Wednesday, June 25, 2014

CỔ TICH VIỆT NAM

 



Đồng hồ Việt Nam

NỘI DUNG
1/. Đồng hồ trăm tuổi độc nhất của Việt Nam
2./ Những chiếc đồng hồ cổ xưa nhất Việt Nam

1/. Đồng hồ trăm tuổi độc nhất của  Việt Nam

***


Những chiếc đồng hồ chỉ giờ bằng ánh sáng mặt trời đã xuất hiện từ thời kỳ của các nền văn minh cổ đại. Điều lý thú là ở chỗ, chiếc đồng hồ Thái dương ở Bạc Liêu có thiết kế không giống với bất kỳ chiếc "đồng hồ mặt trời" nào khác từng được biết đến trên thế giới.




Trong khuôn viên Trung tâm giáo dục thường xuyên TP Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu có một di tích lịch sử đặc biệt, đó là chiếc đồng hồ kỳ lạ chỉ giờ bằng ánh sáng mặt trời, có tuổi đời trên dưới 100 năm.




Được gọi là đồng hồ Thái dương, chiếc đồng hồ này được dựng phía trước dinh tỉnh trưởng Bạc Liêu thời thuộc Pháp. "Cha đẻ" của đồng hồ là nhà nhà bác vật Lưu Văn Lang (1880 - 1969), một nhà khoa học nổi danh của vùng đất Nam Bộ đầu thế kỷ 20.




Đồng hồ có cấu trúc khá thô sơ, với mặt chính của hướng về phía Đông, cao khoảng 0,7 m, rộng 1m, chất liệu là gạch và xi măng. Đồng hồ gồm phần mặt có tiết diện nghiêng với một khối chữ nhật thẳng đứng nhô ra ở chính giữa.




Mặt đồng hồ khắc 12 con số La Mã, từ 1 đến 12 để chỉ giờ. Khoảng giữa các con số được chia thành 12 khía để chỉ phút.



Nguyên lý hoạt của đồng hồ Thái dương rất đơn giản. Ánh nắng chiếu xuống phần chữ nhật lồi ra sẽ tạo nên một vệt bóng trên mặt đồng hồ. Số giờ được xác định dựa vào vệt này.




Bóng nắng trên đồng hồ Thái dương xoay cùng chiều với kim đồng hồ thông thường nên trong ảnh này, số giờ là 10.




"Kim phút" đang nằm ở khoảng giữa vạch số 8 và số 9 trong 12 vạch chỉ phút của giờ thứ 10. Mỗi vạch chỉ phút tương ứng 5 phút nên số phút ở đây sẽ là 8,5 X 5 = 42,5 phút. Thực tế khi bức ảnh được chụp, đồng hồ của máy ảnh ghi lại thời gian là 10h39 phút. Như vậy sai số của đồng hồ Thái dương trong trường hợp này là khoảng 3 phút.




Đối với một chiếc đồng hồ hết sức thô sơ, độ chính xác như vậy là rất đáng nể.




Hạn chế lớn nhất của đồng hồ Thái dương là do "hoạt động" bằng ánh nắng, nên đồng hồ sẽ "chết" khi trời tối hoặc âm u.



Những chiếc đồng hồ chỉ giờ bằng ánh sáng mặt trời đã xuất hiện từ thời kỳ của các nền văn minh cổ đại. Điều lý thú là ở chỗ, chiếc đồng hồ Thái dương ở Bạc Liêu có thiết kế không giống với bất kỳ chiếc "đồng hồ mặt trời" nào khác từng được biết đến trên thế giới.

Theo KIẾN THỨC

2./ Những chiếc đồng hồ cổ xưa nhất  Việt Nam


***

Khởi thủy, người xưa nghĩ ra những cái hồ đựng nước bằng đồng. Với hồ phía trên được tạo lỗ nhỏ để nước rỉ xuống. Hồ bên dưới có khắc nhiều đường vạch, gọi “giọt đồng hồ”, nói đủ là “giọt nước đồng hồ”, hay “lậu hồ”.

1. Cách nay hàng mấy nghìn năm người xưa đã biết đo tính thời gian bằng đồng hồ. Theo đà tiến hóa, qua nhiều thời đại, trong sinh hoạt đời sống, do những yêu cầu nhất định của từng lĩnh vực chuyên ngành, người ta đã chế tạo ra muôn ngàn dạng kiểu đồng hồ bằng nhiều phương thức, kỹ thuật công nghệ cả về vật liệu cấu trúc và năng lượng khác nhau.

Có thể nói hầu hết đều chính xác, giá trị, trong khi giá thành lại rất hạ, có loại rẻ đến mức ngang bằng hoặc thấp hơn những món đồ chơi thông thường của trẻ con, nên ai cũng có thể mua sắm được một cách dễ dàng.

Thành ra chuyện “người người có đồng hồ, nhà nhà có đồng hồ” đã đành, mà còn hơn thế nữa, những nơi công cộng như nhà lồng chợ, bến xe, bến tàu, những ngã rẽ trên các trục lộ giao thông… đều có đặt những chiếc đồng hồ vừa to vừa đẹp giúp mọi người có thể nhờ vào đó mà biết được giờ khắc, rất tiện ích cho sinh hoạt đời sống nhân dân.

Nay thì vậy, còn xưa? Tất nhiên buổi sơ thời kiểu dáng và cấu trúc đồng hồ rất đơn giản, cồng kềnh.
Với loại “giọt đồng hồ”, cứ nhìn mực nước trong hồ tại một thời điểm, người ta biết được giờ lúc ấy trong ngày. Khi cạn nước ở hồ trên, người ta trút hết nước hồ dưới lên, cứ thế. Đại thể là như vậy. Dần về sau "lậu hồ" được cải tiến, có thêm nhiều vạch nhỏ, gọi khắc, nên nay thường nói tiếng đôi là “giờ khắc”. Tùy từng triều đại mà “khắc” có thay đổi mỗi ngày đêm, khi thì 100, khi thì 96 hoặc 108.



Minh họa mặt đồng hồ toàn chữ trong sách Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn
Theo sách Sơ học ký của Từ Kiên đời Đường, việc làm ra lậu khắc có từ thời Hoàng đế truyền đến đời Hạ, đời Thương…

Cái lậu khắc ấy dùng để xem giờ, có 3 tầng tròn, đường kính đều 1 thước, để trên cái thùng hứng nước vuông, có con rùa vàng, miệng phun nước vào thùng, nước chảy ngang dọc, lại chảy xuống đồ chứa nước để ngang ở dưới (“cái cừ”) có đặt hình nhân gọi là “quan tư thần” đúc bằng vàng, mặc áo đội mũ, hai tay cầm hai cái tên. Ấy là cái lậu khắc của Ân Quỳ chế ra…

Nếu đồng hồ nước “âm thầm” thì đồng hồ cát, gọi “sa lậu” của phương Tây lại biết “lên tiếng” báo giờ! Còn nhớ, giữa năm 1627, khi cuộc chiến tranh Trịnh ­ Nguyễn sắp bùng nổ, Trịnh Tráng (1623 ­ 1657) đem quân vào đánh xứ Nam, tới An Vực (Thanh Hóa), nhân cho nghỉ quân ít ngày, ông truyền đem chiếc đồng hồ cát do giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhôdes) biếu, để xem thực hư thế nào. Lúc cát chảy hết thì đồng hồ tự động gõ chuông báo giờ. Chúa rất ngạc nhiên, thán phục và xem đó là lễ vật đặc biệt.

Ở Đàng Trong, cuối tháng giêng năm 1642, khi trở lại xứ Nam lần thứ 3, Đắc Lộ cố tìm cách lấy lòng chúa Nguyễn, nên cũng đã tặng mấy chiếc đồng hồ mặt vẽ số La Mã, và chữ Hán. Chúa Phúc Lan (1635 ­ 1648) lấy làm hài lòng.





Mặt đồng hồ vẽ trong sách Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn vừa có chữ vừa có số.

Sách Việt sử giai thoại của Đào Trinh Nhất ghi, khi chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần, 1648 - ­ 1687) nhận chiếc đồng hồ báo thức do thừa sai Bénigne Vachet tặng, chúa rất quý. Nhưng chỉ mấy tháng sau, người thợ bạc trong vương phủ ngồi táy máy, tháo tung đồng hồ ra xem, làm gãy mất một răng cưa bánh xe thành thử đồng hồ không chạy được nữa. Chúa Hiền sai người bảo với Vachet rằng chiếc đồng hồ ấy đã hư mất rồi. Vachet đem chiếc đồng hồ ra nhà trọ của một người theo đạo để cùng mở ra xem. Chủ nhà trọ là anh thợ bạc phát hiện 1 bánh xe đồng hồ bị gãy răng cưa, bèn nói:

Tưởng là hỏng thế nào, chứ có thế này thôi thì con chữa được ngay.
Anh chữa thế nào được? ­ Ông Vachet hỏi.

Thưa cha, chỉ cần làm một bánh xe răng cưa mới, giống hệt cái đã gãy thì được chứ có khó gì! ­ Anh thợ bạc trả lời.

Hừ! Chuyện máy móc tưởng như trò chơi? Ở bên Tây người ta có máy đúc, máy cưa, máy bào, máy tiện… bao nhiêu công phu người ta mới làm nên được cái bánh xe thế này. Anh tưởng dễ? Đừng hòng!

Cứ để con làm thử cho cha xem ­ Anh thợ bạc nói quả quyết.
Về việc này, thừa sai Vachet viết: “Tôi mất công giảng giải vì những lẽ gì hắn không thể nào làm được, nhưng hắn chẳng nghe. Thật sự, tôi không tin rằng một người thuở nay chưa nghe nói máy móc đồng hồ bao giờ mà lại làm được chiếc bánh xe răng cưa! Bảo rằng làm thành công thì chưa thật là đúng bởi vì, chẳng những hắn làm được chiếc bánh xe ấy thôi, lại chế tạo một đồng hồ nguyên vẹn nữa, mới kỳ!

Độ 23 hay 24 hôm sau, hắn đặt vào tay tôi hai chiếc đồng hồ giống nhau làm sao, đến nỗi mắt nhìn không thể phân biệt cái cũ với cái mới. Giá như không phải chính mắt trông thấy, thì tôi tưởng chừng như mình nằm mộng, không khi nào tin được. Hai đồng hồ lại chạy đúng như nhau.

Đó là chiếc đồng hồ “made in Việt Nam” đầu tiên ­ bắt chước đồng hồ Tây dương. Hình dạng và cấu trúc, lược ghi theo sách đã dẫn: Bề cao 1 thước 5 tấc, rộng 1 thước, trên có hình ông tiên cưỡi voi, hai bên cạnh là 2 con rồng chầu, 4 chân đồng hồ là 4 chân con voi, làm toàn bằng đồng và chạm trỗ rất khéo.

Khoảng giữa đằng trước khoét tròn, mặt đồng hồ cũng tròn và tráng men. Vành ngoài khắc chữ Tây, từ 5 phút, 10 phút, 15 phút, cho đến 60 phút. Vành trong khắc số hiệu 12 giờ: Tý Ngọ cùng đứng một chỗ ở trên; Quý Đinh cùng ở một chỗ khắc số 1, Sửu Mùi số 2…, Bính Nhâm số 11, rồi lại trở về Tý Ngọ. Kim đồng hồ thì có cây dài chỉ phút, cây ngắn chỉ giờ. Hễ khi kim ngắn chỉ số 1 thì tự động gõ lên 1 tiếng… chỉ số 12 thì gõ 12 tiếng.



Ngoài mặt đồng hồ có tấm kính thủy tinh che đậy, bên cạnh có khuy để tiện mở đóng. Trong ruột đồng hồ treo tấm đồng tròn, trong ngoài 3 từng, cùng đóng làm một, có 2 bánh xe lớn, 10 bánh xe nhỏ, cùng mắc vào trục nhỏ đâm ngang và đều có răng cưa. Gần cạnh cái trục kim giờ, kim phút, có dùi một lỗ để cắm chìa khóa vào lên dây thiều cho đồng hồ được chạy đều luôn. Sự tài khéo thật khó kể hết!



Trên mặt đồng hồ ta chế tạo chia làm 24 giờ theo cách riêng. Từ Đinh đế Tý 12 giờ rồi từ Quý ngược lên đến Ngọ cũng 12 giờ. Giờ nọ cách giờ kia có 4 vạch nhỏ tức là 4 khắc

Nhận thấy đồng hồ mang đến nhiều ích dụng, chúa Nguyễn nghĩ đến việc sáng tạo ra thêm nhưng hình thức thì do ông phác hoạ, có dáng như “Phật đình” (cái khánh thờ tượng Phật hình vuông, trên nóc có mái che hình lá sen, dưới có giá đỡ) cao độ 1 thước, mặt trước là một phiến đồng hình tròn, trên ấy có phân khắc 12 giờ. Giờ Ngọ ở trên, Tý ở dưới, Mão ở chính Đông, Dậu ở chính Tây.



Trong khoảng thời gian 12 giờ được chia làm phương vị 8 Can và 4 Duy. Bắt đầu từ Đinh là số 1… đến Tý là số 12. Rồi từ Quý ngược lên đến Ngọ cũng 12 giờ; giờ nọ cách giờ kia có 4 vạch nhỏ (khắc). Ở tâm có 2 kim bằng vàng, kim lớn ngắn chỉ giờ, kim nhỏ dài chỉ khắc (có 96 khắc tất cả). Bên trong là bộ máy gồm nhiều bánh xe có răng cưa, quay nhanh chậm khớp nhau có chừng mực. Khi kim chạy đến đúng giờ Đinh thì chuông tự động đánh một tiếng, đúng giờ Mùi đánh 2 tiếng…, gọi “tự minh chung”.



Việc chế tạo đồng hồ này, trước tiên chúa giao cho một viên làm việc trong nội viện tòa Thiên văn là Từ Tâm Bá, người Tây dương, ngụ ở phường Phú Xuân (trong kinh thành Phú Xuân), đã giúp việc chúa 30 năm, nhưng ông này cứ để dây dưa mãi đến mấy năm mà làm không xong. Đến tháng 5 năm Bính Thân (1776) chúa Nguyễn nghe nói có người khách (Tàu) quê ở Mã Cao tên là Tài Phó “có hiểu biết nghề làm đồng hồ”. Đến khi cho người kêu đến, hỏi thì y lại nói: “Nay tuổi đã già nua, nên không thể làm được nữa”.

Rồi sau đó, do nghe có người khen ngợi Nguyễn Văn Gịu con trai viên Thủ hợp là Chiêu Tài, nguyên làm thợ kính, thợ gương cho nhà Nguyễn trước kia rất giỏi về nghề làm đồng hồ. Chúa Nguyễn khiến người gọi đến và bảo hãy y theo cách thức đã phác thảo mà làm, thì ông làm chỉ trong 10 ngày là xong.

Đồng hồ của Văn Gịu làm không đúng như mẫu thức mà còn có thêm cái “cửa sổ”, hễ đến ngày nào thì cửa sổ ấy có hiện rõ chữ ghi đúng ngày ấy ­ tựa như đồng hồ tự động có ngày, thứ hiện ta đang dùng vậy!

Vẫn theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Nguyễn Văn Gịu người quê ở xã Đại Hào, huyện Đăng Xương. Lúc thiếu thời có sang nước Hòa Lan lưu học 2 năm thì làm được các loại đồng hồ “tự minh chung”. Ông còn làm “thiên lý kính” (ống dòm) “nhìn xa nghìn dặm”, rất tinh xảo. Đến năm ông 74 tuổi mà nhãn lực vẫn y như hồi còn trẻ tuổi. Em là Nguyễn Văn Thi, con là Nguyễn Văn Duy, cùng con rể là Lương Văn Dũng, cả nhà đều biết làm đồng hồ!

Sách sử cho biết, Văn Gịu sáng chế được nhiều kiểu đồng hồ với nhiều cỡ to nhỏ khác nhau, nhưng không nói rõ là ông đã “sản xuất” được bao nhiêu đồng hồ các loại. Tuy nhiên với cách ghi biên niên như: “Tháng 5 năm Tân Mão (1711) cho đặt đồng hồ ở châu Bố Chính để định chiều dài đường đi”; và “Tháng giêng năm Quý Sửu (1733) lại đặt đồng hồ ở các đinh (12 đinh) và các đồn canh ven bể”, ta biết, tuy những chiếc đồng hồ ấy được chế tạo tỉ mẫn bằng phương pháp thủ công, nhưng chỉ với những chỗ mà chúa đã cho “đặt” ấy ta hình dung ít lắm cũng có đến mấy mươi chiếc!


2. Trở lên là chuyện kể về những chiếc đồng hồ máy, chạy bằng dây thiều. Dưới đây là một kiểu đồng hồ “made in Việt Nam” nữa, khá độc đáo, vì nó “chạy” bằng… ánh sáng mặt trời, gọi “nhật quy thời” (đồng hồ mặt trời), dân gian quen gọi “đồng hồ đá”, kỳ thật được xây bằng xi măng lót gạch tàu, do kỹ sư Lưu Văn Lang (người Sa Đéc) sáng tạo năm 1916, đặt cố định tại thị xã Bạc Liêu, đến nay vẫn (và mãi mãi) phát huy tác dụng ­ tất nhiên trong điều kiện được bảo quản tốt và nhất là phải có ánh sáng mặt trời trực tiếp rọi vào.


Nó được thiết kế cực kỳ đơn giản: nền là một mặt phẳng nằm ngang hình chữ nhật có kích thước phủ bì là 1,5m x 1,2m, cao 0,2m. Cạnh dài phía trong là một bức tường cao độ 0,7m nhưng không thẳng góc với nền mà nghiêng ra sau tạo thành góc lồi 1300, được chắn ở giữa bởi một “con lươn” hình trụ dẹp, cao 0,7m dày 0,2m, thẳng đứng nằm trên trục Bắc Nam, chia nền và vách làm hai phần bằng nhau.


Một nửa phía Đông có phân vạch và vẽ số La Mã cho 6 giờ buổi sáng; một nửa phía Tây cũng phân vạch cho 6 giờ buổi chiều, tức từ 12 giờ 1 phút đến 18 giờ. Từ khoảng của các vạch dài ấy có kẽ 2 vạch ngắn, giữa các vạch ngắn ấy lại có những vạch ngắn hơn, tất cả được phân rất đều nhau. Sáng, khi ánh mặt trời rọi vào, nhìn bóng của “con lươn” in trên mặt đồng hồ ta biết được giờ cụ thể tại thời điểm ấy.

Rõ ràng là quá đơn giản nhưng phải đâu ai cũng bắt chước được! Bằng chứng là từ ấy đến nay trên cả nước không hề có một chiếc “đồng hồ mặt trời” thứ hai nào ­ dù vẫn biết đó chỉ là cách vận dụng phép trồng nêu để đo bóng, và sau đó là phép thụ thời để tính giờ. Sách Vân đài loại ngữ của Lê Qúi Đôn ghi lại chuyện cách nay đã trên 1.500 năm:
Năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Nguyên Gia thứ 19 (442 sau CN), nhà Tống sai sứ sang Giao Châu đo bóng mặt trời thì thấy: ngày Hạ chí bóng cây nêu về phía Nam dài 3 tấc 3 phân.

Khoảng niên hiệu Nguyên Gia (424 ­ 454) nhà Tống đi đánh nước Lâm Ấp (Chiêm Thành); ngày tháng 5 dựng cây nêu thì thấy mặt trời ở về phía Bắc cây nêu; ở Giao Châu thì thấy mặt trời ở về phía Nam cây nêu 3 tấc.
Năm Khải Nguyên thứ 12 (724 đời Đường Huyền Tông), đo bóng mặt trời ở Giao Châu (tức là Thăng Long ­ Hà Nội ngày nay) vào ngày Hạ chí, thì thấy bóng ở phía Nam cây nêu 3 tấc 3 phân ­ so với sự đo năm Nguyên Gia nói trên giống nhau.



Lại lấy bản đồ xét và so sánh, tại Việt Nam lúc mặt trời ở trên đỉnh trời về phía Bắc 2 độ 4 phân. Chỗ cực cao 20 độ 4 phân; vào tiết Đông chí bóng dài 7 thước 9 tấc 4 phân; nhất định như thế. Tiết Xuân phân và Thu phân là 2 thước 9 tấc 3 phân; tiết Hạ chí bóng cây nêu về phía Nam 3 tấc 4 phân.
Qua đó người xưa kết luận bóng mặt trời ở mỗi vùng có chênh lệch ít nhiều. Đó là vị trí cụ thể của từng nơi. Ta biết, trái đất hình tròn, và bề mặt không phải phẳng lỳ, nếu là đồng bằng nó cũng cong mô, ánh sáng mặt trời rọi vào tất nhiên không thẳng góc mà phải lớn hơn 900, thành thử khi thiết kế đồng hồ mặt trời, nhà khoa học không thể không quan tâm đến yếu tố ấy, tức phải tính toán, tạo một mặt nghiêng theo vùng vĩ tuyến và kinh tuyến tại địa điểm xây dựng.


Tác giả Nguyễn Minh Mẫn trong một bài viết khảo về vấn đề này (Tc. Xưa và Nay số 136, tháng 3/2003) cũng nêu: Tỉnh Bạc Liêu ở vị trí 9 độ 32 đến 9 độ 38 vĩ độ Bắc, và 105 độ 51 phút 54 giây kinh độ Đông, bác vật Lang dùng công thức lượng giác để tính ra độ lồi của mặt nghiêng đó là 130 độ.

Chiếc đồng hồ đá “made in Việt Nam” ấy đến nay không chỉ vẫn còn nguyên vẹn, mà còn cho thấy là rất bền (chỉ tôn tạo cho đẹp thêm hơn chứ không việc gì phải chỉnh sửa). Chế ra nó, ông bác vật Lang đã thể hiện như là một “tài năng sáng tạo độc đáo”. Chiêm ngưỡng, ta có cảm giác thú vị “như được trở về một thời kỳ dĩ vãng xa xưa”.
Vậy thì, người Việt Nam đã biết sáng tạo đồng hồ tự minh chung dạng cơ tự động cách nay những 230 năm, được công nhận là tinh xảo, khéo léo, chính xác ­ “chuông gõ đúng giờ, không bao giờ sai cả”. Điều chẳng may là lúc bấy giờ đất nước bắt đầu lâm vào cảnh tương tàn “nồi da xáo thịt” giữa hai họ Trịnh ­ Nguyễn! Đàng Trong và Đàng Ngoài đều tập trung toàn lực để đánh giết lẫn nhau cả mấy trăm năm, khiến nhân dân phải chịu cảnh điêu linh đồ thán, kinh tế xã hội không phát triển. Chính quyền tất nhiên không rãnh tay thúc đẩy sản xuất, thành ra công nghệ đồng hồ phải bị đình đốn. Thật đáng tiếc!

Cho đến những năm đầu thế kỷ XX, nhờ hấp thụ được những tính lý của nền khoa học kỹ thuật tiên tiến phương Tây, cộng cùng trí thông minh vốn có, kỹ sư Lưu Văn Lang đã vận dụng phép thụ thời đã có tự ngàn xưa của phương Đông, sáng tạo được chiếc đồng hồ mặt trời “không tiền khoáng hậu”, đến nay đã ngót trăm năm mà vẫn (và mãi mãi) phát huy tác dụng ­ một công trình khoa học liên thế kỷ!
Đặc biệt, về tên gọi dụng cụ đo tính thời gian, ta biết, nó được “định danh” từ mấy nghìn năm trước, và trong suốt tiến trình lịch sử, cả hình dáng, cấu trúc, dù đã qua biết bao lần thay đổi đến mức “thiên biến vạn hóa”, vậy mà đến nay, tuy không còn chút dấu vết nào của đồng, của hồ, như nguyên thủy, dân gian vẫn gọi đúng y cái tên khai sinh của nó: đồng hồ! Rõ là Việt Nam ta đã tỏ ra rất có ý thức trong việc bảo tồn tiếng nói: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc”.

Theo Nguyễn Hữu Hiệp (Dân Việt)



Những cây cầu ngói đẹp ở Việt Nam


***

Được xây dựng đã lâu nhưng các cây cầu độc đáo ở Huế, Hội An, Nam Định... vẫn giữ được nét đẹp kiến trúc thuở ban đầu.






Chùa Cầu được chọn là biểu tượng của thành phố Hội An, xuất hiện trên tờ 20.000 đồng. Đây là công trình do các thương gia Nhật Bản đến buôn bán tại Việt Nam xây dựng vào thế kỷ 17.

Cầu dài khoảng 18 m, vắt qua lạch nước chảy ra sông Thu Bồn.





Hai đầu cầu có tượng thú bằng gỗ đứng chầu, một đầu là tượng chó, một đầu là tượng khỉ. Ở gian chính giữa có tượng Bắc Đế Trấn Vũ - thần chuyên trấn trị lũ lụt.






Ở làng Bình Vọng (xã Văn Bình, Thường Tín, Hà Nội) có cây cầu 5 gian lợp ngói bắc qua ao đình.





Trên cầu, hai bên là dãy bục gỗ để cho khách bộ hành nghỉ chân.






Cầu ngói ở xã Hải Anh (Hải Hậu, Nam Định) được xây dựng vào thế kỷ 16.





Cầu có 9 gian uốn cong được dựng trên 18 cột trụ đá vững chắc, có phần hành lang hai bên để cho khách bộ hành nghỉ chân.





Ở khu vực chùa Thầy (Hà Nội) có hai cây cầu ngói do Phùng Khắc Khoan xây vào năm 1602.





Cầu Nhật Tiên dẫn vào đảo giữa hồ, trên có đền Tam Phủ.





Cầu Nguyệt Tiên nối với con đường lên núi.





Cùng với nhà thờ Đá, cầu ngói Phát Diệm cũng là công trình kiến trúc dân gian đặc sắc ở vùng Kim Sơn (Ninh Bình).






Cầu dài 36 m, rộng 3 m với 3 nhịp, mỗi nhịp có 4 gian.






Cầu ngói Thanh Toàn (thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế) cách trung tâm thành phố Huế khoảng 7-8 km. Thân cầu được làm bằng gỗ, phía trên lợp mái ngói ống tráng men.





Cầu dài khoảng 17 m, rộng 4 m và được chia làm 7 gian với gian giữa là nơi thờ bà Trần Thị Đạo, người góp tiền xây cầu cho dân làng tiện đường qua lại vào thế kỷ 18.


Lê Bích - KTS Nguyễn Phú Đức







Nhà thờ 80 năm tuổi ở Nha Trang


Nằm trên mỏm núi Bông, Nhà thờ Chánh tòa Nha Trang sừng sững giữa ngã sáu đông đúc với phong cách kiến trúc cổ kính của Pháp.






Nằm trên mỏm núi đá cao hơn mặt đường 12 m, Nhà thờ Chánh tòa Nha Trang (Khánh Hòa) nổi bật giữa khu phố đông đúc của thành phố. Bởi vậy, người dân còn gọi đây là nhà thờ Núi. Nhìn từ xa, bạn đã có thể thấy được cây thánh giá trên đỉnh tháp chuông cao 38 m.






Công trình được cha Louis Vallet khởi công xây dựng năm 1928 và hoàn thành vào năm 1933. Mộ của cha nằm dưới chân núi Bông. Để tạo được mặt bằng trên đỉnh núi, khi xây dựng người ta phải dùng khoảng 500 quả mìn.






Nhà thờ được xây dựng bằng bê tông đúc đá sạn và gạch táp-lô, một loại gạch được đúc bằng xi măng và đá vụn. Nhìn từ xa, nhiều người lầm tưởng công trình làm bằng đá nên nhà thờ cũng hay được gọi là Nhà thờ Đá.






Phần bên cạnh với những mái vòm công phu, hành lang rộng tạo nên sự uy nghi, bề thế.





Phía trong nhà thờ có không gian rộng, thoáng đạt, rất thanh tịnh, trang nghiêm.





Tranh kính mang hình ảnh thờ phụng tạo nên vẻ đẹp lung linh, huyền ảo cho không gian cổ kính, trầm mặc.















Hệ vòm và cột lớn gợi nhớ tới các công trình ở châu Âu cũng như nhiều nhà thờ được xây thời Pháp ở Nam Định, Ninh Bình.





Gác đàn với hình ảnh Đức Chúa.





Đã 80 năm tuổi, trải qua bao mưa nắng nhưng nhà thờ vẫn giữ nguyên vẹn những giá trị kiến trúc từ xa xưa.





Vách đá dọc theo con đường chính lên nhà thờ được làm thành nơi thờ của những người theo Đạo.

 
 Chợ Bến Thành 100 tuổi
27/04/2014 07:36 (GMT + 7)

TT - Lễ kỷ niệm chợ Bến Thành tròn 100 tuổi vừa diễn ra đêm 26-4 do UBND quận 1, TP.HCM tổ chức như một dấu mốc để người dân Sài Gòn và du khách ôn lại hành trình trăm năm của ngôi chợ đã trở thành biểu tượng của Sài Gòn -


Công trường Diễn Hồng trước cổng chính chợ Bến Thành trước năm 1975, nay là
công trường Quách Thị Trang Ảnh sưu tầm của Phạm Công Luận

 
Chợ Bến Thành 1921 Chợ Bến Thành đã có trước khi người Pháp chiếm Gia Định nằm bên bờ sông Bến Nghé 

Chợ Bến Thành năm 1860
Chợ Bến Thành thập niên 1920 có thêm bùng binh Cuniac (là tên luật sư có công nhất trong việc phát triển đô thị Sài Gòn)  Nguồn: Công an TP.HCM - Ảnh: Nguyễn Đình


 
Công trường Diễn Hồng trước cổng chính chợ Bến Thành trước năm 1975, nay là công trường Quách Thị Trang Ảnh sưu tầm của Phạm Công Luận


Chợ Bến Thành 1921 Đẳng cấp sang cả
Thông tin “chợ Bến Thành kỷ niệm 100 năm” đem lại cho ông Nguyễn Anh Kiệt (Q.1, TP.HCM) một chút trầm mặc. Với ông, hay đúng hơn là với dòng họ ông, ngôi chợ này có một phần “dính dáng” không nhỏ. Năm nay tròn 60 tuổi, ông Kiệt vẫn phải dẫn lời những bậc cha ông trong dòng họ để nhắc lại khu vực chợ Bến Thành ngày nay lúc trước là ruộng rau muống, mà ông cố ngoại nhà ông có phần lớn trong đó. “Cho nên khi thành lập chợ, gia đình ông ngoại tôi được ưu tiên có rất nhiều sạp trong chợ Bến Thành. Mấy chị em bà ngoại tôi buôn bán ở đây từ năm 1914. Bán cho đến năm 1944 khi Nhật bỏ bom chợ Bến Thành thì mọi người sợ quá, nhà ngoại tôi đi tản cư hai hướng, về Phú Nhuận và về tận Bến Tre”.

Trong ký ức của ông Kiệt và theo lời kể của những người trong họ, chợ Bến Thành khi xưa tập trung bán đồ cao cấp, là nguồn thực phẩm cung cấp cho các nhà hàng, khách sạn của người Ấn, người Pháp. “Bán được lắm, bà ngoại tôi một năm chỉ bán sáu tháng nắng, nghỉ sáu tháng mưa, vậy mà bán từ năm 1914 đến năm 1923 đã đủ làm giàu, tích lũy được nhiều vàng. Thời đó, tính riêng thực phẩm cung cấp cho các nhà hàng cà ri Ấn Độ, mỗi ngày bà ngoại tôi bán hàng thiên (nghìn trái) dừa khô, bí đỏ chất trong nhà vài tấn là chuyện thường” - ông Kiệt kể. Và cũng theo ông, từ thời bà ngoại của ông còn bán ở chợ Bến Thành thì khách của nơi này đã là khách hạng sang: “Dân mình lúc đó còn nghèo, mua cây trái rau củ thường mua hàng dạt, chứ người bình dân mấy ai vào chợ Bến Thành mua thực phẩm hằng ngày”.



Các phù điêu bằng gốm gắn trên bốn cổng Đông-Tây -Nam -Bắc biểu tượng cho các mặt hàng  bán ở chợ do nhà giáo, nhà điêu khắc Lê Văn Mậu (người đeo kính bên trái) thiết kế năm ???? Tư liệu của Nguyễn Minh Anh - Ảnh: Nguyễn Đình
Chợ Bến Thành ngày nay  Nguồn: Công an TP.HCM - Ảnh: Nguyễn Đình


Chợ Bến Thành sau khi khánh thành 4 năm (1918) 

 

Tranh bút sắt của Phạm Công Tâm vẽ theo ảnh chợ Bến Thành thời kỳ trước năm 1952 Chứng nhân và bước ngoặt
Tại buổi lễ kỷ niệm 100 năm thành lập chợ Bến Thành, ban quản lý chợ cho biết sẽ thành lập website mang tên chợ Bến Thành và lắp WiFi cho toàn khu chợ. Đây xem như là nét mới nhất của ngôi chợ này trong thời hội nhập, khi hoạt động giao thương được khai thác cả kênh trực tuyến. Thật ra, giao thương quốc tế vốn là lợi thế của Bến Thành từ những ngày đầu, là nơi nổi bật trong cả nước với khả năng thu hút một lượng lớn khách “nhiều màu da, đa quốc tịch” đến mỗi ngày.

Và những công dân cố cựu của Sài Gòn vẫn nhớ ngôi chợ này từng là chứng nhân cho nhiều sự kiện lịch sử. Từ những cuộc xuống đường với tinh thần nữ sinh Quách Thị Trang đến nay đã là biểu tượng gắn liền với hình ảnh ngôi chợ, đến những tháng ngày khi đất nước thống nhất, Bến Thành là nơi tập trung hàng hóa cho khách mua đem về Bắc làm kỷ niệm. Một nhà sưu tập tại Sài Gòn nhớ lại những ngày tháng 5, tháng 6-1975, rất nhiều bộ đội trước khi về quê đã ghé chợ Bến Thành mua cau khô, vải quần tây, võng, và một chiếc đồng hồ để làm quà miền Nam trong không khí tưng bừng mừng đất nước thống nhất. Cũng theo ông Nguyễn Anh Kiệt, chính sự ra đời của chợ Bến Thành đã đặt dấu chấm hết cho tình trạng nông thôn ở khu vực này, bởi trước đó nơi đây vẫn còn ruộng, người dân mỗi khi trời mưa còn xách cần đi câu cá. Hồi đó không mấy người dùng cụm từ “đô thị hóa”, nhưng nhà nghiên cứu Lý Lược Tam cho rằng ngôi chợ Bến Thành ghi dấu quan trọng cho bước ngoặt đô thị hóa để nơi này trở thành trung tâm của trung tâm TP.HCM hiện đại hôm nay.

LAM ĐIỀN
* KTS NGUYỄN MINH TIẾN:
Từ năm 1912-1914, thị trưởng Eugène Cuniac cho lấp ao Boresse và xây lên chợ Mới Sài Gòn. Hai bên hông chợ cho đến năm 1940 còn là bến xe miền Đông và miền Tây. Từ năm 1985 có sự sửa chữa lớn, tuy nhiên cấu trúc cũ vẫn giữ nguyên. Nó được xem như một biểu tượng về mặt văn hóa và kinh tế thương mại không chỉ của Sài Gòn mà của cả miền Nam qua sự kết hợp với các tuyến kênh rạch Tàu Hủ, Lò Gốm kề bên với vựa tôm cá, lúa gạo miền Tây ngày xưa. Ưu điểm của chợ là một kiến trúc mở rất phù hợp với khí hậu nhiệt đới, là một bài học tiêu biểu về mặt kết cấu bêtông cốt thép nhịp lớn.

Dù hiện tại đã bị “đóng” bớt bởi các kiôt mặt tiền, nhưng cho đến nay chợ Bến Thành không chỉ được xem là một di sản kiến trúc không thể thay thế về mặt vật chất với các hoạt động buôn bán sầm uất mà còn có giá trị văn hóa, tinh thần rất lớn. Khách du lịch có thể không thích thú với các cao ốc thương mại có máy điều hòa không khí nhưng sẽ thích đến đây mua vài món đồ kỷ niệm, khám phá tìm hiểu một đời sống rất thực của người dân Sài Gòn. Có thể nói, giá trị về mặt văn hóa, nhân văn cũng như ấn tượng của ngôi chợ lưu lại trong mỗi người con xa xứ hay khách du lịch là không thể thay thế và hơn lúc nào hết nó rất cần được gìn giữ, bảo tồn.

* PHẠM HỮU MINH (hướng dẫn viên Công ty du lịch Thế Hệ Trẻ):
Có lẽ không chỉ tôi mà bất cứ người làm du lịch nào cũng muốn đưa du khách nước ngoài đến chợ Bến Thành chứ không phải một ngôi chợ nào khác, bởi đây là ngôi chợ gắn liền với hình ảnh Sài Gòn xưa. Với khách du lịch, đó còn là một ngôi chợ dân dã, truyền thống nổi bật ở tính phân bổ các ngành hàng, buôn có bạn bán có phường và mang tính giao tiếp bản địa sống động. Không lạ khi rất nhiều du khách đều tỏ ra thích thú với khu vực cửa bắc, bởi ở đó vẫn lưu giữ hình ảnh các quầy hàng thô sơ bày bán cá tươi sống hay đánh giá cao khả năng trưng bày sản phẩm trái cây, hoa tươi...
HOÀI TRANG ghi

1 comment:

Unknown said...

bai viết hay
...................
Mr Tuấn
chuyên mua bán đồng hồ Omega chính hãng .
Click để xem chi tiết: chuyên mua bán đồng hồ Omega 18k gold chính hãng tại TPHCM hoặc Chuyen mua ban dong ho Omega 18k gold chinh hang tai TPHCM