Vui như Tết
- Created on Sunday, 24 February 2013 01:47
- Category: Tạp Ghi

Ông
bà mình ngày xưa nói rất đúng: ‘Vui như Tết’. Quả vậy, mấy tuần lễ cuối
năm làng tôi lúc nào cũng đầy tiếng cười. Cái ông Từ Hòe hội viên viễn
cư mỗi năm từ miền tây về làng đã làm không khí làng nhộn nhịp hẳn lên.
Ông ở những hai tuần, nay ăn nhà này, mai ăn nhà khác. Cái kho tiếu lâm
của ông lớn vô tận. Tôi đi với ông hằng ngày mà chưa hề thấy ông kể lại
một chuyện cũ. Lúc nào chuyện cũng mới.
Chuyện đã hay mà tài pha mắm pha
muối vào làm cho câu chuyện nào ông kể cũng hay hết sức. Cụ bà B.95 và
hai cô Huế thì mê ông như điếu đổ.
Ông
này nhiều tài lắm, một trong những cái tài vặt mà tôi không để ý là tài
chỉ huy. Ông chỉ huy mà như không chỉ huy, không áp đặt mà ai cũng nghe
theo răm rắp.
Nổi cộm nhất là việc chạy bộ buổi sáng. Trong năm thì phe
liền ông chúng tôi, tức các nhà đại quân tử và đại triết gia trong
làng, thường cùng nhau đi bộ mỗi sáng thứ bảy và điểm hẹn là quán cà phê
Starbucks ở ngã tư.
Từ dịp tết vừa qua khi có ông về làng thì ông đề
nghị chúng tôi đi bộ mỗi buổi sáng. Nói là đi bộ nhưng ông thường hướng
dẫn chúng tôi chạy bộ nữa, đi một quãng, chạy bộ một quãng, vui đáo để.
Khi các nhà quân tử bắt đầu thấy mệt thì vừa đúng lúc tới quán cà phê.
Cái không khí vui và ấm trong quán đã làm chúng tôi hết mệt ngay lập
tức.
Không ai bảo ai, phe chúng tôi đến chiếm ngay một góc trong quán,
nơi gần cái TV bự và gần cái bàn bày nhật báo. Nhóm chúng tôi thường
phạm một cái tội là sáng nào cũng ra đây đọc báo chùa. Starbucks có lệ
mua một xấp nhật báo để khách vừa uống cà phê vừa coi tin.
Toronto có 4
tờ báo lớn và một tờ báo USA, sáng nào 5 tờ này cũng được bày sẵn trên
bàn để đón chào các nhà quân tử chúng tôi. Ôi, vừa nhâm nhi cà phê nóng,
vừa đọc các tin sốt dẻo, nào có gì sung sướng bằng!
Tôi vừa nói nhâm
nhi cà phê nha, chứ không nói uống. Uống cà phê cái ực là không phải
cách uống cà phê. Có nhâm nhi chút chút mới thấy cái vị cà phê nó thơm
ngon, nó đăng đắng, nó ngậy ngậy, nó ngòn ngọt dịu dàng.
Phe liền ông
chúng tôi tự cho mình là vua biết ăn biết uống đấy, khiếp không các cụ?
Mỗi lần nhâm nhi cà phê xong thì ông ODP cũng như ông Từ Hòe đều gật gật
cái đầu ra ý là rất hài lòng về ly cà phê đang uống.
Mà quán này đâu có
chỉ phục vụ một loại cà phê, họ có đủ loại cà phê ngon của thế giới.
Quán này đâu có pha cà phê bằng kiểu cái nồi ngồi trên cái cốc như ở
Việt Nam, họ pha bằng loại máy tối tân nhất. Bao nhiêu hương vị tinh hoa
của cà phê đều tiết ra hết. Xin cám ơn Trời Phật đã cho chúng con được
sống cùng với nhau hưởng những giây phút sảng khoái này.
Vì
phe chúng tôi đên quán này thường xuyên và lâu năm nên chúng tôi cũng
quen một số bạn da trắng.
Họ cũng tới đây uống cà phê và đọc báo buổi
sáng y như chúng tôi. Đọc báo xong thì chúng tôi quay ra nói chuyện, các
thứ trên trời dưới biển. Các ông da trắng thì bao giờ cũng bắt đầu bằng
chuyện thể thao.
Nhờ nói chuyện với họ mà chúng tôi mới biết thêm các
môn thể thao như dã cầu, côn cầu, foot ball của Bắc Mỹ. Thấy nhóm
Việt Nam chúng tôi tuần này vui vẻ khác thường thì họ tỏ ra ngạc nhiên.
Sau khi họ biết chúng tôi đang tuần lễ ăn tết thì họ mới à lên một
tiếng rồi gật gật cái đầu.
Chúng tôi kể cho họ nghe về cái tết truyền
thống của quê hương Việt Nam, thì đáp lại họ cũng kể cho chúng tôi nghe
về cái tết của xứ họ. Xưa nay tôi cứ nghĩ tất cả khách hàng da trắng ở
quán này là một khối thuần chủng, ai dè, sai bét các cụ ạ.
Trong số các
vị da trắng thường đến đây uống cà phê, họ có nhiều gốc khác nhau. Ông
gốc Đức, ông Tây Ban Nha, ông Columbia. Tôi già quá mất rồi vì tôi đã
quên khuấy rằng Canada là một nước của các di dân. Chỉ có ông Da Đỏ là
có gốc lâu đời nhất ở đây mà thôi.
Thế
là sáng hôm nay, đề tài cuối cùng chúng tôi nói trong quán là đề tài
Tết trên thế giới. Không ngờ hay đáo để, các cụ ạ.
Ông Columbia Nam Mỹ
thì bảo rằng dân họ có phong tục là khi tết đến thì các thứ xấu trong
năm cũ như tin người chết, như toa thuốc, như giấy đòi nợ, giấy tòa
án... tất cả cho vào cái bao, đề tên bên ngoài là ‘Mr Old Year’.
Đúng lúc giao thừa thì hỏa táng cái bao này, coi như tống khứ những cái
xấu của năm cũ. Ông Estonia thì cố gắng ăn 7 bữa trong ngày tết để mong
no ấm cho cả năm mới.
Ông Tây Ban Nha thì khi đồng hồ nhà thờ điểm 12
giờ lúc giao thừa thì ai cũng cố gắng nuốt cho nhanh 12 trái nho, trái
nho to và tròn chỉ hạnh phúc toàn diện, nên ai cũng cố gắng nuốt cho kịp
với tiếng chuông.
Nuốt xong là phá ra cười và vỗ tay, rồi mới chúc mừng
năm mới nhau. Ông Tô Cách Lan thì có thói quen mời một người đến xông
nhà.
Người này phải là liền ông, cao ráo, tóc đen, đẹp trai, học thức.
Khi bước qua ngưỡng cửa thì đem một số quà tết đến, như mấy đồng tiền để
chúc sự giàu có trong năm, như mấy cục than để chúc sự ấm áp trong nhà.
Người Hy Lạp thì ngày tết có thói quen ăn một đồng bánh ngọt mang tên St. Basil’s Cake. Trong nhân đồng bánh có mấy cục tiền vàng. Miếng bánh của ai có đồng tiền vàng thì người đó sẽ được hên cả năm.
Cứ
thế trọn tuần sáng nào các nhà quân tử và tráng sĩ chúng tôi cũng gặp
nhau uống cà phê, vừa nói chuyện với nhau, vừa nói chuyện với bạn bè da
trắng.
Thật là vui hết sức vậy đó. Riêng hôm chủ nhật, sau suất cà phê,
chúng tôi theo chân ông Từ Hòe về nhà Cụ Chánh tiên chỉ để tổ chức một
bữa ăn ‘nhà quê’. Ông Từ Hòe bảo cả bọn: Suốt một tuần lễ tết, ngày nào
chúng mình cũng linh đình cơm gà cá gỏi, ngày nào cũng giò chả, cũng
thịt gà, cũng thịt heo thịt bò, cũng bánh chưng bánh tét...
Ngấy quá
rồi. Mời các bác về nhà cụ tiên chỉ, hàn sĩ này xin làm một bữa ăn dân
dã, hoàn toàn không có một chút gì liên hệ tới món tết cả. Ai cũng gật
gù, cho là chí lý. Ông Từ Hòe này giỏi thật các cụ ạ. Ông đã tính từ
trước. Từ khi ông về làng ngày cúng Ông Táo, ông được Cụ Chánh chủ nhà
trao cho chìa khóa nhà bếp.
Ông toàn quyền muốn nấu món gì tùy ý. Ông đã
mua sẵn các thứ để làm bữa hôm nay. Các cụ đã đoán ra những món gì
chưa? Ông bảo đây là món ‘nhà quê’ Bắc Kỳ mà ông thích từ bé: Đó là món
canh rau đay nấu với cua đồng, ăn với cà ghém.
Đó là món rau muống luộc
chung với ‘rau rút’ miền Nam gọi là ‘rau nhút’. Món này chấm với nước
mắm chanh ớt, riêng ông thì ông sẽ chấm với nước mắm tôm chanh ớt. Và
món tôm cõng muối ăn với dưa cải chua.
Phe
chúng tôi liền xắn tay áo nhào vào bếp, người rửa rau, người nhặt tôm,
vui vẻ quá chừng. Phe chúng tôi vừa làm, vừa bàn các vấn đề quốc sự, như
chúng ta có nên về Việt Nam cướp một cái tàu của VC ra khơi đánh chìm
mấy cái tàu của thằng Tàu Cộng đang hỗn láo kia không.
Hay phe ta có nên
lén đốt cái tòa đại sứ của bọn Tàu ở Hà Nội không, hay có nên đi phá
nhà tù cứu nhạc sĩ Việt Khang không. Trong khi các đại sư chúng tôi say
sưa bàn các việc quốc sự quan trọng như vậy thì bỗng nhiên cửa mở toang
ra, phe các bà ào vào.
Cái gì thế này? Thì ra cái anh John xưa nay có
thói quen sợ vợ đã mật báo cho vợ biết bữa cơm dã chiến của chúng tôi.
Thế là Chị Ba Biên Hòa đã lái xe chở hết phe liền bà tới và đòi ăn cơm
‘nhà quê’ với chúng tôi. May mà thức ăn có đủ do tài của ông Từ Hòe.
Mời
các cụ cùng xơi cơm với làng tôi. Các cụ có thấy cơm tám nàng Hương
trộn canh rau đay ăn với cà ghém chấm mắm tôm ngon không cơ? Cụ cần canh
ư?
Thưa mời cụ xơi món nước rau muống luộc vắt chanh. Xin nói nhỏ với
các cụ điều này: món nước luộc rau thì Chị Ba Biên Hòa không thích,
người Nam có ăn nước luộc rau bao giờ đâu.
Chị chơi thân với bọn Bắc Kỳ
chúng tôi đã bao nhiêu năm mà chưa hề bao giờ chị dùng món này. Cụ thấy
nước rau muống thoang thoảng mùi rau rút, một mùi thơm hoang dã nhà quê,
phải không cơ?
Nhìn
mâm cơm Việt Nam, anh John thích quá, bèn thưa:
Tôi thấy cụ nhạc sĩ
Trần Văn Khê thật là chí lý khi nói rằng mâm cơm Việt Nam là mâm cơm
toàn diện và dân chủ, hơn hẳn mâm cơm các nước khác. Này nha, nó toàn
diện bởi nó làm đã con mắt với món ăn có đủ màu, nó đã cái mũi vì hương
thơm ngào ngạt, nó đã cái miệng với vị mặn ngọt chua cay.
Nó dân chủ vì
ai muốn ăn món gì trước hay sau cũng được, hoàn toàn tự do, chứ không
như ăn theo lối tây, họ mang từng món ra, ăn hết món này rồi mới bày món
khác, ngài không thích thì ngài rán chịu, hãy ngồi chờ. Rồi đến món
tráng miệng của ông Từ Hòe mới hay quá chứ.
Ông Từ Hòe thổi cơm bằng nồi
gang, ông cố tình cho lửa lớn vào phút chót nên cuối cùng, đáy nồi là
một mảng cháy lớn. Các cụ còn nhớ cháy nồi cơm không, chao ơi nó ngon
thần sầu, nó khơi dậy trong lòng mọi người những hình ảnh ngày xưa thơ
ấu.
Ăn xong cơm mà được ăn thêm một miếng cháy nữa thì chao ơi, bữa ăn
trên thiên đàng cũng chỉ ngon như thế này là cùng. Ăn cháy, cụ phải ăn
thong thả thì mới cảm thấy hết được các vị thơm ngon của miếng cơm đã
cháy vàng.
Ăn
cháy xong thì đến phần uống trà. Bữa nay không có trà tàu nha, vì bữa
cơm theo lối nhà quê ngày xưa mà. Ông Từ Hòe đã lo liệu hết. Ông cho mọi
người uống nước trà lá, đây là lá trà tươi do người bạn trồng được trà
bên Mỹ gửi sang tết ông.
Ăn
uống thỏa thuê xong thì đến phần văn nghệ. Cô Cao Xuân mới lên tiếng hỏi
thần tượng Từ Hòe: Em chỉ biết bác là dân Bắc Kỳ nhưng không biết đích
xác sinh quán.
Bác có thể cho chúng em biết bác sinh ra ở miền nào không
cơ? Thấy ông Từ Hòe lắc đầu thì ông ODP nhảy vào ngay. Chúng ta đã coi
nhau như anh em ruột thì xin bác Từ Hòe đừng giấu hai cô em này làm chi.
Nếu bác ngại nói về mình thì Bác để tôi trả lời thay bác nha. Và không
để ông Từ Hòe cho ý kiến, ông ODP nói ngay: hai chúng tôi quen nhau từ
bé, nên tôi biết rất rõ về bác Từ Hòe này.
Quê bác ở tỉnh Bắc Ninh. Nghe
tới tên Bắc Ninh thì cả làng ồ lên một tiếng lớn. Ông ODP nói tiếp: Bắc
Ninh ở phía bắc Hà Nội chừng 30 cây số.
Đây là đất văn học của miền
Bắc, cho nên chúng ta thấy bác Từ Hòe thông thái và văn chương chữ nghĩa
đầy mình là thế. Đây là đất xuất phát ngành hát quan họ, đất của sông
Cầu, sông Tiêu Tương với tiếng sáo Trương Chi, đất của Chùa Lim, Chùa
Dâu, Chùa Trăm Gian, đền Thánh Gióng, đất hai Bà Trưng khởi nghĩa.
Bác
sinh ra trong Vùng Quan Họ là quê hương của Hàn Thuyên, Đoàn Thị Điểm,
Nguyễn Gia Thiều, Cao Bá Quát, của thân mẫu thi hào Nguyễn Du.
Ông Từ
Hòe nghe một danh sách dài như vậy thì cho là quá đủ bèn giơ tay xin
ngừng. Ông bảo ông có số đỏ được hưởng đôi chút hương thơm của tiền nhân
mà thôi. Hai Cô Huế Tôn Nữ và Cao Xuân thì vái ông Từ Hòe lia lịa: Sợ
bác quá!
Bà
cụ B.95 để cho dân làng nói chuyện chữ nghĩa một chặp rồi cụ mới quay ra
hỏi anh John là thần tượng của cụ: Mấy tháng trước trong một bữa họp
làng anh bảo khi anh học tiếng Việt thì thấy cái mặt người Việt Nam toàn
chữ M như mắt má mũi miệng... Nay anh còn thấy chỗ nào có chữ M như vậy
nữa không?
Anh
John gãi đầu gãi tai một lúc, chắc để moi móc trí nhớ, rồi anh thưa:
Cháu không thấy chữ M ở chỗ khác, nhưng cháu thấy đàn ông Việt Nam có
rất nhiều chữ ĂN.
Các sinh hoạt của người con trai Việt Nam liên
hệ rất nhiều tới tiếng ĂN, nhiều lắm, cháu xin kể sơ sơ thôi nha: Còn bé
thì ăn học, xin tiền mẹ ăn bánh không được thì ăn vạ, lớn lên thì ăn
chơi, ăn diện, nếu ăn nói bậy bạ thì bị ăn roi, ăn bạt tai.
Lớn lên đến
tuổi trưởng thành thì ăn cưới, ăn đời ở kiếp với vợ. Ban đầu thì ăn 3
thứ bánh: bánh hỏi, bánh cưới, rồi bánh khoái. Vợ có bầu thì ăn kiêng,
không kiêng được thì ăn lén, hay ăn bánh trả tiền. Vợ bắt được ăn lén
thì ăn bánh đập, ăn gậy, có nước phải đi ăn mày...
Phe các bà nghe đến đây thì hỏi ngay: Thế phe nữ chúng tôi thì có ‘ăn’ nhiều như vậy không? Anh John cười rồi đáp: Phe nữ thì không ăn nhiều, mà LÀM
rất nhiều.
Này nha: khi còn bé thì giúp mẹ làm bếp, làm rau làm cá làm
dưa, lớn lên đến tuổi cập kê thì làm nũng, làm dáng, làm điệu, làm khổ
đàn ông, làm lơ, rồi làm đẹp, làm đầu, làm tóc, làm lông mi, làm móng
tay. Rồi tiến lên làm dâu, làm vợ, làm mẹ, rồi làm bà, làm bà nội làm bà
ngoại...
Bà
cụ B.95 nghe đến đây xong thì nói với anh John: Sao mấy chữ Ăn và Làm
của Anh hiền quá, ít tiếng cười quá. Ngày tết ai cũng chúc làng ta đầy
tiếng cười cơ mà.
Được lời này như mở cõi lòng, anh H.O. nhảy vào ngay
để tiếp sức cho anh John. Anh nói: Nhân nghe nói tới chữ Làm, chữ này
nhắc cháu tới chữ L. Chữ L này đẻ ra nhiều chuyện cười lắm. Cháu
chỉ xin kể sơ sơ hai chuyện thôi nha. Chuyện thứ nhất xảy ra trước 1975,
thời Miền Nam có quốc hội.
Hồi đó có 2 chủ tịch rất lâu đời. Ban đầu là
Cụ Nguyễn Bá Lương, sau đó là Cụ Nguyễn Bá Cẩn. Thấy Cụ Bá Luơng rồi
đến Cụ Bá Cẩn, Quốc hội VNCH chả có gì thay đổi, ông ký giả nổi tiếng
VIP KK, tức luật sư Nguyễn Văn Chức, nói một câu để đời trên báo Sóng
của Chu Tử.
Ông bảo ‘BL cũng y như BC, chả khác gì nhau
cả’. Những kẻ có máu tốt thì coi câu này bình thường, nhưng kẻ có máu
xấu thì BL với BC gợi ra nhiều thứ lắm, cười vỡ bụng luôn. Bây giờ nghĩ
lại tôi vẫn còn cười. Cái Cụ VIP KK này tếu thâm thúy hết sức vậy đó.
Từ
chữ L có nghĩa xấu này mới dẫn tới chuyện thứ hai, xảy ra sau 1975. Số
là có một bà xồn xồn không biết do ăn uống làm sao mà oẹ ra máu, nôn ra
máu. Anh cán bộ y tế ở xã không biết chữa làm sao nên chuyển bà ra phòng
y tế huyện. Trên phiếu chuyển anh y tá xã định ghi là ‘nôn ra máu’,
nhưng vì anh ít học, xưa nay thường lẫn lộn chữ L với chữ N, chữ này
viết ra chữ kia.
Trên phiếu gửi, anh ghi bệnh nhân ‘lôn ra máu’. Khi tới
huyện, quan cán bộ huyện đọc lời trên phiếu bèn nói tướng lên: cái anh y
tá xã này vô học, có mỗi dấu huyền với dấu sắc mà cũng quên. Nói xong
anh lấy bút đánh dấu huyền vào chữ thứ nhất rồi chuyển bệnh nhân vào khu
sản khoa!
Xin hết chuyện chữ L.
Cả
làng nghe đến đây thì cười bò ra hết, ai cũng thương hại cái bà xồn xồn.
Ông ODP kể thêm: Nó giống y như chuyện khi tôi mới đi tù cải tạo. Ngày
đầu tiên, quan quản giáo bảo tù nhân: Tên tôi nà Nuân, chữ en nờ cao, các anh phải lói cho đúng.
Anh
John biết cụ B.95 không thích những chuyện dính tới VC, bèn xua đuổi
cái không khí VC bằng một chuyện khác. Anh kể rằng vừa rồi tình cờ anh
đọc được bài thơ của GS Nguyễn Văn Cổn tặng GS Trần Văn Khê. Các bạn
biết GS Cổn là ai không? Thưa, GS Cổn là bạn học với GS Hoàng Xuân Hãn,
là người đã chứng minh rằng chữ Quốc ngữ không phải do Alexandre de
Rhôdes sáng chế, mà do nhà truyền giáo gốc Bồ Đào Nha tên là Gaspar de
Amaral tìm ra.
Ông Alexandre de Rhodes chỉ là người có công thâu thập
tài liệu và hệ thống hóa chữ Quốc ngữ mà thôi. GS Khê kể rằng hồi năm
1954, GS Cổn vì mến tài GS Khê nên đã tặng GS Khê một bài thơ mang tên
là ‘Nàng Nhạc’. Bài thơ khá hay nhưng tôi thích nhất hai câu lục bát cuối cùng này:
... Đêm nay em đến với mình
So dây nắn phím, tang tình tình tang
Đọc
xong 2 câu này rồi anh John cười hê hê. Nghe tiếng hê hê thì chúng tôi
biết có gì liên hệ tới dê xồm đây. Quả đúng như vậy. Anh John nói: Đọc
cả bài thơ thì những người có máu tốt đều cho là hay vì thơ muốn nói tới
hồn nhạc đang đến với nhạc sĩ, còn tôi đây, chẳng may nhiều máu xấu thì
tôi thấy nó khêu gợi quá. Các bạn thử đọc lại 2 câu tôi vừa trích dẫn
mà coi: Eo ơi, đúng là màn tình trai tài gái sắc yêu nhau, chứ còn gì
nữa!
Cả làng bò ra cười. Quả đúng vậy, ý về làm nhạc thì ít, mà ý về hành động yêu đương thì nhiều, nhiều quá, so dây nắn phím... ấn tượng quá.
Chị Ba nghe xong thì liếc mắt nhìn anh John, như gửi một thông điệp là ‘đủ rồi, hãy ngưng lại’. Anh John liền chuyển đề ngay.
Anh
để cho phe các ông đập bàn đập ghế, phe các bà đấm nhau thùm thụp xong
thì xin thay đổi không khí. Anh xin nói một chuyện trong sạch trong một
câu đố:
Trên
đời có 2 điều khó đạt, đó là: gieo ý nghĩ của mình vào đầu người khác,
và bỏ tiền người khác vào túi mình. Người đạt được điều 1 là các thầy
giáo. Người đạt được điều 2 là các nhà buôn. Đố các bạn biết, trên đời
này ai đạt được cả 2 điều một lúc? Dân làng suy nghĩ một chặp rồi có mấy
câu trả lời: Đó là mấy người trong hội từ thiện đi quyên cúng.
Đó là
ông sư đi gây quỹ xây chùa. Đó là ông cha đi gây quỹ xây nhà thờ. Anh
John đều lắc đầu. Cuối cùng thì mọi người tuyên bố chịu. Anh bèn cười
rồi đáp: Đó là các bà vợ! Bà vợ nào cũng đạt được cả hai điều, các cụ có
thấy đúng không cơ?
Chị
Ba Biên Hòa là người mau trí biết ngay là phe liền ông đang chuyển sang
đề tài về đàn bà, đề tài các ông ưa mang ra giễu nhất, nên chị ra tay
ngăn ngay. Chị bảo năm nay là năm rắn sao chưa thấy ai nói chuyện rắn?
Bồ
chữ Từ Hòe liền nhảy vào ngay, chắc để làm vui lòng Chị Ba. Ông xin kể
chuyện con rắn trong Kinh Thánh. Rằng thuở ban đầu Chúa dựng nên vườn
địa đàng với anh Adam và vợ là Eva, cùng muôn loài tạo vật. Chúa cho anh
chị Adam làm chủ vườn địa đàng. Lúc đó anh chị và loài vật đều nói
chung một thứ tiếng.
Một hôm kia chị Eva đi dạo gần cây táo thì gặp một
con rắn. Con này liền chào hỏi rồi nói rằng: Chị xinh đẹp như vậy nếu ăn
trái táo trên cây này thì chị sẽ còn đẹp hơn nữa và sẽ thông biết hết
mọi sự. Nghe bùi tai nàng liền hái một trái táo ăn. Ăn xong nàng hái
thêm một trái táo đem về cho chồng.
Anh Adam ăn xong miếng thứ nhất thì
chợt nhớ là Chúa đã cấm không được ăn trái này. Chúa đã dặn là anh chị
có thể ăn mọi thứ trái trong vườn, trừ trái táo này vì nó là trái biết
lành biết dữ. Nhưng đã lỡ mất rồi. Anh mắc nghẹn miếng táo ở cổ. Tự
nhiên anh và chị thấy mình trần trụi và biết xấu hổ.
Chúa đến thăm thì
hai anh chị trốn vào bụi cây. Anh đổ tội cho Eva đã cám dỗ. Chị đổ tội
cho con rắn đã cám dỗ. Vì anh chị không vâng lời Chúa nên bị đuổi ra
khỏi vườn địa đàng, phải vào cõi trần gian cực khổ này, và con rắn bị
hình phạt suốt đời bò dưới đất. Từ đó loài người ai cũng oán con rắn vì
bởi nó mà ta phải ở trần gian đau khổ này.
Bên
trời tây, do ảnh hưởng của sách Kinh Thánh nên dân da trắng đều ghét
con rắn. Họ coi con rắn là con vật xấu và là biểu hiệu của sự dữ. Việc
này khác hẳn với quan niệm về rắn ở phương đông chúng ta.
Trong
văn học sử Việt Nam có hai chuyện nổi bật về rắn. Chuyện thứ nhất kể về
thần đồng Lê Quý Đôn (1726-1784). Ngay khi còn bé ông đã nổi tiếng
thông minh. Một hôm có người bạn của bố đến chơi. Ông này muốn thử tài
thần đồng nên bảo cậu bé hãy làm một bài thơ bát cú trong đó mỗi câu
phải có tên một con rắn. Thần đồng nghĩ một chút rồi ứng khẩu đọc ngay:
Chẳng phải liu điu, vẫn giống nhà
Rắn đầu biếng học lẽ không tha
Thẹn đèn, hổ lửa, đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen lời lếu láo
Lằn lưng chẳng khỏi vệt dăm ba
Từ nay Trâu Lỗ xin siêng học
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia
Quả là tuyệt bút vì câu nào cũng có tên một con rắn. Ngày xưa bài thơ này được chép trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, bậc tiểu học lớp sơ đẳng, học sinh nào cũng phải học thuộc.
Chuyện
rắn thứ hai liên hệ tới quan đại thần Nguyễn Trãi (1380-1442). Khi về
già Cụ Nguyễn Trãi mới gặp Thị Lộ, nguời bán chiếu mà văn tài hiếm có.
Cụ lấy bà làm thiếp. Rồi về hưu. Rồi Vua Lê Thái Tôn con vua Lê Lợi đi
duyệt binh ở Chí Linh có ghé thăm cụ. Vua thấy Thị Lộ đẹp quá bèn vời
đến hầu. Đêm đó không biết Thị Lộ hầu làm sao mà vua băng. Triều đình
luận tội giết vua nên ra án tru di tam tộc cả nhà Cụ Nguyễn Trãi. Sách
chép rằng đây là việc rắn báo thù, vì trước đó, một buổi chiều các gia
nhân trình cụ là ngày hôm sau họ sẽ dẹp vườn cỏ quanh nhà.
Đêm đó cụ ngủ
nằm mơ thấy một người đẹp mang bầu hiện ra xin cụ ra lệnh cho gia nhân
khoan dẹp vườn cỏ, chờ nàng đẻ xong và tìm được một nơi an toàn khác. Cụ
ngủ thiếp đi, và sáng hôm sau cụ dậy trễ thì gia nhân trình rằng đã dọn
xong vườn cỏ. Họ bá cáo đã phá được một ổ rắn lớn. Hóa ra đây là rắn
thần, nó đã cầu cứu trong giấc mộng.
Rồi
ông Từ Hòe kết: Xin hết 2 chuyện có thực trong sử và văn học Việt Nam.
Hiện nay thì tôi chỉ thấy có một việc liên hệ tới rắn là VC đang cõng
rắn cắn gà nhà. Bây giờ ở quê hương, ai phê bình việc cõng rắn, ai chửi
con rắn, tất cả phải vào tù ngay.
Đang
lúc làng tôi vui vẻ ngày tết như vậy thì có tiếng chuông cửa. Chủ nhà
ra mở thì Chúa ơi, chúng tôi có người khách quý đến thăm bất ngờ.
Đó là
Cha Paolo, người bạn thân thiết của cả làng. Ông cha già Canada gốc Ý
này đáng yêu vô cùng. Ông biết bây giờ đang là mùa tết Việt Nam nên trên
đường đi thăm bệnh nhân ông xin ghé ngang để chúc tết. Cụ Chánh liền
nháy mắt ông Từ Hòe. Ông này hiểu ý liền chạy vào nhà bếp rồi chạy ra bá
cáo:
Mọi năm khi cha đến thì chúng con mời Cha ăm cơm tết, nhưng hôm
nay bữa ăn đã xong rồi, con xin phép gói biếu Cha một đặc sản tết để tối
nay cha hâm nóng làm bữa ăn tối nha. Cha Paolo gật đầu cám ơn và hỏi
thêm: Có phải ông gói cho tôi bánh chưng không? Ông cha già này biết rõ
chúng tôi như vậy đó các cụ ạ.
Và
nước trà tươi được đem ra. Lần đầu tiên ông được nếm mùi trà tươi kiểu
Việt Nam thì thích lắm. Và chúng tôi tiếp tục nói chuyện. Chúng tôi hỏi
ông đủ thứ liên quan tới nhà thờ, tới giáo xứ, tới công tác thăm viếng
bệnh nhân hằng ngày của ông. Ông Từ Hòe tỏ ra sung sướng nhất vì lâu lắm
mới được gặp người bạn già thân yêu này.
Chính ông Từ Hòe và gia đình
Cụ Chánh đã được nhà thờ Cha Paolo đứng ra bảo trợ từ trại tỵ nạn ĐNA và
giúp định cư ở Toronto hồi năm 1980. Ông Từ Hòe nói với Cha Paolo: Con
sắp về miền tây, xin Cha cho con một lời khuyên để làm hành trang mang
về. Cha Paolo nói ngay:
Tôi
mới nói như thế này trong bài giảng chủ nhật vừa qua tại nhà thờ. Trong
bài Phúc Âm, Chúa dạy chúng ta đừng xét đoán anh em mình theo bề ngoài,
bởi vì:
- có những người ăn mặc sang trọng phú quý mà tâm hồn rất hèn hạ nghèo nàn
- có những người nói năng lưu loát ngọt nào nhưng tâm hồn độc ác và rỗng tuếch
- có những người cho mình là đạo đức thánh thiện nhưng thực ra là người rất xấu xa tội lỗi.
Nói
đến đây xong, Cha Paolo nhìn cả làng rồi vừa cười vừa thưa: Xin hết bài
giảng. Nhân dịp lễ Tết Việt Nam, tôi và giáo xứ xin kính chúc các ông
bà một năm mới mọi phước lành, nhất là không bao giờ kết án một ai theo
vẻ bên ngoài.
Dân làng đều vỗ tay nồng nhiệt và đến bắt tay ông rất chặt
vì Cha nói đúng quá. Trước khi ra về, ông Cha còn nói thêm câu này: Ở
Canada ai cũng thừa ăn, thừa mặc, thừa thuốc men, nhưng thiếu 2 thứ này:
Thiếu đi bộ và thiếu tiếng cười. Xin kính chúc năm mới ai cũng đi bộ
nhiều và cười nhiều.
Tôi xin chuyển lời chúc này của Cha Paolo tới tất cả các cụ trên thế giới.
Trà Lũ
No comments:
Post a Comment