Friday, November 14, 2014

SƠN TRUNG* TRẦN ĐỨC THẢO


NHỮNG ĐOẠN ĐỜI TRẦN ĐỨC THẢO ( 1917- 1993 )


Chúng ta có thể chia cuộc đời Trần Đức Thảo thành bốn giai đoạn:
-Thời học hành (1917- 1951)
-Thời Tiểu vinh hoa (1952- 1955)
-Thời Đại bất hạnh (1956-1990 )
-Thời Lão nhược (1991- 1993 )

I. GIAI ĐOẠN I - TUỔI TRẺ VÀ PARIS ( 1917-1951)

Trần Đức Thảo sinh ngày 26/9/1917, tại Thái Bình, chánh quán tại làng Song Tháp, Châu Khê, Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Từ thời còn trẻ lúc theo học tại trung học Albert Sarraut ở Hà nội, là một học sinh xuất sắc.Năm 1936, ông được nhận học bổng sang Paris, Pháp để thi vào trường École normale supérieure (Paris) là trường Đại Học Sư Phạm của Pháp.. Ông đậu thủ khoa bằng Thạc sĩ triết học [1] (Agrégation de Philosophie) tại Pháp, lúc mới 26 tuổi (1942).

Ta có thể nói rằng Trần Đức Thảo là một nhân tài của Việt Nam lừng danh trên thế giới nhưng cái thông minh của ông cũng có sai lầm khi đâm đầu vào chủ nghĩa Marx. Ông cũng như bao trí thức thời đó chạy theo thời thượng say mê chủ nghĩa Marx mà không suy xét kỹ càng. Trần Đức Thảo say mê Marx và Hiện Tượng học cho nên ông đã viết Phénoménologie et Matérialisme Dialectique (Hiện tượng học và Chủ nghĩa duy vật biện chứng -1951).

Nghiên cứu Duy Vật và Hiện tượng học  lẽ nào ông không hiểu hiện tượng Sô Viết Nghệ Tĩnh với khẩu hiệu " Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ ", và lẽ nào ông không hiểu gì về những chủ trương cấm tư hữu, cướp tài sản tư sản, vô sản chuyên chính, cưỡng bách lao động phá hủy các thượng tầng kiến trúc cũ. Và có lẽ nào ông không biết gì về hiện tượng các cuộc tàn sát nhân dân và đồng chí của Lenin, Stalin, Mao Trạch Đôngvà Hồ  Chí Minh?

Khi nghiên cứu ông thấy bí lối mà vẫn đâm đầu về Việt Nam và cuối cùng ông thấy ông sa lầy trong tư duy và trong thực tế. Ông viết trong  HỒI KÝ của ông như sau:

 "phần hai cuốn Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng (Phénoménologie et Matérialisme Dialectique, Minh Tân, Paris, 1951) kết thúc trong một ngõ cụt mà tôi hy vọng tìm được lối thoát trong cách mạng Việt Nam, như tôi đã ám chỉ ở cuối cuốn sách, dưới nhan đề “Sự vận động thực tế của phép biện chứng”. Đầu năm 1952, khi về tới Việt Bắc, tôi đã trấn an những mối lo lắng lý luận của tôi bằng cách tiếp nhận chủ nghĩa Marx theo những sự kiện biểu hiện trên thực tế, và tôi đã tự nhủ rằng tất cả các vấn đề đã được giải quyết xong cả rồi. Nhưng đến năm 1956, tiếng vang của Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô đã kéo tôi ra khỏi tư tưởng giáo điều.(1b )


Lời nói trên có thể là ngụy biện để che đậy cái tâm một kẻ nịnh hót, tham danh và nông nổi. Năm 1946 ông nhảy ra vồ vập với Hồ Chí Minh tại Pháp nhiều lần, và năn nỉ xin về Việt Nam điếu đóm nhưng ông Hồ không thèm nhận mà khuyên ở lại Pháp tiếp tục học tập, nghiên cứu khoa học và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước, tranh thủ sự ủng hộ của các trí thức Pháp, nhất là các trí thức trong Đảng Cộng sản Pháp đã nhiệt liệt chào đón Hồ Chí Minh. Năm 1946 - 1947, ông đã viết và đăng nhiều bài ủng hộ Đảng Cộng sản Đông Dương, chống các lực lượng quốc gia. Ông lập thành tích nhiều với Việt Cộng như vậy  có lẽ ông nghĩ rằng chắc chắn Hồ Chí Minh sẽ trân trọng ông. Hơn nữa, Hồ Chí Minh là cộng sản, ông cũng là cộng sản,  ông đã chứng tỏ là ông là một tín đồ ngoan đạo đệ nhất của Marx. Qua  tác phẩm Phénoménologie et Matérialisme Dialectique và vài tác phẩm khác, ông là cộng sản số một, triết gia hàng đầu thế giới,  là vưu vật cộng sản, và thế giới, chắc chắn Hồ Chí Minh sẽ " hồ hởi phấn khởi " đưa ông về Việt Nam và trao cho ông các chức vụ quan trọng. Nhưng than ôi! Sự thật não nề biết bao!

Sau này ông kể lại cảm giác đầu tiên của ông gặp Hồ Chí Minh trong ngày 5-tháng 6-1946 mà Tri Vũ đã ghi lại như sau: "Ngày 5 tháng sáu, năm 1946 đánh dấu lần đầu tiên ông Trần Đức Thảo được gặp Hồ Chí Minh tại Paris. Trong buổi chiêu đãi ‘phái bộ cụ Hồ’, ông Thảo đã hồn nhiên vội vã thân mật ra nắm chặt tay Hồ chủ tịch và nói:’ Tôi rất hân hạnh gặp cụ chủ tịch. Cụ Hồ cũng vui vẻ đáp: Chào chú Thảo.. Vào cuối bữa ăn, Hồ chủ tịch kêu gọi anh em Việt kiều về nước tham gia kháng chiến. 

Trần Đức Thảo hăng hái nhận lời ngay và nói ông Hồ: Tôi rất mong ước được về nước cùng cụ xây dựng thành công một mô hình cách mạng tốt đẹp tại quê hương ta. Và để đáp lại lời ông Thảo: ông cụ lúc ấy chỉ mỉm cười nhạt, nhưng nét mặt thì vẫn lạnh lùng khi nhìn tôi. Tới lúc Hồ chủ tịch lần lượt bắt tay từ biệt mọi người. Khi bắt tay tôi thì ông cụ nói với tôi một cách nghiêm nghị:
-Còn chú Thảo này thì cách mạng chưa cần tới chú lúc này đâu.Chú cứ ở lại Paris thì có lợi cho cách mạng và cho chú hơn
 
( 2).

Tôi muốn bắt chước con cọp hỏi người nông dân:" Trí khôn ngươi để ở đâu? " Thấy ông Hồ một mặt kêu gọi Việt kiều về giúp nước, nhưng khi ông nhào tới xin xỏ thì ông Hồ dẫy ra và lạnh lùng, lẽ nào nhà triết học nghiên cứu hiện tượng học lại không biết đó là hiện tượng gì ư? Có lẽ máu tham danh vọng, địa vị , được lãnh tụ bắt tay gọi là chú - chà thân mật ghê!- thì ông Thảo mừng rơn, rất lấy làm đại vinh dự khiến ông mất cả trí khôn. Ôi , cá tham mồi mắc phải lưỡi câu! Kể từ lúc này cái lưỡi câu của ông Hồ đã chui tọt trong bụng con cá nhỏ Trần Đức Thảo đáng thương!

 Con phù du Trần Đức Thảo cứ nhào vào ngọn đèn đỏ dù đánh đuổi nó cũng không đi! Ông nổi danh là một triết gia thế giới, ông viết nhiều tác phẩm mà quan trọng là ca tụng Marx, nhưng tất cả chỉ là công dã tràng vì chính ông ngay lúc đó và về sau nhìn nhận rằng ông sai lầm!

Trong Hồi Ký, ông viết:" Cũng phải nói rằng chủ nghĩa Marx ngày ấy chỉ được quan niệm trong giới hạn hẹp hòi của tình trạng sùng bái cá nhân, trong ấy chủ nghĩa duy vật lịch sử bị thu rút vào vài nét đơn giản hóa, chỉ bao quát một số quan hệ riêng lẻ trong mỗi giai đoạn riêng biệt, tách rời sự vận động phổ cập cụ thể của lịch sử loài người. Một thế giới quan như thế trên thực tế là thuộc phạm vi tình trạng bóp méo theo lối siêu hình của cái phương pháp được chính thức tuyên bố là biện chứng....

Tuy nhiên Đại hội XX đã mang lại một sự giải phóng tư tưởng và như thế là làm cho tôi có đủ tinh thần để trở lại nghiên cứu triết học. Những bài của tôi đăng trong tạp chí La Pensée bắt đầu từ 1965 đã đi tới cuốn Nghiên cứu nguồn gốc của tiếng nói và ý thức (Editions Sociales, 1973-Paris). Trong ấy tôi nghĩ rằng có thể thực hiện quan điểm Marx-Lenin và sửa chữa cuốn Phénoménologie et Matérialisme Dialectique ngày xưa, bằng cách tiến hành một công trình hoàn toàn duy vật về nguồn gốc của ý thức xuất phát từ lao động và tiếng nói, gạt bỏ tất cả mọi di tích của chủ nghĩa chủ quan hiện tượng học.

Tuy nhiên trong toàn bộ cuốn Recherches sur l’Origine du Langage et de la Conscience, thì quan niệm và phương pháp vẫn không thoát khỏi những giới hạn hẹp hòi của cái di sản lý luận của thời sùng bái cá nhân, bóp méo chủ nghĩa Marx theo lối siêu hình
.(3)

Trần Đức Thảo có ba sai lầm và ba tội.. Ba sai lầm  này cơ bản là do  ông đã sống trong tháp ngà, không sống với thực tế nhiều. Do vậy cái sai lầm thứ nhất là  quá tin vào sách vở,  cả tin vào Marx. Cổ nhân nói" Tận tín thư bất như vô thư". Khi thấy bế tắc trong chủ nghĩa Marx, ông đâm đầu về Việt Nam cũng là do quá tin Marx, cho rằng Marx đúng, không thể sai! Ông cố gắng về Việt Nam để chứng minh Marx đúng!  Người bình dân ta rất giỏi khi nói  thẳng vào mặt bọn trí thức giả cầy " học quá hóa ngu " ! Cái sai lầm thứ hai là ông cứ chúi đầu vào sách mà không  mở mắt, lắng tai nghe, nhìn thực tế. Đó là thực tế Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc đại khủng bố của Stalin và Cách  mạng văn hóa của Mao, cùng các chính sách kinh tế dã man trong khối cộng sản. Giả sử ông không biết gì về tội ác cộng sản trong vụ Sô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, vụ thảm sát các đồng chí đệ tứ và các đảng phái, tôn giáo Việt Nam năm 1945-1946, lẽ nào ông không đọc Marx, không hiểu gì về các từ ngữ như Vô sản chuyên chính, cấm tư hữu, cưỡng bách lao động, chôn tư bản ? Không lẽ ông cho những từ ngữ này cũng giống như  các từ ngữ phong hoa tuyết nguyệt trong thi ca cổ nhân, rất thú vị cho thi nhân, triết gia và loài người ?Vậy thì cuộc nghiên cứu  ngôn ngữ và ý thức của ông  ( Recherches sur l’Origine du Langage et de la Conscience ) kết quả như thế nào? Cái sai lầm thứ ba là ông chẳng hiểu gì về tâm lý con người, nhất là tâm lý bọn cộng sản gian ác.

Ông phạm   ba tội lớn. Về tư tưởng  ông  không thấy rằng chủ nghĩa cộng sản là tai họa cho con người, là chủ nghĩa bất nhân, độc ác cho nên ông đã truyền nọc độc cộng sản cho đám trẻ, nhất là sinh viên và độc giả của ông..  Về chính trị,  ông theo cộng sản là theo bọn cướp của, giết người, phản lại dân tộc và quê hương trong khi bao chiến sĩ quốc gia hy sinh bảo vệ độc lập và tự do cho nhân dân Việt Nam,  cho nên ông là tòng phạm với bọn sát nhân và cộng sản phản quốc.Những người cộng sản kết tội  thực dân Pháp xâm lược còn cộng sản Nga, Tàu không xâm lược ư?

Và cuối cùng ông  phạm tội về đạo làm người. Những người theo cộng sản một số bị bắt buộc, bị lừa dối nhưng số lớn do kiêu căng, ngã mạn. Họ cho rằng họ yêu nưóc, chống thực dân, đế quốc, họ có lý tưởng bình đẳng, san bằng bất công xã hội, họ có trí tuệ vì có vũ khí là chủ nghĩa Marx bách chiến bách thắng. Khi họ kiêu căng như thế, họ đã coi những chiến sĩ quốc gia chống cộng là Việt gian phản quốc, là tôi tớ thực dân đế quốc ngu si dốt nát, chạy theo tư bản bóc lột và phong kiến hủ bại. Lê Duẩn, Trần Văn Trà cho đến các tên công an, và đảng viên quèn cũng rất kiêu căng, phách lối, coi người như cỏ rác. Họ cho họ là trí tuệ nhất hành tinh còn dân Nam ta là  ngu si, vô đạo đức Ngoài tội phản quốc theo Pháp, Mỹ, dân Miền Nam ta đa số  trai trộm cướp, gái đĩ điếm chẳng khác gì cầm thú! Cho nên chữ " giáo dục, cải tạo " của cộng sản không phải là một danh từ hoa mỹ mà là một ý hướng mạnh mẽ  và thiết thực nhằm dạy cho lũ  " ngụy quân ngụy quyền" trở lại làm người!

Một số khác, họ thêm tội bất hiếu. Họ cho họ tiến bộ, còn bố mẹ hủ lậu, lạc hậu, phong kiến, phản động. Hơn nữa họ làm cha mẹ họ đau lòng ! Trương Như Tảng kể lại chuyện đời ông trong Hồi Ký của Một Việt Cộng rằng sau khi Saigon thất thủ, Trương Như Tảng có dịp liên lạc với gia đình thì được biết cha ông mới qua đời, con gái ông đã được phu nhân tổng thống Thiệu bảo trợ cho đi du học ở bên Mỹ, con trai ông cũng đã sang Pháp, còn mấy người anh em ông thì bị đi "học tập cải tạo", trong đó có một người cho đến khi ông viết xong cuốn hồi ký (1985) vẫn còn ở trong tù. Ông buồn rầu nhớ lại lời cha ông nói lúc vào thăm ông trong nhà tù của tổng nha cảnh sát quốc gia năm 1967:

"Con à, ba không thể hiểu được con. Con đã bỏ tất cả. Một gia đình êm ấm, hạnh phúc, giầu có - để đi theo bọn cộng sản. Chúng sẽ không cho lại con được mảy may những gì con đã bỏ đị Rồi sẽ thấy. Chúng sẽ phản bội con và con sẽ khổ suốt đời."

Còn Trần Đức Thảo cũng là đứa con bất hiếu đã làm cha mẹ đau đớn. Bố của ông than thở: Về như vậy là mày tự giết mày rồi! Mà cũng là giết cả mẹ mày và tao nữa. Thảo ơi! Phải chi mà mày học được cái nghề như thợ nề, thợ máy, thợ mộc gì.. thì đỡ khổ cho tao biết mấy…(..) Chúng nó đã xúi mày đi vào chỗ chết. Có là điên mới đi theo chúng nó. Mày về đây là mày giết mày giết cả tao đấy Thảo ơi là Thảo ơi! (4)
Đúng là " cá không ăn muối cá ươn " !

II.GIAI ĐOẠN II- VỀ CHIÊN KHU -THÂN PHẬN LẠC LOÀI (1952- 1955)

Cuối 1949-đầu 1950: Trần Đức Thảo đã có cuộc tranh luận nổi tiếng với Jean-Paul Sartre về chủ nghĩa Márx và chủ nghĩa Hiện sinh. Cuộc tranh luận giữa hai đại triết gia bỗng biến thành một cuộc cãi lộn giữa hai đứa trẻ chăn trâu, đưa đến  chửi nhau và đấm đá túi bụi. Kết cuộc Trần Đức Thảo đưa đơn kiện J. Paul Sartre, nhưng không hiểu vì lý do nào, Trần Đức Thảo hành động như một ngưởi điên, nửa chừng bỏ vụ kiện và bỏ việc bảo vệ luận án tiến sĩ của đại học Sorbone mà gấp rút và bí mật trở về Việt Nam vào cuối 1951- đầu 1952 qua Praha, Moskva, Bắc Kinh.(5).Tại sao ông gấp rút, hốt hoảng và bí mật như vậy? Phải chăng ông rơi vào quỷ kế của  già Cáo?

Năm 1952 ông về chiến khu Việt Bắc. Năm 1953, ông được đảng phân công xách cặp hầu hạ Trường Chinh trong đó có việc dịch các tác phẩm của Trường Chinh. Mùa hè năm 1953, ông tham gia vào chỉnh huấn, thành viên của Ban Văn, Sử, Địa. Mùa thu năm 1953 đến đầu năm 1954, ông tham gia cải cách ruộng đất với vai trò là cán bộ cơ sở ở Phú Thọ.  Ba năm sau, năm 1954 mới cho làm Giảng viên trường đại học Tổng hợp Hà Nội.Năm 1954 – 1955: Giảng viên cổ sử học. Năm 1955 – 1958: Giáo sư giảng dạy lịch sử triết học. Năm 1956 – 1958: Chủ nhiệm khoa Sử. Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

Với các chức vụ trên, chúng ta thấy Việt Cộng không "hồ hởi, phấn khởi " đón tiếp ông. Ông Thảo thuật lại việc ông ba lần gặp già Hồ. Lần thứ nhất, ông Thảo gặp gỡ và nói chuyện với ông Hồ là vào tháng 6 năm 1946 tại Pháp. Lúc đó, ông Thảo là đại diện cho khối người Đông Dương sinh sống tại Pháp. Lần thứ hai là vào cuối năm 1952, ông được bố trí để gặp lãnh tụ trong ít phút thật ngắn ngủi tại một nơi trong An Tòan Khu (ATK) ở vùng Việt Bắc.

. Lần thứ ba là vào năm 1964, ông được chỉ định trình bày quan điểm về chiến tranh và hòa bình trước giới lãnh đạo cao cấp tại văn phòng Phủ Chủ Tịch. Ngay sau buổi thuyết trình đó, ông Hồ có nói vài câu có phần lơ là miễn cưỡng, mà không hề bày tỏ sự nhiệt tình thân mật gì đối với ông Thảo cả. Ông thuật lại là vào mấy phút cuối bài thuyết trình của ông, thì ông cụ tỏ vẻ mặt cau có vì không đồng ý với quan điểm của thuyết trình viên đã “không theo đúng với sách lược chủ chiến” của giới lãnh đạo đảng cộng sản thời ấy.
( 6 )

Cuộc gặp đầu tiên thường là quyến rũ ong bướm . Những kẻ ngu dại, háo danh, hám lợi như Trần Đức Thảo, Trương Như Tảng thấy chủ nhân vui vẻ đón tiếp thì hả hê " mừng thầm cờ đã đến tay ", và từ đó hết lòng  khuyển mã  phục vụ cộng sản nhưng than ôi, lần thứ hai, lần thứ ba mới than thở Thôi thôi ta đã mắc tay ai rồi!".  Sau này, ông nói cho Tri Vũ (Tri Vũ Trần Đức Thảo Những Lời Trăn Trối, chương Ðãi Ngộ Hay Bạc Ðãi) hay rằng, những chức vị mà người ta ban cho, “che giấu một đối xử nghiệt ngã và tồi tệ.”

Ông cho biết, sự có mặt của ông trong một số sinh hoạt chỉ là “bù nhìn đứng giữa ruộng dưa.” Sự thật “họ chỉ để cho sống; cho tôi khỏi chết đói; chỉ toàn là bạc đãi.” Nhà triết học phân trần, chúng bắt “tôi phải gắng mà học tập nhân dân nghĩa là phải cúi đầu tuyệt đối vâng, nghe lời đảng.” Ông tiết lộ, tuy có chức phó giám đốc trường Ðại Học Văn Khoa Sư Phạm nhưng “chưa hề được tham dự bàn bạc gì vào việc tổ chức, điều khiển, ngay cả ý kiến giảng dạy cũng không hề có.”Sự có mặt của ông trong các buổi họp hay đi theo các phái đoàn thanh tra là chỉ để “giới thiệu có thạc sĩ triết bên tây về ủng hộ cách mạng.” 

 Điều này thật ra là một việc hàng ngày ở huyện, vì tại các trường đại học, trung học, tiểu học đều do ban tổ chức đảng và ban giám hiệu đều là người của cộng đảng điều khiển và quyết định. Giáo sư, giáo viên cứ dạy, cứ chấm bài thi nhưng học sinh thi đỗ hay rớt giáo sư, giáo viên không cần biết đến. Các thầy các cô sau khi hết giờ dạy cứ tự nhiên đạp xich lô hay đi bán hàng rong,  đừng suy tư gì cả vì  mọi sự đã có đảng " no " rồi! Tại trường sở,  ban tổ chức, ban giám hiệu  có nhiệm vụ  và toàn quyền mua bán, trao đổi và đưa con em cháu chắt vào trường và lấy bằng cấp cao. Đó là nhiệm vụ cao quý của Cộng đảng trong việc tàn phá nền giáo dục và đạo lý con người. Bên  ngành Y khoa cũng vậy, ban tổ chức chủ trì mọi việc trong đó có việc mua bán, thu tóm mọi quyền lợi cho bè lũ cộng sản, còn bác sĩ, y tá chỉ là những tên nô lệ bị bóc lột tận xương tủy.

Trần Đức Thảo tiết lộ là Hồ Chí Minh đã có ác cảm với ông ngay từ buổi gặp gỡ lần đầu tiên với Việt Kiều tại nhà ông Raymond Obrac, người đã có nhã ý cho mượn nhà để làm buổi tiếp tân. Trần Đức Thảo cảm thức được rằng kể từ nay, thân phận người trí thức như ông sẽ bị bóng ma Bác Hồ phủ lên (7).

Kiến thức một  triết gia như Trần Đức Thảo không bằng kiến thức một bà Bắc kỳ di cư, hay một bà bán cá ở Chợ Cầu Muối Saigon, hay chị nông dân bồng con chạy trên con đường Quảng Trị-Huế trong mùa hè đỏ lửa. Ông há không biết Marx coi trí thức là thành phần lưng chừng, thảnh phản phản động, và cộng sản luôn nghi ngờ những ai kể cả cộng sản nằm vùng , cộng sản bị quốc gia giam giữ, hay gián điệp cộng sản. Kẻ bị tình nghi có thể bị giết hoặc bị giam. Ông ở Pháp về thì cũng  bị nghi là nhân viên Phòng nhì Pháp hoặc CIA. Dẫu sao, Trần Đức Thảo vẫn may mắn , không bị tù như Già Đô, một nhân vật của Bùi Ngọc Tấn trong Truyện Kể Năm 2000,  một tên lính thuộc địa mà cũng yêu nước, yêu cộng sản thắm thiết như triết gia Trần Đức Thảo! Và ông cũng may mắn hơn đám người trên tàu Việt Nam Thương Tín năm 1975!

Hơn nữa, cộng sản ghét trí thức, những người it học như ông Hồ, Trường Chinh, Lê Duẩn lại càng khinh miệt trí thức! Người cộng sản dốt nhưng rất kiêu căng. Họ coi cái đám trí thức bên Tây về là bọn tay sai tư bản, chỉ biết bơ sữa, không biết chiến đấu, chỉ có cái học sách vở vô giá trị, còn họ là những Marxist chính tông, trưởng thành trong thực tế và trong chiến đấu. Riêng ông Hồ, ông muốn giữ độc quyền bá chủ Việt Nam, ông đâu muốn cái thằng nhãi ranh kia về tranh giành ánh sáng của ông. Có lẽ khi nghe Trần Đức Thảo nói: "    Tôi rất mong ước được về nước cùng cụ xây dựng thành công một mô hình cách mạng tốt đẹp tại quê hương ta"  , ông Hồ đã nổi giận lôi đình trong bụng mà nghĩ rắng :  "  Mày tưởng là mày ngon lắm ư? Với chút bằng cấp và tiếng tăm  tí xíu mà mày đòi sánh với tao ư? Con đom đóm mà đòi sánh với mặt trời ư? Mày tưởng mày là triết gia Marxist đệ nhất hạng mà đòi về Việt Nam cưỡi đầu, cưỡi cổ tụi tao ư? Còn khuya! Tao sẽ cho mày biết thế nào là lễ độ!"
Hơn nũa, qua lời kể của ông Thảo, năm 1946 gặp già Hồ lúc đó ông Hồ mới 46  tuổi mà gọi là  cụ! Ông quên hay nhớ  ? Ông Thảo sống bên Pháp mà nịnh bợ như thế ư? Cổ nhân ta có câu:

"Rồng vàng tắm nước ao tù,
Người khôn ở với người ngu bực mình
".

Nếu người khôn bực mình một thì người ngu bực mình gấp mười, gấp trăm. Có quyền hành trong tay, họ sẽ mắng nhiếc, hành hạ trí thức đến nơi đến chốn! Điều này thì các trí thức Việt Nam đã sống với cộng sản thì ắt hiểu nhiều! Tiếc thay nhiều trí thức lại là những thằng khờ!

Đến đây, chúng ta thử xem tư tưởng của Trần Đức Thảo trong giai đoạn này như thế nào. Xem các bài viết của ông trong giai đoạn này, chúng ta thấy rằng ông chỉ là con vẹt, luôn theo đúng Marx-Lenin mà chỉ trích phong kiến, thực dân tư bản và hoan hô lãnh tụ, hoan hô vô sản, hoan hô cộng sản.

Về lịch sử Việt Nam, ông viết: "Nghiên cứu lịch sử Việt-nam, chúng ta thấy từ ba thế kỷ nay xã hội Việt-nam trải qua những cuộc đảo lộn sâu sắc, chế độ phong kiến suy đồi, nhà Nguyễn bán nước cho giặc xâm lăng, chính sách tàn ác của bọn thực dân và cuộc cách mạng vĩ đại phản đế phản phong của nhân dân Việt-nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch, giai cấp và Đảng công nhân" (8).

Ông luôn nói đến lập trường cách mạng, ca tụng CCRD, ca tụng sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Ông viết:"lập trường cách mạng triệt để phản phong trong cải cách ruộng đất là lập trường giai cấp công nhân đứng về phe nông dân mà lãnh đạo nông dân đấu tranh chống giai cấp phong kiến. Sở dĩ giai cấp nông dân cần được sự lãnh đạo của giai cấp công nhân là vì kinh tế nông dân có tính cách cá thể phân tán, vậy giai cấp nông dân, tuy đời đời vẫn chống phong kiến, nhưng chưa thể có một trình độ tổ chức và tư tưởng đầy đủ để đánh đổ chế độ phong kiến, nếu không có sự lãnh đạo của một giai cấp tiền phong, đại diện cho một phương thức sản xuất cao hơn. .... Chỉ có giai cấp công nhân mới có tư tưởng dứt khoát, triệt để cách mạng, và khả năng lãnh đạo nông dân đến thắng lợi hoàn toàn (9) 

Ông ca tụng CCRD nhưng ông kể rằng năm 1954, ông được tham gia một chuyến đi về huyện Chiêm Hóa, để vận động các bần cố nông đấu tố địa chủ, đã chứng kiến vụ những dân làng bị đánh đập dã man, rồi đem ra xử bắn, trước sư hiện diện của cố vấn Trung quốc (chiến dịch cải cách ruộng đất do các cán bộ Tàu chì huy).

Ông Thảo bị xúc động mạnh, đòi các cố vấn này giải thích về căn bản pháp lý của tỷ số giết người ấn định 5%. Các cố vấn này bèn lập phiên tòa, định đưa Gs.Thảo ra xét, rồi xử bắn về tội phản cách mạng. Sau cùng, chuyện được hoãn lại. Ông thuật lại cảm xúc của ông khi nhìn thấy cảnh cộng sản giết dân lành. Tri Vũ ghi lại như sau:

" Bỗng thân xác Thảo run lên lên lập cập vì xúc động, như một cơn sốt rét mãn tính bất ngờ ập tới, mồ hôi lạnh toát ra từ trán tới chân, nước mắt tuôn trào, hàm răng run lập cập..(…) 
Thật ra thì những tiếng súng chát chúa hạ sát mấy thân xác đồng bào tội nhân ấy đã như bắn vào chính thân xác Thảo, đã vĩnh viễn đập tan tành giấc mộng trở về góp công sức xây dựng một mô hình cách mạng mà nhân loại trông chờ. (10 )

Một triết gia như Trần Đức Thảo lại có thể ăn nói hàm hồ, xuyên tạc, bóp méo ý tưởng của cổ nhân. Khi phê bình bài Hịch Tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, ông bảo là bài này động cơ tư tưởng biểu lộ một cách có thể nói là “trắng trợn”, những ý nghĩ của một giai cấp chuyên môn bóc lột (11)

Không thể tưởng tượng nổi một triết gia lừng danh mà lại viết lách , ăn nói như những tên Việt Cộng răng đen cải mả.  Văn chương, triết học, ngôn ngữ là phản ánh trung thực hoàn cảnh xã hội. Ông  quá khích và mê muội khi theo Marx mà cho rằng chỉ có cộng sản là văn minh, nhân đạo còn các xã hội khác là dã man, thấp kém.

 Ông nghiên cứu về ngôn ngữ và hiện tượng lẽ nào không biết ngày xưa quân chủ tất nhiên là có những ngôn ngữ như hoàng đế, đại vương, thái ấp, bổng lộc, chủ tớ. Không lẽ ông theo Marx cho rằng phải phá bỏ mọi thượng tầng kiến trúc cũ, phải sổ toẹt những trang sử, những tư tưởng, những phong tục tập quán cũ. Và như vậy cần gì phải nghiên cứu cổ sử? Cứ nhắm mắt chê và thẳng tay đập phá như bọn Vệ binh đỏ cuả Mao là được. Nếu quả như vậy thì sao ông không nhìn thẳng trước mắt về  thời Đại khủng bố của Stalin và Cách mạng văn hóa của Mao mà lại nghiên cứu loài khỉ và trẻ sơ sinh làm gì? 

Phải chăng ông theo Marx cho rằng tất cả cái gì thuộc quân chủ, tư bản là xấu, ngay cả việc kêu gọi chống ngoại xâm của Trần Hưng Đạo cũng là tàn dư của phong kiến lạc hậu? Phải chăng ông theo bén gót Marx, Lenin, Stalin chỉ trích tinh thần dân tộc mà đề cao tinh thần vô sản quốc tế, và ông  hoan hô việc Hồ Chí Minh, Phạm văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười bán nước cho Trung Cộng? Phải chăng ông theo Marx cho rằng mọi điều cộng sản làm là dân chủ, thịnh vượng, bình đẳng, là chân lý ngay cả việc họ gây chiến tranh , giết dân lành trong CCRD và  đày ải ông và dân tộc ông cũng đúng?


Không lẽ ông cho rằng thời Trần Hưng Đạo phải dùng những chữ văn minh tién bộ như đảng, chi bộ, đồng chí, chủ tịch, tổng bí thư, sổ gạo, sổ gia đình, sổ tạm trú? Lẽ nào ông cho rằng những ngôn ngữ và hiện tượng như đồng chí, bác, đảng, xếp hàng cả ngày...  là tràn trề tình yêu thương của một xã hội công bằng, bình đẳng?

  Lẽ nào ông nghĩ rằng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa là không có bóc lột, đàn áp,  và cướp đoạt tự do con người? Không lẽ ông cho  thời đại Hồ Chí Mình  đẹp nhất tên người,  thời đại của văn minh bèo hoa dâu, xuyên tâm liên là khoa học đệ nhất hành tinh, còn Đinh, Lê, Lý Trần là đồ bỏ?

Tóm lại, xem sơ qua các bài giảng , bài biên khảo của ông trong giai đoan này ta thấy buồn nôn về một Trần Đức Thảo giáo điều , quá khich, nịnh hót, dối trá, không có chút nào độc lập và sáng tạo của một trí thức nhất là một triết gia tầm cỡ quốc tế. Hành động hèn mạt , nịnh hót của ông chỉ làm cho bon cường quyền vô học thêm  khoái trá và thêm khinh bỉ ông. Chịu đấm ăn xôi, xôi lại hẩm! Đó là thân phận  đắng cay của những trí thức dại dột  chạy theo  cộng sản như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Như Tảng, Nguyễn Khắc Viện! Cũng khổ cho ông cái thân  " đến nước lạc loài  "! Tại sao ông không ở lại Pháp hoặc về Sai gòn mà đâm đầu vào địa ngục? Phài chăng là do " ma đưa lối quỷ đưa đường  "? Nhưng mà thôi, ông về Việt Bắc thì cũng tiện. Nếu ông về Sai gon mà cũng quậy như Phạm Huy Thông, mất công nhân viên công lực miền Nam phải hộ tống ông qua Bến Hải trả ông về miền Bắc cho Bác và đảng yêu quý của ông. Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, nhập gia tùy tục. Ở với cộng sản thì phải quỳ lạy và hoan hô là điều dĩ nhiên!

III. GIAI ĐOẠN III - ĐẠI BẤT HẠNH TRONG CUỘC ĐỜI (1956-1990)

Sau khi về Hà Nội, bị ảnh hưởng về bản báo cáo của Khrushchev năm 1956 tố cáo tội ác của Stalin, ông Thảo tỉnh ngộ, tham gia Nhân Văn Giai Phẩm viết về tự do, dân chủ nên bị cộng sản sa thải. Đó là bất hạnh thứ nhất. Sau 1954 từ Việt Bắc về Hà Nội, Giáo sư Trần Đức Thảo kết hôn với Tiến sỹ Nguyễn Thị Nhứt, đến ngày 5 tháng 1 năm 1967, theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Nhứt hai ông bà đã thuận tình ly hôn.

Có vài nguyên nhân cho việc đổ vỡ hôn nhân. Bà Nhất bị đi thực tế để rửa sạch óc tư sản Tây phương. Vì lao động khổ sai nên bà bị hư thai. Bà muốn nuôi con nuôi nhưng đưá trẻ ồn ào, ông Thảo không chịu đưọc tiếng khóc của trẻ. Vả lại, lúc này, ông Thảo thất nghiệp, nuôi thân chưa được huống hồ nuôi trẻ. Việc này gây mâu thuẫn giữa hai vợ chồng.

Ông Thảo ham mê viết lách, quên cả việc săn sóc vợ, trong khi vợ ông lại có bác sĩ Nguyễn Khắc Viên tận tình săn sóc. Vì ông Thảo chống đảng, người ta gây khó khăn cho bà Nhất, tạo áp lực để bà Nhất bỏ ông Thảo. Cuối cùng, theo một nhân vật Thăng Long ngày cũ, Trần Đức Thảo rất tây, đã xách vali đưa vợ đến nhà Nguyễn Khắc Viện. Đây là bi kịch chung của thời CCRD và Nhân Văn Giai Phẩm. Mất con, mất vợ là hai điều bất hạnh của Trần Đức Thảo (12)

Năm 1956, hai bài báo nhan đề Nội dung xã hội và hình thức tự doNỗ lực phát triển tự do dân chủ của Trần Đức Thảo trên 2 tờ Nhân văn và Giai phẩm mùa Đông đã khiến ông phải ra khỏi biên chế Nhà nước. Nhà triết học có thời gian đi lao động ở Tuyên Quang hay chăn bò ở nông trường Ba Vì, coi như để “cải tạo tư tưởng”.


Theo nhà văn Tô Hoài trong hồi ký Chiều chiều thì đàn bò “móp bụng” của Trần Đức Thảo cũng bị hổ vồ, trộm bắt mất vài con… Từ 1958, ông được tạo điều kiện ngồi ở HN nghiên cứu và gửi bài cho các tạp chí và NXB ở Pháp. Nhưng cái nghề viết thuê chẳng đem lại no ấm cho thân hàn sĩ. Phùng Quán kể lại đời sống của ông Thảo ở Hà Nội:

" Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp ‘Pơ-giô con vịt’ mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người…”

Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi: “Ông đi đâu về mà nom vất vả thế.. ế.. ế. Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun. Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái ‘pooc ba ga’, mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi nả rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con
(13).

Thái Vũ kể: "việc gặp thầy Trần Đức Thảo từ nước Pháp tư bản trở về là rất dễ bị quy tội như bên Trung Quốc trong Đại Cách mạng Văn hoá. Gặp thầy lủi thủi đạp chiếc xe đạp mini cộc cạch cũng đành làm ngơ, nhiều khi không dám nhìn.(14 ).

Trong quyển sách hồi ký nguyên văn bằng tiếng Pháp là Mémoire d'un Vietcong (Hồi ký của một Việt Cộng), Trương Như Tảng có nhắc tới thạc sĩ Trần Đức Thảo (tr.300):

" Ông không bị tù hay hành hạ thân xác, nhưng công an bao vây, cô lập ông không cho ai tiếp xúc…Nếu ông Thảo tiếp xúc với ai, chẳng hạn một người bạn trên đường phố, thì người đó sẽ bị bắt giữ để điều tra. Bề ngoài xem ra triết gia sống cuộc đời bình thường. Nhưng thực tế ông sống như Robinson Crusoe, hoàn toàn cô độc, mặc dầu có nhiều người ở xung quanh. Ngay họ hàng thân thích cũng không được phép nói chuyện với ông. Đối với một trí thức như vậy là một  sự tra tấn dã man."

Françoise Corrèze, người bạn thân của Trần Đức Thảo có hay tới thăm ông ở căn phòng khu tập thể Kim Liên, nhưng chỉ bút đàm, vì phòng bị thu âm ( 15).

Chúng ta thử xem trong giai đoạn này, tư tưởng của ông như thế nào. Hai bài biên khảo của Trần Đức Thảo đã khôi phục giá trị ông. Đó là:
-Nội-dung Xã-hội và Hình-thức Tự-do [Social Content and Forms of Freedom = Contenu Social et Formes de Liberté]. Giai Phẩm Mùa Đông, tập 1, 1956. Đăng lại trong: Trăm Hoa Đua Nở trên Đất Bắc. Paris: Sudasie, 1983. Tr. 289-291.
- Nỗ-lực Phát-triển Tự-Do Dân-chủ [Let’s Try to Develop Freedom and Democracy = Efforçons-Nous à Développer les Libertés et la Démocratie]. Nhân Văn, số 3, 15/10/1956 Đăng lại trong: Trăm Hoa Đua Nở trên Đất Bắc. Paris: Sudasie, 1983. Tr. 291-292.

Hai tác phẩm này đã được đăng trong Nhân Văn Giai Phẩm là một sự thức tỉnh của Trần Đức Thảo. Ông đã bỏ lối nói vẹt và thái độ con giun con dế.

Tập Hồi ký của ông viết xong ngày 20 tháng 4 năm 1989 cũng là một sự xét lại chủ nghĩa Duy Vật, nhất là về quy luật mâu thuẫn, quy luật phủ định của phủ định. Tuy là có phản biện, nhưng suốt bài viết, ông luôn nhắc đến Marx, Engels, Lenin bằng một giọng điệu thành kính của một tín đồ mộ đạo. Tư tưởng của ông cũng lấn cấn, ông vẫn ôm ấp Marx trong lòng chứ không đạp nó đi. Trong Tiểu sử tự thuật viết tại Hà Nội, ngày 01 tháng 02 năm 1984 có đoạn :

Trong hành trình của tôi, tôi đã được đưa đến Chủ nghĩa Mác qua 2 con đường:
Thứ nhất, đó là cuộc đấu tranh đòi tự do cho dân tộc dẫn đến chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, việc nghiên cứu triết học và lịch sử triết học đã cho tôi thấy rằng chỉ có duy nhất Chủ nghĩa Mác-Lênin mới vạch ra con đường đúng đắn để giải quyết những vấn đề cơ bản về phần lý luận khoa học.

Trong những năm sau chiến tranh, lần đầu tiên khi tôi được làm quen với những chính văn (tác phẩm nguyên bản) của Chủ nghĩa Mác, tôi rất ngạc nhiên bởi những lời nhận xét trong Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” về khả năng chuyển qua giai cấp vô sản của một bộ phận trí thức tư sản, trong thời kỳ khủng hoảng toàn bộ của Chủ nghĩa tư bản qua việc nghiên cứu triết học của tôi từ những vấn đề đơn thuần là trừu tượng đến việc suy xét một cách toàn diện về tính chân thực của vận động của lịch sử, của tự nhiên lý, hoá đối với cuộc sống, với xã hội và ý thức.


“Vào thời kỳ mà cuộc đấu tranh giai cấp đi đến lúc quyết định, thì quá trình tan rã bên trong tầng lớp thống trị, bên trong toàn bộ xã hội cũ mang một tính chất mạnh mẽ và triệt để đến mức một bộ phận của tầng lớp thống trị sẽ tự rời bỏ giai cấp mình và liên kết với tầng lớp, với giai cấp cách mạng, tầng lớp nắm giữa tương lai trong tay họ.

Cũng tương tự như trước đây, một bộ phận quý tộc chuyển qua giai cấp tư sản, ngày nay cũng tương tự như vậy, một bộ phận tư sản sẽ chuyển qua giai cấp vô sản, Đặc biệt hơn, một bộ phận những nhà tư tưởng tư sản với sức cố gắng làm việc của mình, họ có thể vươn lên sự am hiểu về lý luận của toàn bộ quá trình vận động của lịch sử”
(16 ).

 Tác phẩm cuối cùng của Trần Đức Thảo là quyển "Vấn Đề Con Người và Chủ Nghĩa Lý Luận Không có Con Người (Le Problème de l'homme et l'antihumanisme théorique) xuất bản lần đầu năm 1988, và in lần hai, Saigon, 1989, 174 trang, có viết thêm và được tác giả dịch ra tiếng Pháp. Nhà xuất bản giới thiệu là tác phẩm ra đời do đại hội 6 (1986) của đảng cộng sản Việt Nam. Mở đầu, theo truyền thống và nghi lễ cộng sản, ông dựa vào diễn văn của Gorbachev đọc tại hội nghị trung ương đảng Cộng sản ngày 28-2-1988 về vấn đề ''chống tha hóa giải phóng con người'' để viết tác phẩm này.

 Trước đây Marx cho rằng chủ nghĩa tư bản tha hóa con người, nay Trần Đức Thảo lại thêm vào một loại tha hóa thứ hai là '' sự tha hóa sinh ra trong xã hội XHCN từ những năm 1930, do cơ chế hành chánh mệnh lệnh, tệ sùng bái cá nhân, chủ nghĩa quan liêu, giáo điều. Sự tha hóa này được giải quyết trong quá trình đổi mới, cải tổ có tính cách mạng đương tiến hành từ 3 năm nay ''(tr.23).

Trần Đức Thảo định nghĩa '' sự tha hóa của con người'' nghĩa là sự phủ định con người tức là con người bị đặt trong tình trạng bất nhân '' (tr.25).Trần Đức Thảo cho rằng Althusser và Mao Trạch Đông kết hợp với nhau tạo thành phái ''lý luận không có con người.'' (TDT,33).

Althusser lập nên phái lý luân không con người vì ông theo Marx. Althusser dẫn lời Marx:-Phương pháp phân tích của tôi không phát xuất từ con người mà từ giai cấp xã hội trước mắt về phương diện kinh tế . Tư bản I, 3 (52) -xã hội không phải do những cá nhân hợp thành'' Marx,Grundrisse, tr. 176 (TDT,49). Trần Đức Thảo cho rằng Althusser là trích dẫn thiếu vì đoạn dưới Marx có câu: xã hội là biểu hiệu sự tổng hợp sự liên hệ, quan hệ trong ấy những cá nhân đứng người nọ đối với người kia'' (62).

 Và Trần Đức Thảo phê bình Althusser đã vận dụng quan điểm giai cấp một cách máy móc [..]. không hiểu hệ thống giai cấp xuất phát từ đâu (50). Dù bênh Marx, Trần Đức Thảo đưa ra những sai lầm trầm trọng của cộng sản hiện đại. Cộng sản coi một số người là kẻ thù giai cấp, coi họ không còn là con người.

Ông phê phán quan điểm giai cấp của cộng sản là lối lý luận ''không con người'' nghĩa là lối lý luận bất nhân. Tuy nhiên, trên cơ bản, dù thấy cộng sản lấy quan điểm" đấu tranh giai cấp " để giết hại nhau và giết nhân dân, và chính bản thân ông cũng bị đòn thù của " đấu tranh giai cấp " thế mà ông vẫn xác nhận chủ trương tàn ác này là tốt. Ông viết:" Quan điểm giai cấp là hoàn toàn đúng và căn bản (122). Triết gia mà viết như vậy thì hết nói! Trách chi cộng sản vô học  và gian trá ăn nói hồ đồ !


IV. GIAI ĐOẠN CUỐI- TRỞ LẠI PARIS (1991-1993)


Năm 1985, sau khi đi Cộng hòa dân chủ Đức vừa chữa bệnh, vừa làm việc với Viện hàn lâm khoa học của CHDC Đức, ông có sang làm việc với Viện hàn lâm khoa học Liên Xô.


Năm 1991, ông sang Pháp chữa bệnh kết hợp với "nghiên cứu khoa học  do Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cử" (theo TS. Cù Huy Chử) và mất tại Paris vào năm sau. Theo những anh chị em có dịp tiếp cận, Trần Đức Thảo cho biết ông được tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Ban bí thư cử sang Pháp để "giải độc trí thức Việt Kiều" khỏi những ảnh hưởng xấu.

Cũng có ý kiến rằng vì Nguyễn Văn Linh, Trần Bạch Đằng đưa Trần Đức Thảo vào Saigon để trang trí cho chính sách Đổi Mới, do đó nhiều người lui tới đông đúc, bọn Thành ủy phải tống xuất Trần Đức Thảo. Tại Sài gòn, một nhân vật quyền thế nắm sinh mạng Trần Đức Thảo là Sông Trường, y chính là người đã trục xuất Trần Đức Thảo ra khỏi Việt Nam với một vé máy bay có đi mà không có về. Hãy nghe y nói với Trần Đức Thảo:

Chúng tôi đã bố trí, đã chuẩn bị cho anh một lối thoát vừa danh dự vừa lý tưởng. Vì anh chưa nghĩ thấu đáo đấy thôi. Tất cả đã sẵn sàng rồi! Nhất định là anh không thể lưu lại cái đất Sài Gòn này như vậy nữa đâu! Đảng đã quyết định, nhất định là anh sẽ phải ra đi thôi!!! [17]

Sự thật theo lời ghi lại của ông Trần Đức Thảo thì ông đã bị trục xuất ra khỏi Việt Nam như một thứ vật dư thừa, thứ đồ phế thải.Nhưng họ lại gọi đây là một chuyến đi công tác.Vì thế, mới có bài viết: Về chuyến đi công tác tại Pháp của giáo sư Trần Đức Thảo tháng 3- năm 1991- 24 tháng 4 năm 1993 của ông Cù Huy Chử và Cù Huy Song Hà.[18]

 Một bình luận gia viết về việc này như sau: Chuyến đi công tác này có nhiệm vụ đi giải độc về những gì Georges Boudarel được coi là đã viết sai về Nhân Văn Giai Phẩm tại Việt Nam. Từ ông Phạm Văn Đồng đến Nguyễn Văn Linh và ông Hồng Hà đều bằng lòng bố trí cho Trần Đức Thảo sang Paris. Chính ông Hồng Hà đã ký công văn số 624-CV-TU cử giáo sư Trần Đức Thảo sang Pháp để nghiên cứu khoa học. Sau đó ông Thảo đã được cấp vé máy bay và ăn ở tại Paris trong thời gian 6 tháng..

Đọc những thông cáo chính thức trên cho thấy tính cách bịp bợm của lãnh đạo cộng sản. Một mặt gọi là chuyến công tác giải độc những điều viết sai trái của G. Boudarel. Nhưng trong công văn chính thức lại ghi là đi nghiên cứu khoa học!

Khôi hài. Ông Trần Đức Thảo là triết gia biết gì về lãnh vực khoa học- khoa học gì mới được- mà nghiên cứu? (18b)

Cộng sản bịp bợm, dối trá là bản chất của họ. Họ cũng dùng danh từ rất ngược đời. Họ coi bèo hoa dâu là khoa học cổ truyền của nhân dân ta. Họ quảng cáo phát minh của ai đó chủ trương lấy phân trâu bò phơi khô làm thực phẩm gia súc là khoa học trí tuệ đệ nhất. Họ tuyên xưng xuyên tâm liên trị bá bệnh là siêu khoa học.

Và vì họ cho rằng đảng cộng sản bách chiến bách thắng, lãnh tụ cộng đảng anh minh, chủ nghĩa Marx là khoa học vạn năng cho nên bất cứ một cuộc hội họp nào họ cũng gọi là hội nghị khoa học, báo cáo khoa học, và ăn hối lộ, trộm cắp, giết người cũng  là công tác khoa học. Vì vậy những ai ở ngoài hành tinh CHXHCN Việt Nam đừng lạ về danh từ hội nghị khoa học, báo cáo khoa học công tác, và nhiệm vụ khoa học. Công tác khoa học rất quan trọng và mọi việc đều mang nhãn hiệu khoa học. Đại tướng anh hùng của " đảng  ta" cũng đuợc chuyển ngành sang phục vụ  ngành  khoa học đó sao? Chỉ việc sờ vào bao cao su cũng là nghiên cứu khoa học và  có thể đi báo cáo khoa học nếu anh có chút vai vế trong cộng đảng !

Xét truyền thống buôn bán dân, bán nước, nhất là đối với những người chống đối chế độ, cộng sản luôn đem hạng người này để đổi chác. Trần Đức Thảo cũng là một món hàng xuất khẩu tốt. Họ đưa ông sang Paris nhưng lại giam lỏng ở sứ quán Việt Nam. Ông sống nghèo khổ . Còn hai người khách lạ đến với ông bằng một tấm lòng. Và nhất là họ là người Sài Gòn- người quốc gia. Ông kể:

‘Canh và tôi –(một người gốc gác ở Quy Nhơn, một người ở Sài Gòn)-đều rất xúc động khi phải chứng kiến cảnh một vị giáo sư từng một thời vang danh ở Paris, mà nay phải hạ mình bàn cách bán tiếng nói, bán chữ để kiếm sống qua ngày(…).Canh cũng bỏ vào túi áo nhà triết học một chút tiền. 
Chúng tôi rất ngạc nhiên và cũng rất ái ngại khi nhìn thái độ ngượng ngùng của bác Thảo khi tiếp nhận sự trợ giúp ấy. Phải cố cầm nước mắt, để gượng cười với nhau. Những tâm sự u buồn ấy đã làm chúng tôi im lặng khá lâu khi cùng nhau đi ra xe. (19)
Ở một chỗ khác, ‘Bác Thảo lắc đầu mỉm cười tê tái, mắt ngấn lệ. Chúng tôi nhìn bác thấy thảm thương quá, không cười theo đượ
c. (20)

Tác giả Minh Diện viết về những ngày cuối cùng Trần Đức Thảo ở Paris như saul; "Bảy mươi tuổi Trần Đức Thảo mới quay về chốn xưa. Tiếc thay thời huy hoàng của ông đã qua lâu rồi. Rất ít người còn nhớ tới ông. Suốt 40 năm ông cô đơn bên trời Nam,giờ lại cô đơn bên trời Tây. Khi người ta đã bỏ lỡ cơ hội thì khó mà tìm lại được.

Quay lại Pari, Trần Đức Thảo sống tạm bợ trong căn phòng xép trên tầng 5, nhà khách của Đại sứ quán Việt Nam. Nhà báo Nguyễn Đức Hiền tả lại cảnh sống của ông như sau: “Một ông già ở độ tuổi cổ lai hy, khoác chiếc áo cũ màu tím dài chấm gót, bưng bê lỉnh kỉnh mọi thứ xoong chảo, chai lọ leo lên, leo xuống hàng trăm bậc thang tự lo lấy bữa ăn cho mình. Ông già ấy cứ hành trình chừng mười bậc thì dừng lại, tựa người vào hành lang đứng nhắm mắt, há miệng thở như thổi bễ.” Một chiều mùa Hè năm 1993, ông già ấy gục xuống tại bậc cầu thang, không bao giờ gượng đứng dậy được nữa… Năm 2000, ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Xã hội
.(21 )

Phùng Quán về tính bi hài kịch của thứ văn hóa cộng sản. Bài viết với nhan đề: Hành trình cuối cùng của một triết gia.
Lần này triết gia trở về Tổ Quốc trong khoang hành lý máy bay, chiếm một chỗ hết sức khiêm nhường. Triết gia đã hóa thân thành tro nằm trong cái bình bằng kim loại sơn mầu xanh thẫm hơi giống một chiếc cúp bóng đa và cũng to bằng cỡ đó…(..). Về đến Hà Nội vì không có gia đình vợ con, không có cơ quan nào nhận để thờ, hoặc để quàn….nên triết gia phải tạm trú dưới cái gầm cầu thang của nhà tang lễ thành phố 125 , đường Phùng Hưng Hà Nội.

Tôi được biết triết gia là người chiếm kỷ lục thời gian tạm trú ở đây. Năm mươi ngày đêm.Và mỗi ngày đêm tiền thuê phòng là 5000 đồng..Nhưng Trần Đức Thảo thuê phòng mà diện tích tranh thủ chưa đầy một mét vuông..Khách thuê phòng này lại không dùng đến giường, đệm, chăn màn, tivi, tủ lạnh, điện thoại riêng, máy điều hòa nhiệt độ, toa lét, nhân viên phục vụ.. tính chi li theo tôi còn đắt hơn cả khách sạn 5 sao.

Triết gia phải tạm trú lâu như vậy là phải chờ quyết định trên, có được đưa vào Mai Dịch hay phải về Văn Điển..

Sau 50 ngày chờ đợi, tốn mất 250 ngàn tiền phòng, triết gia đã được trên quy định đưa về mai táng tại khu A Văn Điển, khu vĩnh viễn hưởng thụ đúng tiêu chuẩn quy định.

Mộ của ông khá đặc biệt. Bình tro được đặt trong tiểu sành, tiểu sành được đặt dưới khuôn huyệt bên trên có nắp bê tông đậy kín. Như vậy là ông được mai táng theo quy cách các nhà giàu cổ xưa: trong quan ngoài quách.

Đây có lẽ là sự xa xỉ độc nhất trong cuộc đời triết gia quá ư thanh bạch của ông, mà nếu biết được, tôi tin chắc ông sẽ kịch liệt phản đối.
(22)

Đến đây, chúng ta thử xem xét những tác phẩm của ông lúc này. Tác phẩm đáng chú ý là tác phẩm phê phán Stalin. Nguyên lúc bấy giờ Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng bi thư, y muốn dùng hình ảnh Trần Đức Thảo để trang trí cho văn phòng Tổng bí thư của y. Lúc bấy giờ Việt Cộng theo Gorbachev đổi mới, nên cũng theo Khrushchev phê phán Stalin cho vừa lòng tân chủ. Vì vậy mà Trần Đức Thảo mạnh dạn phê phán Stalin.

Theo Cù Huy Chử,  Trần Đức Thảo đã viết các tác phẩm: Mao Trạch Đông (I,II,III) vào năm 1976-1978, Phương pháp tư duy Staline, Con người và chủ nghĩa lý luận không có con người (với tư cách là con người nói chung), bài phát biểu về đấu tranh chống tiêu cực và phát huy dân chủ tại Hội liên hiệp khoa học TP. Hồ Chí Minh trước khi viết Hồi Ký, nghĩa là trước 1989 (23).Theo Nguyễn Ngọc Giao, quyển sách này xuất bản tại Pháp năm 1988.

Ông viết về việc in sách này:"Thực ra thì giữa ông và tôi cũng có một chút duyên: những năm "đổi mới", khi tôi phụ trách trung tâm văn hóa "Nhà Việt Nam" (ở số 23 rue Cardinal Lemoine, quận 5 Paris), ông có trao phó cho tôi xuất bản cuốn La philosophie de Staline, I. Lúc đó, hình như theo gợi ý của hai ông Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng, Trần Đức Thảo được Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh mời vào ở khách sạn Embassy (Bến Nghé?). 

Khí hậu và đời sống ở thành phố dầu sao cũng thuận lợi với tuổi tác, sức khỏe thân thể (ông bị xơ gan nặng, không thể tiêu hóa chất mỡ và thịt có nhiều chất mỡ như thịt lợn) và tinh thần (từ sau vụ Nhân văn Giải phẩm, ông mắc chứng mặc cảm truy bức khá trầm trọng) thuận lợi, thoải mái hơn. Ông tiếp tục nghiên cứu về đề tài hình thành ý thức con người, tìm đọc những công trình nghiên cứu về khảo cổ học, ngôn ngữ học và tâm lý trẻ em để phát hiện thời điểm phát sinh ý thức của từng con người cá thể, của cộng đồng con người. 

Mặt khác, ông viết cả về những vấn đề lí luận liên quan tới thời sự: ông cho rằng sự trì trệ của nghiên cứu triết học tại các nước xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ Stalin, cụ thể là từ lúc mà y đã "cố định hóa" biện chứng pháp vào mấy "quy luật" cứng nhắc và tầm phào; mặt khác, ông suy luận về nền tảng chủ nghĩa Pol Pot, và cho rằng, ngoài chủ nghĩa Mao, nạn diệt chủng ở Cam pu chia còn bắt nguồn từ... chủ nghĩa "lý luận không có con người" (ám chỉ antihumanisme của Louis Althusser). Chính trong bối cảnh này mà cuối năm 1987, đầu năm 1988, tôi đã nhận được bản thảo Triết học của Stalin, I. Cuốn sách còn sơ lược, nhưng hé ra những triển vọng nghiên cứu về biện chứng pháp, chuẩn bị cho sự "tái xuất giang hồ" của tác giả Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng (24 ).

Nguyễn Ngọc Giao kể tiếp:"Khi sang Pháp, ông đã thuyết trình về Triết học của Stalin tại Trường đại học Denis Diderot (Paris VII, Jussieu). Ông trình bày xong thì tôi ra về, không ở lại nghe phần hỏi đáp (tôi cũng không nhớ là có hay không). Vì hai lẽ: thứ nhất, tôi không tiện gặp ông (vì sao, dưới đây sẽ nói); thứ nhì, nghe ông nói bữa ấy, tôi buồn quá. Dường như tôi không phải là người duy nhất cảm thấy buồn. Anh Lê Thành Khôi cũng ra về trước khi bài thuyết trình chấm dứt, nghe nói nước mắt lưng tròng mà ra về (24).

Người ta thất vọng về Trần Đức Thảo. Lúc này phần đông trí thức thiên tả ở Paris chỉ muốn tìm lại ở Trần Đức Thảo một chiến sĩ cộng sản nhiệt tình hoan hô Marx, Lenin, Stalin như thuở nào để nâng cao cái sụp đổ của chủ nghĩa Marx trong lòng ho sau vụ Khrushchev làm một cú trời giáng giật sập thần tượng Stalin và phê phán chủ nghĩa Marx của họ. Nhưng họ không ngờ ông Thảo đã không nâng thần tượng lên thì chớ mà còn vác búa nện thêm vài cú khiến cho họ cũng như Mao Trạch Đông, Tố Hữu, J.Paul Sartre  không thể nào chấp nhận việc lăng nhục thần tượng Stalin của họ. Họ lẳng lặng bỏ ra về với những giòng nước mắt khóc than:

Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi!
Hỡi ơi, Ông mất! đất trời có không? 

Tác phẩm làm ông lừng danh sau khi sang Pháp đó là quyển sách của Tri Vũ ghi lại lời đàm thoại của ông và Trần Đức Thảo, nhan đề là Trần Ðức Thảo, Những Lời Trăng Trối, do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ xuất bản năm 2014 bằng Việt ngữ, dày 472 trang. Sách có 16 chương, trong đó chương 12 Giải Mã lãnh tụ ( dài 70 trang, từ trang 258 đến 328) là quan trọng nhất.

Chương này có những điểm chính như sau:

1- Hồ Chí Minh có cuồng vọng làm lãnh tụ
 “Cụ Hồ là một nhân vật vô cùng phức tạp, vô cùng thông minh, rất mưu trí, một con người sắt đá đến mức vô cảm, vô tình, sẵn sàng chụp bắt mọi cơ hội để thành đạt. Một ý chí thành đạt không gì lay chuyển. Đấy là một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời, một con người không có tình bạn, không có tình yêu gia đình, tình yêu con cái, một bộ óc nung đúc một cuồng vọng, với một ưu tư duy nhất là phải leo lên đến tột đỉnh quyền lực đê đạt tới mục tiêu của mình…

 Vì thế ông Cụ không chấp nhận một ai trong đám chung quanh là ngang mình. Vì thế mà không cần trợ lý, cố vấn, vì thế không lắng nghe một ai. Bởi lãnh tụ chỉ chăm chú tìm chiến thắng vinh quang, của giấc mơ thế giới đại đồng, chứ không cảm nhận được nỗi đau đầy máu và nước mắt của dân trong thực tại. Một con người chỉ nghĩ và sống với khát vọng chiến thắng, chứ không muốn sống bình thường như mọi người. ...

“Ông cụ” là một con người cực kỳ vị kỷ, mang mặc cảm tự tôn tuyệt đối… “Ông cụ” còn có tính đa nghi như Tào Tháo ấy…Anh phải biết là cho tới nay, những ai đã từng coi thường “Người”, từng tỏ ra ngang hàng với “Người”, thì sau đều đã vĩnh viễn bị lọai ra khỏi tầm nhìn của “Người”. Không ít người đã mất mạng, mất cả xác vì dám có ứng xử tay ngang như thế đấy… Người ta ưa kể cho nhau nghe rằng : Tạ Thu Thâu đã chết mất xác vì câu nói : “Ngòai Bắc có Cụ, trong Nam có… tôi” …!

 Chúng ta công nhận ông Hồ là một ác quỷ.Ông có hàng trăm tên khác nhau, hàng chục lý lịch khác nhau, và hàng trăm mặt nạ khác nhau. Chưa ai dám tự mình quảng cáo tự mình khoe khoang trắng trợn như ông.

Cha ông nguyên thủy đặt tên hai anh em ông là Sinh Khiêm, Sinh Cung là mong hai con làm người khiêm tốn, lễ phép nhưng trái lại con ông trở thành kẻ bất nhân khoe khoang, dối trá, láo xược. Sau khi cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng (1905), đổi tên hai con là Tất Đạt, Tất Thành (đáng lý Thành rồi mới đến Đạt chứ !). Đấy là tâm lý thông thường cha mẹ đặt tên cho con là mong con thành công trên đời.

Nhưng câu Ba  là một con tu hú, không xây tổ, không nuôi con chỉ chuyên nghề chiếm đoạt. Cậu là là một tên trộm cắp cho nên cậu tiếm đoạt danh hiệu và tác phẩm của nhóm Nguyễn Ái Quốc gồm  các bậc tiền bối như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền.. . Cậu Ba  cũng tiếm tên Hồ Chí Minh và Việt Nam Đồng Minh hội của Hồ Học Lãm.  Cậu cũng chiếm đoạt ba đảng Cộng sản,  vá đảng Tân Việt , Tâm Tâm Xã làm của riêng cậu. Những cái tên đẹp đó là của người khác mà  cậu chôm chỉa chứ không phải do cậu tự đặt ra. Còn những tên tầm thường khác như Trần Dân Tiên.T.Lan, CB, AP, AG, CK .. thì do câu đặt ra. Dòng đời trôi chảy, cậu Ba Nguyễn Tất Thành hóa ra Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh, rồi Hồ Tập Chương hay ai đó thế vai nữa,  tất cả đều là  quỷ Satan, là bọn đại gian, đại ác, những nô lệ của Marx, Lenin, Stalin và Mao,  có trình độ cao cường của con Cáo nghìn năm tu luyện có phép thuật thần thông quảng đại,  lúc biến thành mỹ nhân, lúc hóa ra cây cỏ, lúc là trâu ngựa, lúc thăng thiên, lúc độn thổ  chuyên thói uống máu ăn thịt loài người không gớm!

 2-Ông Hồ là nô lệ của Mao Trạch Đông
Vào cuối thập niên 1920, khi bị Comintern gán cho tội theo chủ trương “quốc gia chủ nghĩa hẹp hòi” và bị gạt ra rìa, thì “ông cụ” tìm cách “ôm chân Mao Trạch Đông” bằng cách tuyên thệ làm đảng viên đảng cộng sản Trung quốc và gia nhập hàng ngũ Bát Lộ Quân thuộc Giải Phóng Quân Trung Quốc. Nhờ thế, mà sau ít lâu, “ông cụ” đã trở thành một lãnh tụ vượt lên trên tất cả các cán bộ nòng cốt được đào tạo chính quy bài bản ở Liên Xô như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ v.v…

 Mà cũng vì thế cho nên “ông cụ” mới du nhập vào nước ta bao nhiêu tai họa phát sinh từ chủ trương sắt máu bạo ngược của cộng sản Trung quốc điển hình như các chiến dịch Chỉnh Huấn, Cải Cách Ruộng Đất v.v… Và sau này, với chuyện hôi họp lén lút ở Thành Đô vào năm 1990, các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười… đã ươn hèn quy phục giới lãnh đạo ở Bắc Kinh để mà “bán đất, nhượng biển cho Trung quốc” hầu cứu vớt đảng cộng sản đang lâm nguy của tập đòan họ. Làm như vậy, chính là họ tiếp nối cái chuyện bán nước của Hồ Chí Minh từ xưa vậy. 

3 – Từ Hồ Chí Minh đến Trường Chinh, Lê Duẩn …, tất cả đều rất mực hiếu sát, hiếu chiến. 
 Trong suốt cuốn sách, ông Thảo nhắc lại đến cả mấy chục lần về việc ông tìm cách thuyết phục giới lãnh đạo cộng sản là :”Không nên chọn chiến tranh, mà phải dồn mọi năng lực vào việc xây dựng hòa bình”. Nhưng rõ ràng là tất cả các ông lãnh tụ này đều một mực hiếu chiến, nên đã phát động cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam bằng mọi giá, bất kể đến tổn thất kinh hòang về nhân mạng, hay phải trả cái giá quá đắt là lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc và Liên Xô. 

Và ngày nay, dù cuộc chiến đã chấm dứt từ lâu mà xã hội chúng ta vẫn chưa làm sao có thể phục hồi lại được cái truyền thống nhân bản và nhân ái của cha ông mình. Cũng vì chủ trương nhân bản hòa ái như vậy, mà ông Thảo bị họ liệt vào “lọai có vấn đề” để mà bị theo dõi, kiềm chế và trù dập rất gắt gao – đến nỗi mà ông đã phải giả vờ như người khùng, người hề, người mất trí để tránh khỏi bị ám hại.

4. Sai lầm của Marx và tội ác của Cộng sản
 Trần Đức Thảo đã mất gần nửa thế kỷ theo Marx và Việt Cộng, và viết cả ngàn trang giấy ca tụng thiên đường Cộng sản, cuối cùng, thì ông Thảo đã phải cay đắng kết luận rằng  Marx đã gây ra tai họa cho toàn thế giới, không những trong tư duy mà còn trong thực tế. Bọn cộng sản đồ đệ của Marx đã theo Marx chém giết, bỏ tù, khủng bố bóc lột nhân dân và tàn phá quê hương bằng chiến tranh và bằng nổ lực phá hoại của chúng đã giết hàng trăm triệu người, và để laị những hậu quả tồi tệ trong xã hội và lòng người!

Trần Đưc Thảo là một người giác ngộ dù muộn màng. Ông không phải là một  người thường mà là một đồ đệ  thành tín của Marx. Ông say mê Marx. Ông bí lối trong tư duy nên ông muốn đi tìm triết học Marx trong thực tế. Hơn nửa thế kỷ trong địa ngục đỏ, bị đối xử tệ hại, bị quăng ra khỏi xã hội và nhờ đó mà ông hiểu thế nào là chủ nghĩa Marx và cộng sản. 

 Đây là tiếng kêu Eureka của  Trần Đức Thảo :
Từ lúc tôi khám phá ra là tôi đã sai lầm, đã một thời đứng trong hàng ngũ tội ác, đã mù quáng cả tin vào ý thức đấu tranh giai cấp của Marx, thì sự tỉnh thức ấy làm tôi sung sướng. Bởi như thế là tôi đã tự giải thoát chính tôi, đã tự giải phóng chính tôi. Tôi đã trở thành con người tự do! Tôi đã đạt tới tâm trí thanh thản trong sáng của con người tự do, tư tưởng không còn bị gông cùm của ý thức hệ.Và nay dĩ nhiên là tôi phải phủ nhận tất cả những gì đã viết lúc đang sùng bái Marx..

Những gì đã viết mà dựa vào Marx thì vẫn bao hàm một định kiến, một ngộ nhận,một căn bản không tưởng, từ đó có thể dẫn đến những sai lầm khác, có thể phạm vào tội ác. Bởi vì một phần tư tưởng tranh đấu của Marx, lúc nào cũng như cái bóng ma quái, muốn thúc đẩy con người lao vào các hành động quá trớn, quá khích, do hận thù và bạo lực cách mạng, để giải quyết các vấn đề cơ bản của xã hội, của con người.
Thật sự là trong chiều dài lịch sử nhân loại, bạo lực cách mạng xã hội chủ nghĩa đã không hề giải quyết được vấn đề bất công trong xã hỗi loài người.Và cũng chưa hề giải phóng ai![25]


Nỗi khổ tâm là mình cũng đã làm cho nhiều người cùng với mình sa vào sai lầm và bế tắc. Nay mình đã tìm ra được lối thoát nên rất ân hận, phải sám hối, phải chuộc tội bằng hành động. Vào lúc hoàng hôn, thấy một ngày bị lãng phí là đáng tiếc, đáng buồn, huống chi bây giờ là hoàng hôn của cả một cuộc đời đã bị lảng phí. Nỗi ân hận, hối hận đang ngùn ngụt thiêu đốt tâm trí tôi… Bây giờ tôi chỉ thấy tội lỗi của cái thời câm nín của mình, đã biến thành một tên trí thức đồng lõa khốn nạn, đáng nguyền rủa...  

Còn tôi, đã bao phen biết mình phải nói một câu trái với lương tâm, làm một cử chỉ a dua, ca ngợi tội ác, lúc đó tôi đã ý thức ngay là mình phạm tội, tội giả dối, tội a dua, hoan hô cái xấu, cái ác, tội hèn nhát đã phản bội lý tưởng của mình, phản bội chính mình. Đã biết là tội như vậy mà vẫn cứ nói, cứ làm..
Tôi đã chấp nhận ra đi, lúc tuổi già sức yếu, để có cơ hội thét lớn cùng thế giới rằng : Thủ phạm gây ra đại bi kịch này cho nhân loại, chính là Marx.
Tất cả là do đám trí thức hèn như tôi. Buồn lắm! Hèn lắm! Nhục lắm! Đau lòng lắm.(26)

Từ trước cho đến năm 1990, ở tại Việt Nam, Trần Đức Thảo một là còn say mê mùi vị mắm tôm Marxist, hai là ông phải chiều khách hàng để sống theo nghệ thuật của các kỹ nữ muôn đời, cho nên các tác phẩm của ông sặc mùi  cá thịt tanh tưởi  hay máu mủ thối tha hoặc nửa nạc nửa mỡ không ra làm sao cả. Những tác phẩm được viết tại ngoại quốc hay đã kín đào đưa ra ngoại quốc mới là bản lai diện mục của Trần Đức Thảo, trong đó việc ghi âm của Tri Vũ rất có giá trị cho lịch sử và cách mạng Việt Nam hiện tại và tương lai.

KẾT LUẬN

Trần Đức Thảo viết hàng vạn trang giấy, một số vô giá trị, một số còn ẩn giấu chưa công khai nên không biết ra sao, nhưng bản ghi chép của Tri Vũ đã lưu lại thế gian những lời Trần Đức Thảo cảnh tỉnh cho nước Việt nam về tai họa của chủ nghĩa Marx vả tội ác của Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam. Trần  Đức Thảo đã làm xong nhiệm vụ của một trí thức giác ngộ và đã đi xa. Phần còn lại là nhân dân ta phải đồng tâm giải quyết mối tai họa của cộng sản để giải phóng ta và giải phóng dân tộc.

___

CHÚ THICH
(1) . Thạc sĩ: nghĩa là người học rộng. Thạc là lớn như thạc đức.Thạc sĩ- Agrégé : Ở Pháp, có hai loại bằng Thạc sĩ.  Một là bằng của đại học Pháp  cấp cho sinh viên tốt nghiệp đại học sư phạm để dạy trung học. Hai là bằng cấp cho các tiến sĩ chuyên ngành dạy học ở đại học. Xin nêu hai định nghĩa:
a. Agrégé: an academic rank conferred by a French university on one who has passed a rigidly competitive examination and who is therefore entitled to appointment to the highest teaching post in a lycée or in one of the faculties of a university-.Merriam-Webster.
 b.Agregé: Le corps des professeurs agrégés est constitué d'enseignants assurant majoritairement leur service dans les classes secondaires de lycée...De plus (du moins dans les disciplines relevant des lettres et sciences humaines), le fait d'avoir été lauréat de l'agrégation constitue très souvent une condition de facto pour pouvoir accéder, après le doctorat, à un poste d'enseignant-chercheur dans l'enseignement supérieur-

http://fr.wikipedia.org/wiki/Professeur_agr%C3%A9g%C3%A9_de_l'enseignement_du_second_degr%C3%A9
(1b). Trần Đức Thảo, Hồi Ký - http://hnue.edu.vn/Tintuc/Tonghopthongtin/tabid/260/news/1701/HanhtrinhtriethocTranDucThao-HoiKyTriethoccuaTranDucThao.aspx ).
(2). Tri Vũ Phan Ngọc Khuê. Trần Đức Thảo, 280.
(3). http://www.viet-studies.info/TDThao/HoiKy_TDThao.htm.
(4).Tri Vũ, Trần Đức Thảo,160
(5).TrầnĐức Thảo,Tiểu sử tự thuật. http://www.viet-studies.info/TDThao/TranDucThao_TieuSuTuThuat.htm . )
(6).Tri Vũ, Trần Đức Thảo, XII,“Giải mã Lãnh tụ”, 258 đến 328).
(7). Tri Vũ. Trần Đức Thảo , 350-352
( 8 ).Trần Đức Thảo. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong cuộc khủng hoảng của xã hội phong kiến Việt Nam.Tạp Chí Nghiên Cứu Văn Sử Địa. Số 1, 1954, Tr. 35-49 . http://www.viet-studies.info/TDThao/TDThao_LucLuongSanXuat.htm).
(9).Trần Đức Thảo. Tìm hiểu giá trị văn chương cũ. Tạp Chí Nghiên Cứu Văn Sử Địa. Số 3, 1954. Trang 27-39. http://www.viet-studies.info/TDThao/TDThao_TimHieuGiaTriVanChuongCu.htm
(10).Tri Vũ, Trần ĐứcThảo, 142.
(11).Tạp Chí Nghiên Cứu Văn Sử Địa.Số 5, 1955.Trang 31-39. http://www.viet-studies.info/TDThao/TDThao_BaiHichTuongSi.htm )
(12).Xuân Anh (VieTimes - Chuyện người vợ "duy nhất"của... hai học giả lớn Việt Nam .http://www.viet-studies.info/TDThao/NTNhat_TDThao_NKVien.htm )
(13). Phùng Quán – “Chuyện vui về triết gia Trần Đức Thảo”. Ba phút sự thực, Văn nghệ, Sài Gòn: 2007, bản in lần thứ hai)
(14).Thái Vũ. “Những chuyến lữ hành của triết gia Trần Đức Thảo”. talawas. 3 tháng 3 năm2006. http://www.viet-studies.info/TDThao/TranDucThao_ThaiVu.htm
(15). Nguyễn Ngọc Giao.Với Trần Đức Thảo, một chút duyên nợ.. http://www.viet-studies.info/TDThao/TDThao_NNGiao.htm
(16). Trần Đức Thảo. Tiểu sử tự thuật. http://www.viet-studies.info/TDThao/TranDucThao_TieuSuTuThuat.htm .)
(17). Tri Vũ, 236
(18). Cù Huy Chử, Cù Huy Song Hà: Về chuyến đi công tác tại Pháp của giáo sư Trần Đức Thảo ( tháng 3 năm 1991- 24 tháng tư năm 1993). Viet- Studies ngày 18-9-11.
(18b ).NGUYỄN VĂN LỤC * TRẦN ĐỨC THẢO ,   http://www.danchimviet.info/archives/90201/tran-duc-thao-song-va-chet-nhu-the-nao-1/2014/09
(19). Tri Vũ. 38-40
[20]. Tri Vũ. 195
(21).Tưởng Năng Tiến. Chuyện Hà Thị Cầu và Trần Đức Thảo.Tháng 3 22, 2013
http://www.procontra.asia/?p=1944
(22). Phùng Quán. Hành Trình Cuối Cùng của Một Triết Gia
http://www.viet-studies.info/TDThao/TranDucThao_HanhTrinh_PhungQuan.htm
( 23).TS. Cù Huy Chử. Về bản Hồi Ký (Triết học) của Trần Đức Thảo. http://www.viet-studies.info/TDThao/HoiKy_TDThao.htm (24). Nguyễn Ngọc Giao. Với Trần Đức Thảo,một chút duyên nợ. http://www.viet-studies.info/TDThao/TDThao_NNGiao.htm
( 25 ). Tri Vũ ,385
(26).Tri Vũ ,390-391

No comments: