Sunday, November 16, 2014

JOSEPH S. NYE* KINH TẾ TRUING CỘNG

Liệu kinh tế Trung Quốc có thể vượt qua Hoa Kỳ được chăng?
Joseph S. Nye,
Đỗ Kim Thêm dịch,

Ngân hàng Thế giới vừa mới công bố gần đây là kinh tế của Trung Quốc sẽ vượt qua kinh tế của Hoa Kỳ trong năm nay, nếu tính theo sức mua tương đương (PPP). Nhưng tiên đoán này là không đúng hẳn trong việc mô tả toàn diện về vị thế kinh tế của Trung Quốc trong toàn cầu.

Joseph S. Nye

Dù chỉ số sức mua tương đương có thể dùng cho một số mục đích nhằm so sánh mức phúc lợi giữa các quốc gia, chỉ số này bị ảnh hưởng nặng nề do quy mô dân số. Ấn Độ, nếu tính theo tỷ giá của đồng đô la Mỹ và đồng rupee Ấn Độ trên thị trưòng hối đoái, là nền kinh tế lớn đứng hàng thứ mười trên thế giới, nhưng nếu tính theo chỉ số sức mua tương đương, lại là chiếm vào hạng thứ ba. Hơn nữa, những nguồn lực năng lượng, thí dụ như phí tổn của dầu nhập khẩu hoặc động cơ máy bay chiến đấu tiên tiến, được đánh giá là tốt hơn, nếu tính theo theo tỷ giá hối đoái của các tiền tệ này, nó phải được dùng để mua các nguồn lực này.
Để tính cho chắc, quy mô toàn diện là một khía cạnh quan trọng của sức mạnh kinh tế. Trung Quốc có một thị trường hấp dẫn và là bạn đối tác thương mại lớn nhất cho nhiều quốc gia – là những nguồn quan trọng làm đòn bẩy mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc không ngại vận dụng.
Nhưng, ngay cả khi TSLQG của Trung Quốc vượt qua TSLQG của Hoa Kỳ (cho dù theo bất cứ cách tính toán nào đi nữa), hai nền kinh tế sẽ duy trì mức độ hoàn toàn khác nhau về cấu trúc và trình độ phát triển phức tạp. Và thu nhập tính theo bình quân cho đầu người của Trung Quốc – một thước đo chính xác hơn về trình độ phát triển phức tạp của kinh tế – chỉ đạt đến 20% của Hoa Kỳ, và ít nhất, Trung Quốc sẽ mất nhiều thập niên để bắt kịp Hoa Kỳ, (nếu Trung Quốc còn bắt kịp được).
Hơn nữa, như các quan chức và các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã thừa nhận, dù Trung Quốc đã vượt qua Đức trong năm 2009 như là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới tính theo khối lượng, Trung Quốc vẫn chưa phát triển thành một cường quốc mậu dịch “có thế mạnh“ đích thực, vì kinh doanh trong các lĩnh vực cung ứng dịch vụ và sản xuất có giá trị gia tăng còn yếu kém. 

Và Trung Quốc thiếu một loại của các thương hiệu quốc tế có thế mạnh mà các cường quốc thương mại như Hoa Kỳ và Đức tự hào; trên thực tế, Hoa Kỳ chiếm hàng đầu 17 trong số 25 các thương hiệu đằng cấp nhất trên toàn cầu
Trình độ kém phát triển kinh tế của Trung Quốc cũng được phản ánh trong các thị trường tài chính, Trung Quốc chỉ có một phần tám quy mô so với thị trường của Hoa Kỳ, chỉ có một phần nhỏ người nước ngoài là được phép làm chủ nợ của Trung Quốc. Dù Trung Quốc đã cố gắng để tăng sức mạnh tài chính của mình bằng cách khuyến khích việc sử dụng tiền Trung Quốc trên toàn thế giới, nhưng việc mua bán tính bằng đồng Nhân dân tệ vẫn chỉ chiếm đúng 9 % trong tổng số toàn cầu, so với đồng đô la chiếm 81 %.

Ngay cả với khối lượng dự trữ ngoại tệ khổng lồ của Trung Quốc – lớn nhất thế giới với khoảng gần 4 nghìn tỷ đô la – sẽ không phải là điều kiện thích hợp để nâng đòn bẩy tài chính của mình, trừ khi nào chính quyền tạo ra một thị trường trái phiếu sâu rộng và thông thoáng với quyền được tự do định đoạt về mức lãi suất và tiền tệ được chuyển đổi một cách dễ dàng. Các quỹ dự trữ này không cho Trung Quốc nhiều khả năng thương lượng trực tiếp nhiều hơn Hoa Kỳ, dù đứng trước một thực tế là các mối quan hệ tương thuộc tùy vào những tình trạng bất cân xứng.

Trung Quốc nắm giữ đồng đô la mà Trung Quốc thu được do bán hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ, trong khi Hoa Kỳ, bằng cách mở cửa thị trường cho các sản phẩm Trung Quốc, giúp tạo cho Trung Quốc tạo ra tăng trưởng, có việc làm và đạt đến tình trạng ổn định. Đúng vậy, Trung Quốc có thể buộc nền kinh tế Hoa Kỳ đầu hàng bằng cách tung bán phá giá đồng đô la Mỹ, nhưng Trung Quốc phải chịu một hậu quả nghiêm trọng cho mình.

Nếu xét về trình độ phức tạp trong kinh tế, thì sự dị biệt giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng còn mở rộng đến lĩnh vực công nghệ. Dù có một số thành tựu quan trọng, nhưng để cho công nghệ của mình tiến bộ, Trung Quốc còn dựa vào việc sao chép các phát minh của nước ngoài nhiều hơn là canh tân trong nước. Dù Trung Quốc đang cấp nhiều bằng sáng chế hơn bao giờ, có ít bằng là biểu hiện cho những phát minh mang tính đột phá. Trung Quốc thường phàn nàn là họ tạo việc làm để sản xuất iPhone cho Steve Jobs, nhưng chưa tạo được một người như Steve Jobs.

Trong những thập niên tới, mức tăng trưởng của Trung Quốc tính theo TSLQG sẽ chậm lại, đó là vấn đề từng xảy ra trong tất cả các nền kinh tế, một khi đạt đến một trình độ nhất định của sự phát triển – thường là mức thu nhập bình quân tính theo đầu người, tính theo sức mua tương đương, thì Trung Quốc đang đến gần mức này. Rút cục, Trung Quốc không thể dựa vào công nghệ nhập khẩu và lao động giá rẻ để hỗ trợ muôn đời cho tình trạng tăng trưởng. Hai nhà kinh tế học của Đại học Harvard là Lant Pritchett và Lawrence Summers đã kết luận là tình trạng thoái bộ buộc Trung Quốc nằm ở mức tăng trưởng trung bình khoảng 3,9% trong hai thập niên sắp tới.

Nhưng ước tính thuần theo thống kê này không kể đến những vấn đề nghiêm trọng mà Trung Quốc phải giải quyết trong những năm tới, thí dụ như tình trạng bất bình đẳng ngày càng gia tăng giữa khu vực nông thôn và thành thị, giữa các vùng ven biển và nội địa. Những thách thức lớn khác gồm có một khu vực nhà nước cồng kềnh và không hiệu quả, suy thoái môi trường, luồng di dân ào ạt trong nước, một mạng lưới an ninh cho xã hội không đầy đủ, tham nhũng, và thiếu tinh thần trọng pháp.

Hơn nữa, Trung Quốc sẽ phải đối phó với một tình trạng dân số ngày càng bất lợi. Sau khi đẩy mạnh chính sách một con trong hơn ba thập niên, lực lượng lao động của Trung Quốc đạt đến cao điểm vào năm 2016, sẽ có nhiều người già neo đơn lệ thuộc hơn là số lượng giới trẻ vào năm 2030. Tình trạng này đã dấy lên nhiều mối quan ngại cho là dân số sẽ già trước khi giàu.

Hệ thống chính trị độc tài của Trung Quốc đã chứng tỏ một khả năng đầy ấn tượng để đáp ứng các mục tiêu cụ thể, từ việc xây dựng đường sắt cao tốc cho đến việc tạo ra nhiều thành phố hoàn toàn mới. Những gì mà chính phủ Trung Quốc chưa chuẩn bị làm, đó là đáp ứng một cách có hiệu quả trước những đòi hỏi ngày càng ầm ĩ hơn cho việc tham gia trong sinh hoạt chính trị – nếu không phải là dân chủ – mà thay đổi này có xu hướng cùng song hành làm tăng thu nhập tính theo đầu người của TSLQG. Nếu thay đổi chính trị sẽ xảy ra khi mức thu nhập bình quân tính theo đầu người, dù trên danh nghĩa, mà hiện may đang ước khoảng $ 7,000, liệu nó sẽ đạt đến ngưỡng $ 10,000, như đã xảy ra ở hai nước láng giềng là Hàn Quốc và Đài Loan chăng?

Vấn đề còn tồn động là liệu xem Trung Quốc có thể triển khai một phương sách để quản lý một tầng lớp trung lưu tại đô thị đang mở rộng, bất bình đẳng trong các khu vực, và ở nhiều nơi, có nhiều dân tộc thiểu số không thuần phục. Tinh trạng kinh tế kém phát triển có thể làm phức tạp vấn đề hơn nữa. Trong mọi trường hợp, tình trạng này có nghĩa là việc tăng gộp TSLQG, tuy là được tính ra, nhưng khó mà phù hợp để xác định được khi nào – và có liệu có nên cho rằng – Trung Quốc sẽ vượt qua Hoa Kỳ về sức mạnh kinh tế.
________
2014 NOV 11 J.NEYE 300

Joseph S. Nye, cựu Phụ tá Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Chủ tịch Cơ quan US National Intelligence Council, Giáo sư Đại học Harvard và là thành viên của The World Economic Forum Global Agenda Council on the Future of Government. Tác phẩm mới nhất của ông là “Presidential Leadership and the Creation of the American Era”.
Nguyên tác: China´s Questionable Economic Power
Chiến lược kinh tế vĩ mô mới
Jefffrey D. Sachs,
Nguyễn Trung Kiên dịch
Tôi là một nhà kinh tế vĩ mô, nhưng tôi bất đồng với hai trường phái đang gây ảnh hưởng hàng đầu trong giới chuyên môn của tôi tại Mỹ: phái Keynes mới đang cố gắng làm tăng tổng cầu, và phái Trọng cung đang cố gắng giảm các loại thuế. Cả hai phái này đều đã cố gắng và đã thất bại trong nỗ lực vượt qua hiện trạng yếu kém dai dẳng của các nền kinh tế có thu nhập cao trong những năm gần đây. Bây giờ là lúc cần đến một chiến lược mới, trên nền tảng tăng trưởng bền vững dựa vào đầu tư.
Thách thức cốt lõi của kinh tế học vĩ mô là phân bổ các nguồn lực xã hội một cách tối ưu. Người tìm việc thì phải có việc, các nhà máy nên phân bổ vốn của họ một cách hiệu quả; và một phần thu nhập tiết kiệm được, thay vì chi tiêu hết, nên được đầu tư để cải thiện phúc lợi trong tương lai.
Cả phái Keynes mới và phái Trọng cung đều đã hoàn toàn sai lầm đối với thách thức thứ ba này. Phần lớn các quốc gia có thu nhập cao: Mỹ, phần lớn châu Âu và Nhật Bản – đều thất bại trong việc đầu tư một cách thỏa đáng hoặc thông minh cho tương lai. Có hai cách đầu tư: đầu tư trong nước và đầu tư quốc tế – và trên quy mô toàn thế giới thì cả hai cách này đều không đạt tới mức cần thiết.
Đầu tư trong nước được tiến hành với nhiều hình thức, bao gồm đầu tư của doanh nghiệp vào máy móc và nhà xưởng; đầu tư của hộ gia đình vào nhà cửa; và đầu tư của chính phủ vào con người (giáo dục, các kỹ năng), kiến thức (nghiên cứu & triển khai), và cơ sở hạ tầng (giao thông, năng lượng, nước sạch và phòng chống rủi ro thiên tai).
Cách tiếp cận của phái Keynes mới là cố gắng thúc đẩy mọi dạng thức của đầu tư trong nước. Do đó, theo quan điểm này thì chi tiêu chỉ là chi tiêu. Vì vậy, phái Keynes mới đã cố gắng thúc đẩy nhiều đầu tư của hộ gia đình hơn thông qua việc hạ lãi suất xuống mức thấp nhất có thể, tăng mua ô-tô dựa trên các khoản vay được chứng khoán hoá, và qua các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng sử dụng nhiều lao động mới dựa trên các chương trình kích thích tăng trưởng ngắn hạn. Khi chi cho đầu tư không tăng, họ khuyến nghị rằng chúng ta nên chuyển phần “thặng dư” tiết kiệm sang tiêu dùng “xả láng”.
Ngược lại, phái Trọng cung muốn thúc đẩy các khoản đầu tư cá nhân (tất nhiên là không phải đầu tư công!) thông qua việc cắt giảm thuế nhiều hơn và giảm bớt sự điều tiết của nhà nước. Họ đã từng thử biện pháp này nhiều lần ở Mỹ, đặc biệt là suốt thời kỳ cầm quyền của George W. Bush. Thật không may, kết quả của sự giảm bớt can thiệp này là tình trạng phát triển bong bóng trên thị trường bất động sản trong ngắn hạn, chứ không phải là sự gia tăng bền vững của các khoản đầu tư cá nhân hiệu quả.
Mặc dù chính sách được thay đổi luân phiên giữa hai phái Trọng cung và Keynes mới, nhưng có một thực tế dai dẳng là sự suy giảm đáng kể của chi cho đầu tư trong thu nhập quốc dân tại phần lớn các nước có thu nhập cao trong những năm gần đây. Theo số liệu của IMF, tổng chi tiêu cho đầu tư tại các quốc gia này đã giảm từ 24,9% GDP vào năm 1990 xuống chỉ còn 20% vào năm 2013.
Tại Mỹ, chi cho đầu tư đã giảm từ 23,6% GDP vào năm 1990 xuống 19,3% vào năm 2013, và giảm đáng kể hơn nữa về giá trị tuyệt đối (tổng đầu tư trừ đi khấu hao vốn). Tại châu Âu, tỷ lệ này đã giảm từ 24% GDP xuống còn 18,1% vào năm 2013.
Cả phái Keynes mới và phái Trọng cung đều không tập trung vào những biện pháp khắc phục một cách hiệu quả sự suy giảm dai dẳng trong khoản chi cho đầu tư này. Các xã hội của chúng ta cần đầu tư nhiều hơn và cấp bách hơn, đặc biệt là đầu tư nhằm chuyển nền sản xuất tạo ra nhiều khí thải carbon, sử dụng nhiều năng lượng và đầy ô nhiễm, sang những nền kinh tế bền vững dựa trên việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiệu quả hơn và các nguồn năng lượng có hàm lượng carbon thấp. Những khoản đầu tư này đòi hỏi những bước đi mang tính hỗ trợ lẫn nhau của cả khu vực công và tư.
Các khoản đầu tư cần thiết bao gồm triển khai các nguồn năng lượng mặt trời và năng lượng gió quy mô lớn, ứng dụng rộng rãi các phương tiện giao thông sử dụng điện, cả phương tiện công cộng (xe bus và tàu hỏa) và cá nhân (ô-tô), các tòa nhà sử dụng năng lượng hiệu quả; và các hệ thống truyền tải năng lượng để có thể truyền dẫn năng lượng tái tạo đi xa (ví dụ, từ Biển Bắc và Bắc Phi tới châu Âu lục địa, và từ Sa mạc Mojave ở California tới các trung tâm đông dân cư của Mỹ).
Nhưng đúng vào lúc các xã hội của chúng ta nên tiến hành các khoản đầu tư này, thì các khu vực công tại Mỹ và châu Âu lại đang trải qua tình trại “thoái lui đầu tư” thực sự. Các chính phủ, nhân danh mục tiêu cân bằng ngân sách, đang cắt giảm đầu tư công. Còn các khu vực tư nhân không thể đầu tư một cách chắc chắn và an toàn vào năng lượng thay thế khi mà các lưới điện được nhà nước điều tiết, các quy tắc xác định trách nhiệm, các công thức định giá và các chính sách năng lượng quốc gia, tất cả đều không chắc chắn và đang bị tranh cãi quyết liệt.
Tại Mỹ, chi cho đầu tư công đã bị giảm bớt, cả chính quyền liên bang lẫn tiểu bang đều không có những ủy nhiệm chính trị, chiến lược tài trợ hay các kế hoạch dài hạn để thúc đẩy đầu tư cho các thế hệ công nghệ mới thông minh và sạch hơn.
Cả phái Keynes mới lẫn phái Trọng cung đều hiểu sai về tình trạng “tê liệt đầu tư”. Phái Keynes mới nhìn nhận các khoản đầu tư, cả đầu tư công lẫn đầu tư cá nhân, chỉ đơn thuần là một loại tổng cầu. Họ không chú ý tới các quyết định về chính sách công liên quan đến các hệ thống năng lượng và cơ sở hạ tầng (cũng như các khoản Nghiên cứu & Triển khai có định hướng để thúc đẩy các công nghệ mới), vốn cần thiết để thúc đẩy các khoản đầu tư hướng tới sự bền vững về môi trường, cả trong khu vực công lẫn khu vực tư nhân. Do đó, họ thúc đẩy các mánh lới (tỷ lệ lãi suất bằng 0 và các gói kích thích nền kinh tế), hơn là gây sức ép cho các chính sách cụ thể ở tầm quốc gia để phục hồi đầu tư một cách hiệu quả.
Đến lượt mình, phái Trọng cung dường như làm ngơ đối với sự phụ thuộc của đầu tư cá nhân vào các khoản đầu tư công phụ trợ, cũng như một chính sách rõ ràng cùng với một bộ khung để điều tiết. Họ cổ vũ cho việc giảm chi tiêu chính phủ, tin tưởng một cách ngây thơ rằng khu vực tư nhân sẽ có thể bù đắp các khoản chi tiêu này bằng một phép màu nào đó. Nhưng, thông qua việc cắt giảm đầu tư công, họ đang gây cản trở cho đầu tư cá nhân.
Ví dụ, các nhà sản xuất điện tư nhân sẽ không đầu tư vào các nhà máy sản xuất năng lượng tái tạo quy mô lớn nếu chính phủ không có các chính sách dài hạn về năng lượng và ứng phó với biến đổi hậu, hay các kế hoạch thúc đẩy việc xây dựng các đường truyền tải năng lượng tầm xa dành cho các nguồn năng lượng có hàm lượng carbon thấp tới các khu vực đông dân cư.
Cũng có lựa chọn khác là sử dụng các khoản tiết kiệm nội địa để thúc đẩy đầu tư nước ngoài. Ví dụ như nước Mỹ cho các nền kinh tế thu nhập thấp ở châu Phi vay tiền để mua các nhà máy điện mới do các công ty của Mỹ sản xuất. Một chính sách như thế sẽ giúp cho tiết kiệm cá nhân của nước Mỹ được sử dụng hữu ích nhằm chiến đấu với tình trạng nghèo đói toàn cầu, đồng thời giúp cho nền tảng công nghiệp của Mỹ mạnh lên.
Cũng vậy, ở đây, cả phái Keynes mới lẫn phái Trọng cung đều không nỗ lực nhiều nhằm cải thiện các thiết chế của tài chính phát triển. Thay vì khuyên Nhật Bản và Trung Quốc gia tăng tỷ lệ tiêu dùng của mình, các nhà kinh tế vĩ mô nên thông minh hơn để có thể khuyến khích các nền kinh tế này sử dụng các khoản tiết kiệm dồi dào của mình nhằm tài trợ cho các khoản đầu tư, không chỉ ở trong nước mà còn cả ở nước ngoài.
Những cân nhắc này là tương đối rõ cho bất cứ ai quan tâm đến nhu cầu cấp bách phải hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và sự bền vững về môi trường. Thách thức vốn đang tạo ra nhiều áp lực, nhất của thế hệ chúng ta là chuyển đổi các hệ thống năng lượng và cơ sở hạ tầng bẩn, dựa vào carbon sang các hệ thống sạch, thông minh và hiệu quả cho thế kỷ XXI. Đầu tư vào nền kinh tế bền vững sẽ giúp gia tăng nhanh chóng phúc lợi của chúng ta và giúp các khoản tiết kiệm “thừa thãi” của chúng ta được sử dụng vào các mục đích đúng đắn.
Tuy vậy, điều này sẽ không xảy ra một cách tự động. Chúng ta cần đến các chính sách đầu tư công dài hạn, quy hoạch về môi trường, các lộ trình về công nghệ, các chương trình hợp tác công-tư cho các công nghệ mới và bền vững, và hợp tác toàn cầu quy mô lớn hơn. Những công cụ này sẽ tạo ra một bộ môn kinh tế học vĩ mô mới, mà sức khỏe và sự thịnh vượng của chúng ta sẽ phụ thuộc vào nó.
_________
Jefferey D. Sarchs, Giáo sư về Phát triển bền vững, Giáo sư về Chính sách Y tế và quản lý, Giám đốc Viện Trái đất tại Đại học Columbia (Mỹ), đồng thời cũng là Cố vấn đặc biệt cho Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc về Các mục tiêu Thiên niên kỷ. Ông là tác giả của các cuốn sách The End of Poverty (Kết thúc đói nghèo) và Common Wealth (Sự thịnh vượng chung).
Bất ổn cá nhân và bất công xã hội làm kinh tế thất bại

TS Đỗ Kim Thêm dịch, 
Joseph E. Stiglitz,
Lại một lần nữa hai công trình nghiên cứu mới nhất chứng tỏ về mức độ quan trọng của vấn đề bất bình đẳng đang gây tác hại cho Hoa Kỳ. Thứ nhất, theo Báo cáo của cơ quan US Census Bureau năm 2014 về tình trạng thu nhập hằng năm và nghèo minh chứng rằng lợi tức của một người Mỹ bình thường vẫn còn tiếp tục trì trệ, cho dù tình trạng kinh tế được suy đoán là hồi phục sau thời kỳ Tổng Suy Trầm. Mức thu nhập trung vị của từng hộ gia đình, sau khi điều chỉnh giá lạm phát, vẫn còn ở dưới mức so với 25 năm trước đây. 
Người ta thường nghĩ là sức mạnh nhất của Hoa Kỳ không phải là quyền lực quân sự, mà là hệ thống kinh tế làm cho thế giới phải ganh tị. Nhưng tại sao các nước khác cố ganh đua với một mô hình kinh tế mà phần lớn dân chúng, – đúng ra là đa số -, chịu cảnh lợi tức trì trệ, trong khi thu nhập của giới thượng tầng luôn tăng vụt?
Một công trình nghiên cứu thứ hai là Báo cáo của cơ quan United Nations Development Program´s Human Development năm 2014. Họ chứng thực các phát hiện này. Hàng năm, cơ quan UNDP phổ biến một bảng sắp hạng các quốc gia tính theo chỉ số phát triển con người (HDI). Chỉ số này kết hợp các mức độ khác của sự an lạc ngoài mức thu nhập, còn gồm thêm cả các vấn đề sức khoẻ và giáo dục. (Theo báo cáo này, Việt Nam chiếm hạng 121 trong tổng số 187 quốc gia và lãnh thổ, CTCND).
Nếu tính theo chỉ số HDI, Hoa Kỳ đứng sau Na Uy, Úc, Thụy Sĩ và Hoà Lan. Nhưng nếu điều chỉnh giá trị này theo điểm về bất quân bình, Hoa Kỳ tụt đến hạng 23, một tình trạng tệ hại nhất đối với một nước phát triển cao độ. Thực vậy, Hoa Kỳ thua cả Hy Lạp và Slovakia, những nước mà thông thường dân chúng không xem như là một mô hình khuôn mẩu hay là người cạnh tranh với Hoa Kỳ trong một bảng phân hạng cao thấp nào.
Báo cáo của cơ quan UNDP nhấn mạnh đến một khiá cạnh khác của thành tựu xã hội: đó là khả năng bị tổn thương. Báo cáo chỉ ra rằng trong khi một vài nước đã thành công trong việc đưa dân chúng thoát cảnh cùng cực, cuộc sống của một số nơi vẫn còn không ổn đinh. Một biến cố nhỏ, – thí dụ như cơn bạo bệnh trong gia đình -, có thể đẩy họ lại lâm vào cảnh cơ hàn. Cuộc đời bị tụt dốc là một đe dọa đích thực trong khi khả năng thăng tiến bị hạn chế.
Tại Hoa Kỳ, năng động để thăng tiến là chuyện nhiều về huyền thoại hơn là thực tế, trong khi tụt dốc và tổn thương là kinh nghiệm phổ biến tràn lan. Một phần trong vấn đề này là do hệ thống bảo hiểm sức khoẻ của Hoa Kỳ. Hệ thống này làm cho những người Mỹ nghèo luôn ở trong hoàn cảnh bất ổn, cho dù có biện pháp cải cách của Tổng thống Barack Obama.
Những thành phần tận cùng trong xã hội chỉ là một bước nhỏ thoát ra khỏi cảnh phá sản mà nó mang theo bao hệ lụy. Bệnh tật, ly dị và thất nghiệp thường đẩy họ đến bên bờ vực thẳm. Dự thảo luật Cải cách Bảo hiểm của Obama, còn gọi là Obamacare năm 2010, có mục tiêu cải thiện những đe doạ này – có nhiều biểu hiện tích cực cho thấy dự luật là một biện pháp giảm thiểu đáng kể cho số lượng người Mỹ không có bảo hiểm. Nhưng một phần do phán quyết của Tối Cao Pháp Viện và sự ngoan cố của các thống đốc và các nhà lập pháp thuộc Đảng Cộng Hoà trong 24 tiểu bang đã không chịu mở rộng chương trình bảo hiểm cho người nghèo (Medicaid) – cho dù chính quyền liên bang chi trả hầu hết toàn bộ chi phí -, nên trước cũng như sau gì cũng có đến 41 triệu người không được bảo hiểm. Khi bất bình đẳng kinh tế chuyển sang thành bất bình đẳng chính trị – như trong một phần lớn đã xãy ra tại Hoa Kỳ- , chính quyền ít quan tâm đến các nhu cầu của những người thuộc hạ tầng xã hội.
Không phải chỉ có các chỉ số tính theo TSLQG hay HDI phản ảnh được sự thay đổi qua thời gian hay sự dị biệt giữa các nước về khả năng bị tổn thương. Ngay tại Hoa Kỳ và các nơi khác có một sự tụt hậu rõ rệt về mức an toàn. Ai có công ăn việc làm, thì cũng lo sợ liệu có khả năng còn giữ được việc hay không; ai thất nghiệp cũng mang nỗi lo làm sao tìm được việc.
Sự suy sụp kinh tế gần đây làm tiêu tan cơ nghiệp của nhiều người. Tại Hoa Kỳ, ngay cả sau khi tình hình thị trường cổ phiếu được hồi phục, tài sản tính theo trung vị đã giảm đi hơn 40% từ năm 2007 đến năm 2013. Điều này có nghĩa là làm cho bậc cao niên và giới đang sắp vào tuổi nghĩ hưu lo âu hơn về mức sống. Hằng triệu người Mỹ mất nhà, hàng triệu người lâm vào cảnh bất ổn không biết mình có thể sẽ bị mất nhà trong tương lai không.
Những bất an này phụ thêm vào các nổi bất an khác mà người Mỹ đã phải đối phó từ lâu. Tại các nội thành trong nước, hàng triệu giới trẻ người Mỹ gốc Nam Mỹ và châu Phi phải đối đầu với một hệ thống tư pháp và cảnh sát bất công và hoạt động kém; ai mà vượt đường của cảnh sát trong đêm, gặp đúng người khó chịu, có thể lãnh án tù không lý do – hoặc chịu hậu quả trầm trọng hơn.
Đã từ lâu, châu Âu ý thức được tầm quan trọng để giải quyết vấn đề khả năng bị tổn thương bằng cách cung ứng một hệ thống bảo hiểm xã hội. Người châu Âu công nhận rằng một hệ thống bảo hiểm xã hội tốt đẹp có thể cải thiện toàn bộ thành tựu kinh tế, khi cá nhân càng muốn chấp nhận có nhiều nguy hiểm, thì có thể đưa tới tình trạng tăng trưởng kinh tế cao hơn.
Những hiện nay tại nhiều nơi trong châu Âu, tỷ lệ thất nghiệp cao (trung bình là 12% và là 25% tại những nước bị ảnh hưởng nặng nhất), kết hợp với việc cắt giảm mức bảo hiểm xã hội do chính sách tiết kiệm, cả hai làm gia tăng về khả năng tổn thương mà không hề có trước đây. Hậu quả của vấn đề là mức suy giảm về an lạc xã hội của con người có thể tăng cao hơn so với mức đã đề ra theo các biện pháp tính theo TSLQG – những số liệu này vốn dĩ đã là đen tối, nhưng tại hầu hết các nước cho thấy rằng lợi tức thực sự tính theo đầu người, sau khi đã điều chỉnh lại do lạm phát, hiện nay tại nhiều nước thấp hơn so với trước thời khủng hoảng – làm cho nữa thập niên đã phải mất đi.
Báo cáo của Uỷ Ban Quốc tế về Lượng định Thành quả Kinh tế và Tiến bộ Xã hội (mà tôi là người chủ trì) nhấn mạnh rằng TSLQG không phải là một thước đo phù hợp để đánh giá nền kinh tế phát triển tốt đẹp. Báo cáo của hai cơ quan US Census Bureau và UNDP nhắc chúng ta lại về tầm quan trọng của nhận thức này. Chúng ta đã phí phạm quá nhiều thời gian để suy nghĩ về cách suy tôn khái niệm TSLQG này.
Cho dù chỉ số TSLQG có tăng nhanh đến đâu, khi nền kinh tế thất bại trong việc cung ứng những thành quả cho phần lớn dân chúng, mà họ phải đương đầu với bất trắc ngày một gia tăng, thì theo ý nghĩa cơ bản nhất, đó là một nền kinh tế thất bại. Và các chính sách, giống như chính sách khắc khổ, làm gia tăng bất an và làm giảm đi mức thu nhập và lối sống cho phần lớn dân chúng, trong ý nghĩa nền tảng, đó là những sách lược thất bại.
 __________
Joseph E. Stiglitz, đoạt giải Nobel về Kinh tế, Giáo sư Đại học Columbia, Chủ tịch Uỷ Ban Tư Vấn Kinh tế của Tổng Thống Bill Clinton và Phó Chủ Tịch Ngân hàng Thế giới. Tác phẩm mới nhất mà ông viết chung với Bruce Greenwald là Creating a Learning Society: A New Approach to Growth, Development, and Social Progress.
Nguyên tác: The Age of Vulnerability
Tựa đề bản dịch là của người dịch
© Bản tiếng Việt Đỗ Kim Thêm

No comments: