đời tôi tính từ khi đã biết được mấy thứ, đến giờ 68 tuổi, chưa từng và gặp lại một lần bị run như thế"

Gia đình đã trải qua những phút vô cùng đau thương. Bà thật nhân hậu nhưng sao cuộc đời lắm đau thương, bà đã phải chịu đựng nhưng đau khổ tột cùng:: cha đẻ, mẹ chồng bị tù đày - chết đói, bản thân bị đấu tố tra khao hành hạ, nỗi nhớ thương người con trai cả đi đánh trận chưa về không biết sống chết ra sao, bươn trải mưu sinh cho bày con nhỏ,....Bà và Ba cháu đã đi đến tận cùng của nỗi đâu . Trước khi nhắm mắt Bà cũng vẫn còn nỗi đau:Cha mất vào ngày tháng năm nào và mộ ở đâu. CCRĐ đúng là đại thảm họa!!!
[góp ý]| Viết bởi Hương |29 Aug 2014, 19:40

[12]
Khi nhìn thấy bức ảnh của ông Ngoại, cháu không thể nào ngừng khóc được. Đó là ông Ngoại cháu, người mà cháu luôn chỉ có thể nhớ về Ông với chút ký ức mơ hồ thời thơ ấu. Một người Ông luôn mang theo mùi nắng sớm cùng vị thơm của trà sen, người Ông có bàn tay xương xương với những đường gân hiện rõ trên làn da trắng xanh xao vẫn đưa cháu đi chơi dù chỉ là sang bên nhà ông Hội cách có vài bước chân; hay chỉ cho cháu xem cây ổi sau nhà sắp ra quả, cây hoa giấy Ông mới trồng có hoa màu hồng.  

Khi đọc bài viết của ông cháu như được thấy lại ông Ngoại vẫn còn sống. Trong căn nhà cũ khi mà mà ngôi nhà vẫn chưa bị giải toả, Ông mặc chiếc áo khoác bộ đội màu lá mạ,  Ông vẫn ngồi đó trong phòng khách đọc báo mỗi sáng trên bàn là ấm trà sen mới pha vẫn còn toả hương. Cháu luôn sợ rằng càng lớn cháu sẽ không còn có thể nhớ nhiều về ông Ngoại. Cháu luôn sợ rằng sau 20, 30 hay 50 năm nữa, chỉ có cháu là còn nhớ tới ông Ngoại với chút ký ức xa xăm... Khi đọc xong bài viết của ông, cháu đã thổn thức, cháu khóc vì hình ảnh khác mà ông cho cháu thấy về ông Ngoại, một người con yêu thương gia đình, một người lính can trường, một nhà thơ đầy cảm xúc.                                                                                           Cháu cám ơn ông rất nhiều.
[góp ý]| Viết bởi Ngọc Anh |01 Sep 2014, 20:22

[13]
 Tôi vẫn nhớ rõ hình ảnh của Anh : Đại tá Lê Phương. Gia đinh anh Lê Phương với gia đình anh tôi, có quan hệ lâu đời, cùng cảnh ngộ và quý trọng nhau.
Cái loạn CCRĐ là tội diệt chủng!
Tôi đã rơi lệ khi đọc bài naỳ.
[góp ý]| Viết bởi Nguyễn Bá Sinh |21 Sep 2014, 17:32

[14]
Tôi đã đọc bài viết của bạn về nỗi đau thời CCRĐ. Đó là nỗi đau của bạn, của tôi, của bao gia đình cùng cảnh ngộ và ở mức độ nào đó có thể nói đó là nỗi đau một thời của dân tôc .
   Cau chuyen la thư va bưc ảnh anh Le Phương trở về với mẹ như chuyện cổ tích vậy. Tôi may mắn  được gặp anh một lần. Anh rất đẹp trai và nay bài viết của bạn giúp tôi nhận ra anh là một con người đẹp từ chân dung đến tính cách và tâm hồn; cuộc đời chiến đấu kiên cường cùng với những trang thơ, văn rất đỗi tình người của anh đã làm lòng tôi rưng rưng…


  Tôi cũng cùng nỗi đau như bạn. Thời CCRR gia đình tôi bị qui là thành phần bóc lột, mặc dù cha mẹ tôi đều là đảng viên thời 30-31, đều bị đế quốc bỏ tù, cha tôi bị tù 2 lần với thời gian 8 năm, mẹ tôi 1 lần 3 năm. Tôi có một người anh trốn nhà đi bộ đội chống Pháp và một anh khi tốt nghiệp lớp 10 năm 1965 nhận 1 giấy báo đi học Tổng hợp lý Liên Xô,1 giấy báo nhập ngũ; anh đã gác lại giấc mời  du học để lên đường chống Mỹ cứu nước và hy sinh ở tuổi 20- Vậy mà tôi - năm 1967, tốt nghiệp lớp 10, đạt hoc sinh gioi, được truong va ban tuyển sinh tỉnh cho di hoc nước ngoài nhưng về địa phương bị cán bộ xã đề nghị không cho đi học đại học nước ngoài chỉ cho đi học trung cấp trong nước vì gia đình thành phần xấu [Tờ thẩm tra mặt đó sau này tôi mới biết].  


   Không nỗi đau nào của riêng ai phải không bạn?
   Nhưng tôi nghiệm thấy một điều: thường những gia đình bị qui "Đia chủ" thời đó đều là những gia đình khá, nếu như không muốn nói là giỏi giang hơn người. Hãy nhìn lại những thế hệ con cháu họ sau này mà xem?
[góp ý]| Viết bởi Nguyễn Thị Thanh |21 Sep 2014, 17:52

[15]
 Vinh ơi hay lắm. Đọc thấy đau lòng. Lại thích nữa vì Quang cũng là con địa chủ và khốn khổ vì cộng sản nên phải viết “LN”.
[góp ý]| Viết bởi Trần Huy Quang |21 Sep 2014, 17:55

[16]
Bài viết rất cảm động, sâu sắc quá. Bác Lê Quang Vinh quả thực là một nhà báo rất giỏi và từng trải. Những lời thơ của bác Lê Phương cũng rất hào hùng nhưng cũng mang đậm tình yêu thương gia đình, quê hương rất sâu nặng.
Bác Vinh ơi, bài viết này bác nên lưu giữ lại như dạng viết tiếp những trang gia phả để con cháu muôn đời sau biết được cha ông chúng đã trải qua thăng trầm như thế nào được không ạ.
 Hôm nay 22/8/2014 vào lúc 8:54 PM
[góp ý]| Viết bởi Tran Thu Ha |21 Sep 2014, 17:58

[17]
thuylethudhxd66@gmail.com>
Ngày: Thứ Năm, ngày 21 tháng 8 năm 2014
Chủ đề: BÍ ẨN BỨC HÌNH ANH TRAI THỜI CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
Tới: Le VInh <vinhhoaninh@yahoo.com>
Chú ơi cháu đã đọc được bài viết của chú. Hay và cảm động quá cháu muốn viết rất nhiều để có thể bày tỏ được hết những cảm xúc của mình nhưng cháu chẳng nghĩ được gì cả cháu chỉ nói được chú viết hay và cảm động quá .Ước gì cháu có một chút năng khiếu van chuong để không bị bí từ như thế này . Cháu rất xúc động khi đọc được những tình cảm yêu thương của Bà và các O, Chú đã dành cho Ba cháu . Càng đọc càng thương Ba cháu chưa được hưởng sung sướng đã mất sớm ... Chau mong Chú hãy viết thật nhiều những hồi ức kỷ niệm ngày xưa về Gia đình mình Chú nhé để con cháu được biet va hieu them nhieu về những tình cảm ruột thịt của đại gia đình ta.

[góp ý]| Viết bởi Thu Thủy |21 Sep 2014, 18:02

[18]
 Cau oi! Doc bai bao cua cau ma thay dau long qua . Thuong lam nhung nguoi than cua minh da song qua nhung thoi khac lich su that nghiet nga , that oan uc . Cau qua gioi de lam song lai nhung ki uc dau buon ma gia dinh ta da chiu dung. Nho lam cau oi.
[góp ý]| Viết bởi Đinh Thị Vân Đào |21 Sep 2014, 18:06

[19]
Với những "chất liệu" giản dị và những sự kiện đậm nét "lịch sử" VN, anh đã có một bài viết rất ấn tượng, sâu sắc.
TIT
[góp ý]| Viết bởi Trần Ích Thịnh |21 Sep 2014, 18:12

[20]
Bác đã đọc bài viết của Chú và có nhiều cảm xúc về một thời đã qua để lại cho những gia đình bị quy sai trong đó có gia đình Chú nhiều oan nghiệt. Riêng Bác Lê Phương đã để lại một hình ảnh sâu sắc về tinh thần yêu gia đình, yêu quê hương đất nước ; đã để lại phẩm giá cao cả cho các thế hệ sau học tập.
[góp ý]| Viết bởi Mai Thanh Đao |21 Sep 2014, 18:17

[21]
tháng 8 22 vào lúc 4:53 PM
Cảm ơn bác Vinh đã có một bài viết hay nhân dịp 19/8 và 2/9.
[góp ý]| Viết bởi Tran Khanh Viet Dung |21 Sep 2014, 18:26

[22]
 15 giờ 09’33’’ ngày 22/8/2014):
  “Bài viết quá hay và cảm động. Những vần thơ chắt từ trong tim của người trong cuộc, rất thực. Những lời thơ và văn đều tuyệt hay. Trân trọng bác với những tri ân đầy ý nghĩa”.
[góp ý]| Viết bởi Hoàng Trọng Chương – Minh Lệ |21 Sep 2014, 18:28

[23]
Chi da xem cac bai cua em gui den. Bai nao cung day cam xuc va dang kham fuc - nhat la bai viet cua NGUOI ANH da khuat.
Mot su hy sinh tham lang day gian kho nhu the ma kg sao; nhung hoa binh Nguoi lai fai som ra di, that xot xa dau don va thiet thoi cho Anh, cho gia dinh va be ban cua Anh. Chi chuc em mai mai vui  tuoi de day lui benh tat em nhe.  
                                               CHI THU
[góp ý]| Viết bởi Hoang Son Thu |25 Sep 2014, 21:50

[24] Tưởng nhớ Anh Đại tá Lê Phương

Tôi nhớ rât rõ hình ảnh của Anh, thuộc lớp đàn anh, khi tôi bắt đầu cắp sách đến trường e'cole de Hoa ninh năm 1945. Anh học lớp nhì đệ nhất cạnh lớp tôi và tôi biết Anh. Anh là một thiếu niên cao, to đẹp trai , tươi cười có má đông tiền. Lúc đó chỉ biết chứ ít gần. Anh nổi tiếng khi toàn xã vùng Nam Quảng trạch thi làm đèn ông sao (năm 1946) nhân ngày têt độc lập 2/9 . Anh đã làm cái đèn hình chữ S , cách điệu như môt con thuyền , có hinh chủ tịch Hồ chi Minh cầm lái ( vượt trùng dương ). 


Cai đèn của anh Phương được giải Nhất và đưa xuống Ba đồn trưng bày.Rồi  sau đó 3,4  tháng là giặc Pháp tấn công vào cửa Gianh. Trường Hoà ninh bi tiêu thổ Kháng chiến ( ôi , ngôi trường đẹp oai nghi . nơi đào tạo biết bao nhân tài của quê hương bi tiêu hủy và không bao giờ còn lại ). Anh Lê Phương ra tiền tuyến , lăn lộn với Bình TRi Thiên khói lửa ... rồi ra Viêt Bắc trở thành sỹ quan trẻ của quân đội VN .. Chiến tranh..


Năm 1956 ra HN tôi gặp anh trong bộ quân phục 4 túi  đeo súng  ngắn . Anh vẫn cười tươi (đẹp trai) như xưa. Năm 1958 anh đeo quân hàm trung úy...
Mỗi lần gặp anh trò chuyên thân mật , anh coi tôi là hàng em út vì tình thân  hai gia đình...cuộc chiến tranh chống Mỹ làm cho anh em chúng tôi ít gặp nhau ... một đôi lần , lúc này anh là sĩ quan cao cấp. Anh em vẫn cười nói như xưa .



 Bẳng đi thời gian dài . Không gặp Anh, anh đã mất , khi tôi đi vắng . Không được đưa tiển người Anh kính trọng . Nhân đọc bài báo này xin thắp nén hương tưởng nhớ Anh
[góp ý]| Viết bởi Nguyễn Bá Sinh |29 Sep 2014, 13:15

No comments: