Friday, March 1, 2013

HOÀNG YÊN LƯU * THẾ LỮ


Thế Lữ và Nguyễn Nhược Pháp


Hoàng Yên Lưu

Trong loạt bài mạn đàm về Thế Lữ, chúng ta đã biết ông là ngôi sao thứ sáu trong Tự Lực văn đoàn sau Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam và Tú Mỡ. Thế hệ sau cũng nhìn nhận Thế Lữ là một trong những nhà thơ tiền phong của phong trào Thơ mới và góp nhiều công sức xây dựng đổi mới thi ca trong những năm chót của tiền bán thế kỷ 20 (32-45). Vai trò của Thế Lữ đối với thi ca tiền chiến rất quan trọng như Hoài ChânHoài Thanh, hai tác giả của cuốn Thi Nhân Việt Nam đã nhận định:

Thế Lữ như vì sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Dù sau này danh vọng của Thế Lữ có mờ đi ít nhiều, nhưng người ta không thể không nhìn nhận cái công của Thế Lữ đã dựng thành nền thơ mới ở xứ này”.
Không phải chỉ có những nhà phê bình như Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh hay Lê Tràng Kiều mới khen thơ Thế Lữ mà nhiều thi nhân lớp sau như Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938), Xuân Diệu (1916-1985) từng coi Thế Lữ như một thi tài. Sự tin phục kẻ cầm cờ dẫn đầu cho phong trào Thơ mới có thể tìm thấy trong bài phê bình Mấy vần thơ của nhà thơ tài hoa mệnh bạc Nguyễn Nhược Pháp (tác giả bài Chùa Hương),đăng trên tờ L’Annam Nouveau năm 1935 nghĩa là ngay sau khi tác phẩm thơ của Thế Lữ được phát hành. Bài phê bình có phần khách quan, nêu được cái hay của Mấy vần thơ nhưng cũng nói ra ít nhiều điều tác phẩm chưa hoàn toàn thỏa mãn kỳ vọng của người đọc. Nó cũng phản ánh được đương thời độc giả ủng hộ thơ mới ra sao và coi trọng tờ Phong hóa như thế nào.
Nguyễn Nhược Pháp viết lời bình bằng tiếng Pháp, đăng trên tờ báo Pháp xuất bản ở Hà Nội, và được một dịch giả khuyết danh dịch ra tiếng Việt như sau:
Nếu không kể đến Nguyễn Khắc Hiếu và Trần Tuấn Khải, người ta có thể xem ông Thế Lữ như một nhà thơ nổi tiếng nhất hiện nay. Những bài thơ của ông, rải rác trên Phong Hóa, đã được tập hợp lại với một cái tên khiêm nhường Mấy Vần Thơ. Theo như sự đánh giá của nhiều người thì có lẽ Mấy vần thơ là một tập thơ đẹp nhất mà người ta đã từng xuất bản cho tới ngày nay, nếu như ta thưởng thức những hình ảnh bên trong của nó. Chúng ta cần chuyển những lời khen ngợi tới ông Đỗ Văn, người đã xuất bản tập thơ, và cũng là người có một khiếu thẩm mỹ vững vàng. Cũng cần phải nói thêm rằng tập thơ đã được nổi danh một phần là nhờ tài năng của ông Trần Bình Lộc, một họa sĩ nức tiếng với công chúng. Những nét vẽ duyên dáng trong những bức tranh của ông chắc chắn đã góp phần làm cho tập thơ được hoan nghênh thêm.
Trở về với thi ca. Tài năng của Thế Lữ hoàn toàn chiếm được cảm tình của người đọc. Thơ ông giản dị, đôi khi hơi mơ hồ, dịu nhẹ, luôn làm say mê những trái tim hồn nhiên và thuần phác.
Mặt khác, ông Thế Lữ đã sáng tạo một hình thức thơ mang tính tân kỳ về tinh thần cũng như về hình thức. Và đó chính là thành công của ông.
Tôi chưa từng được gặp mặt ông Thế Lữ. Có lẽ là liều lĩnh khi tôi cho rằng trên thực tế, ông Thế Lữ giống như một nhà thơ độc đáo cho cái mới. Lý do thực đơn giản. Ông Thế Lữ đã bộc lộ một cách tự nhiên và hết sức trữ tình. Ông để lại cho chúng ta một bức chân dung đẹp về mình với rất nhiều sự ngưỡng mộ. Chúng ta biết về ông như một con người cẩu thả trong cách ăn mặc – những điều kiện tối thiểu để trở thành một thi sĩ. Ông ‘đến Hà Nội với chiếc quần cộc; với những đôi giày trắng từ hạ sang đông; chiếc mũ vàng dúm dó bẩn vô cùng…’.
Đó là dáng vẻ bên ngoài.
Trong thế giới tình cảm ông Thế Lữ cũng thật vụng về, ít nói. Không ai yêu một Thế Lữ bần cùng.

Người vụng về, yên lặng, chẳng ai yêu!

Như tất cả những nhà thơ xứng dáng với tên gọi đó, ông Thế Lữ là một kẻ mơ mộng khó lòng cảm hóa. Ông muốn những điều không thể được. Thi nhân muốn biến thành những bậc thần nhân phi phàm trong tiểu thuyết Trung Hoa, thành gió, mây, thành làn thinh không nhẹ nhàng trong vũ trụ mênh mông, thành ánh sáng diệu kỳ của những ngọn núi và ngàn hoa...

Ta muốn biến thành làn mây, làn gió
Làm một bầu khinh thanh trong vũ trụ,
Làm ánh sáng anh linh của núi sông.

Chúng ta đã nói về nhà thơ. Giờ hãy nói về tác phẩm. Dưới con mắt của nhiều người, Nhớ rừng là một bài thơ hay nhất của Thế Lữ và không nghi ngờ gì nữa. Đó cũng chính là ý kiến của nhà thơ, bởi lẽ ông đã đặt bài thơ lên vị trí đầu tiên của tập thơ. Bài thơ Nhớ rừng là lời của một con hổ trong vườn Bách thú. Tôi càng phải nhẹ nhàng nhắc nhở ông Thế Lữ rằng trong vườn Bách thú có hai con hổ và ông đã quên báo trước với chúng ta con hổ nào trong số đó đã được nói bằng những câu thơ tự do. Tuy nhiên, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng chính là thi ca. Tôi tin rằng có thể tìm thấy ở đó một biểu tượng như người ta vẫn nói về con hổ, đó không phải là một cái gì khác ngoài bản thân nhà thơ. Tôi đã dành hẳn một ngày tranh luận với bạn bè về điều mà những bài tranh luận khác đã bàn chán rồi. Một bài phê bình mà tôi xin giấu tên, đã bảo vệ tác giả: ông Thế Lữ khẳng định ông không hề nhìn nhận trong Nhớ rừng một biểu tượng nào cả. Con hổ trong vườn bách thú không phải là Thế Lữ. Và sau đó ông đưa ra những vẻ đẹp trong những câu thơ:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Tôi thực sự cúi đầu ngưỡng mộ. Tuy nhiên, tôi cũng không tin là Thế Lữ tán thành với những lời tán dương ông. Theo ý tôi, trong bài thơ thực sự có được một vài câu thơ đẹp, nhưng về tư tưởng thì vẫn còn trống rỗng chưa thực sự đặc sắc. Mặc khác, đó cũng là khiếm khuyết của ông Thế Lữ khi ông muốn triết lý.
Những dòng tự bộc lộ của Thế Lữ đạt được nhiều thành công hơn. Chẳng hạn, trong Tự trào thực sự đã có được câu độc đáo. Ông đã tự bộc lộ mình trong bài này bằng thể tản văn cắt quãng không đều đặn:

Thực sự không có chi là tư vị cả.

Trái lại, đối với sự miêu tả và những cảm tình nhẹ nhàng, ông Thế Lữ đã thực sự chứng tỏ một tài năng lớn. Tiếng sáo thiên thai là một bài thơ huyền ảo, thần tiên. Mấy vần ngây thơ cũng đã làm nổi danh thơ ông. Sự ngây thơ, chất phác, vẻ duyên dáng, những giấc mơ, nỗi u hoài, tất cả hòa hợp trong những câu thơ trong sáng đến lạ kỳ. Hai bài thơ này đều được làm bằng thể lục bát. Đó cũng là điều ngạc nhiên trong khi trên thực tế, ông Thế Lữ được coi như bậc thầy của thơ tự do. Ông đã viết những bài thơ hay nhất của mình bằng thể lục bát.
Cuối cùng, cần phải lưu ý rằng ông Thế Lữ không hề có những niềm say mê trong tình yêu. Và đó cũng là một khiếm khuyết của ông. Thi sĩ vẫn tiếp tục đi tìm người con gái trong mộng tưởng. Đó là vẻ đẹp mơ hồ của những nàng tiên thoảng qua trong tác phẩm của ông. Nhưng nàng tiên chợt biến mất bởi một thứ phép mầu như những khoảnh khắc mê say chợt đến. Tất cả những điều đó tạo nên một hiệu quả thi ca thú vị. Ông Thế Lữ đã say sưa kể lại câu chuyện về những nàng tiên trong Bông hoa rừng, Vẻ đẹp thoáng qua, Mộng ảnh, Hoa thủy tiên, và dĩ nhiên, mỗi lần đều là một biến thể.
Để kết luận, tôi xin được khẳng định tác phẩm của ông Thế Lữ không thiếu những biểu hiện của một tài năng, nếu không kể đến một vài khiếm khuyết. Ông đã thực sự tạo cho mình một phong cách hào hoa, tế nhị thanh lịch. Thơ của ông đơn giản, phù hợp với thẩm mỹ của nhiều người. Và còn nhiều điều nữa xin nhường cho chính người đọc phán xét”.
(L’Annam Nouveau, số 430, ngày 8-3-1935)

No comments: