Friday, February 1, 2013

TIN TỨC GẦN XA

 




Mỹ tái khẳng định: Úc là trụ cột chính trong chiến lược châu Á

Đô đốc Mỹ Samuel Locklear ( 29/08/2011)
Đô đốc Mỹ Samuel Locklear ( 29/08/2011)
REUTERS

Đức Tâm
Trong cuộc họp báo qua điện thoại, ngày hôm nay, 01/02/2013, từ trụ sở Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ, (PACOM) ở Hawai, đô đốc Samuel Locklear tuyên bố, Úc là «trụ cột chính » trong chiến lược của Mỹ tại châu Á cũng như trong việc đánh giá lại chiến lược quân sự của Hoa Kỳ trong khu vực này. Theo chỉ huy PACOM, Ấn Độ Dương – phía tây nước Úc – là một khu vực chiến lược quan trọng không thể tách rời vùng châu Á-Thái Bình Dương.

Đô đốc Locklear cho biết, khi đánh giá quan hệ với Úc, Hoa Kỳ cho rằng đó là một đồng minh rất tốt và rất gần gũi và trong quá khứ, Úc luôn luôn ủng hộ Hoa Kỳ. Ông hy vọng là mối quan hệ tốt đẹp này sẽ tiếp tục trong tương lai.
Vào tháng 11/2012, hai nước thông báo là quân đội Mỹ lắp đặt tại Úc một trạm ra đa, một trạm quan sát không gian, củng cố quân số thủy quân lục chiến tại căn cứ Darwin.
Vào thời điểm đó, bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã nói đến « một bước nhẩy vọt lớn trong quan hệ hợp tác song phương » và « một đường biên giới mới, quan trọng » trong việc tái cân bằng sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ trong khu vực.
Châu Á đã trở thành một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Vào tháng 10 năm ngoái, hạm trưởng chỉ huy hàng không mẫu hạm USS George Washington, đã khẳng định rằng sự hiện diện của Hoa Kỳ tại châu Á là nhằm bảo đảm quyền tự do lưu thông trên các vùng biển đang có tranh chấp về chủ quyền giữa nhiều quốc gia.
Trước thái độ hung hăng của Trung Quốc trong các hồ sơ tranh chấp chủ quyền biển đảo, Nhật Bản, đồng minh của Hoa Kỳ, cũng tìm cách củng cố quan hệ với Úc.
Bộ Ngoại giao Nhật Bản thông báo là kể từ hôm qua, 31/01, hiệp định hợp tác giữa lực lượng phòng vệ Nhật Bản (quân đội Nhật Bản) và quân đội Úc bắt đầu có hiệu lực. Theo Tokyo, Úc là « đối tác chiến lược » có cùng các giá trị và lợi ích như Nhật Bản.
tags: Châu Á - Chính trị - Hoa Kỳ - Quân sự - Quốc tế - Úc 
 http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20130201-uc-la-tru-cot-chinh-trong-chien-luoc-chau-a-cua-hoa-ky
  
 
Thứ năm 31 Tháng Giêng 2013
Nhật Bản: Chiến lược 'an ninh dân chủ kim cương' đối phó với Trung Quốc
Thủ tướng Shinzo Abe phát biểu trước Quốc Hội Nhật Bản.
Thủ tướng Shinzo Abe phát biểu trước Quốc Hội Nhật Bản.
Reuters
Lưu Tường Quang / Tú Anh
Sau chiến lược « tái định vị » của Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương và « hướng đông » của Ấn Độ, Nhật Bản thông báo chính sách « hướng nam » mà thủ tướng Shinzo Abe gọi là « Chiến lược An ninh Dân chủ Kim cương » tăng cường vòng vây án ngữ Trung Quốc.
Sau nửa thế kỷ tự kềm trong chính sách hiếu hòa, Nhật Bản bắt đầu chuyển mình để đảm nhận vai trò của một đại cường kinh tế và quân sự. Trong thông điệp 31/01/2013 gửi Quốc hội, tân thủ tướng Shinzo Abe thông báo ông muốn « tu chính bản Hiến pháp » được soạn thảo dưới sức ép của Hoa Kỳ sau đệ nhị thế chiến, ngăn cấm Nhật Bản vĩnh viễn không được sử dụng đến chiến tranh.
Tân thủ tướng Nhật mong muốn xây dựng một chiến lược địa chính trị mới « hướng nam » và được đặt tên là « An ninh Dân chủ Kim cương » liên kết tất cả những quốc gia từ Ấn Độ kéo dài xuống Đông Nam Á và đến tận Úc Tất cả những quốc gia này có cùng một mối quan ngại chung là bị sức mạnh quân sự của Trung Quốc đe dọa.
Để có thể chủ động trong thế phân tranh Washington-Bắc Kinh, chiến lược « an ninh dân chủ kim cương » được Tokyo xây dựng với bốn quốc gia dân chủ trụ cột là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ và Úc. Tuy không nói ra, nhưng đối tượng nằm trong tầm nhắm của vòng đai này là Trung Quốc
Chỉ trong vòng một tháng cầm quyền, thủ tướng Nhật liên tục có một loạt động thái chinh phục cảm tình các quốc gia trong vùng Thái Bình Dương từ Úc , Ấn, Indonesia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Miến Điện và Việt Nam.
Đầu tháng giêng, thủ tướng Nhật chọn Hà Nội để thăm viếng đầu tiên, và sau đó sang Thái Lan và Indonesia. Tại Jakarta, ông thông báo « 5 điểm cơ bản chỉ đạo bang giao ». Cùng lúc đó, phó thủ tướng Taro Aso sang Miến Điện và ngoại trưởng Fumio Kishida đi Úc, Brunei , Philippines và Singapore.
Giới phân tích quốc tế gọi đây là chiến lược « định vị hướng nam ». Trong bài báo cùng tên trên AsiaTimes, nhà phân tích Richard Javal Heydarian nhấn mạnh về một chuổi sự kiện cụ thể : Tokyo đang được tăng cường quan hệ quân sự với Washington, gia tăng ngân sách quốc phòng, hào phóng cung cấp 12 tàu chiến và 10 tàu đổ bộ cho Philippines, xem xét khả năng bán tầu ngầm tối tân Soryu cho Úc và Việt nam.
Vì sao chiến lược « trỗi dậy » của Nhật Bản được đặt tên là « dân chủ kim cương » ?
Trong thế trận đối phó với Trung Quốc, phải chăng đây là một cơ hội cho Đông Nam Á và Việt Nam ?
Nhà báo Lưu Tường Quang từ Sydney
 
31/01/2013
 
 
RFI đặt câu hỏi với nhà phân tích Lưu Tường Quang từ Sydney.
« Chính sách an ninh dân chủ kim cương có thể coi đó là phản ứng chiến lược của Nhật Bản đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc đặc biệt là về quân sự đã trở thành một mối đe dọa cho nhiều nước trong vùng kể cả Nhật Bản và Việt Nam. Trong những năm cuối thế kỷ 20 thì Nhật Bản cũng trỗi dậy nhưng sự trỗi dậy hòa bình của Nhật không đem lại căng thẳng trong vùng. Trái lại, vào đầu thế kỷ 21, sự trỗi dậy của Trung Quốc về kinh tế và quân sự tạo ra căng thẳng đến mức Tổng thống Obama đã thực hiện chính sách «tái định vị » tại châu Á Thái Bình dương và Ấn Độ đã theo đuổi một cách tích cực hơn cái chính sách gọi là « Hướng Đông ». Bây giờ có thêm chính sách mới từ Nhật Bản là « chính sách kim cương về an ninh và dân chủ ». Điều này cho thấy lực đối trọng từ Hoa Kỳ, Nhật và Ấn Độ đã bắt đầu hình thành…
Ông Shinzo Abe đã trình bày khái niệm « an ninh dân chủ kim cương » lần đầu tiên vào năm 2007 khi ông đi thăm quốc hội Ấn Độ với tư cách thủ tướng Nhật. Ông trình bày khái niệm về sự giao thoa giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình dương mà ông cho rằng có nhiều điểm chung về hòa bình, ổn định, tự do lưu thông hàng hải. Nhưng ông cũng lập luận là khi Trung Quốc coi 85% Biển Đông là « đại hồ » của Trung Quốc thì điều này gây tai hại cho giao thương hàng hải. Đến tháng 12/2012, trước bầu cử quốc hội tại Nhật, ông Shinzo Abe đã phổ biến bài tham luận của ông dưới cái nhan đề « An ninh Dân chủ Kim cương » tại châu Á.
Trong cốt lõi ông nói rằng thái độ xác quyết của Trung Quốc tại biển Hoa Đông và Hoa Nam đã tạo ra cái « ưu tiên » cho chính sách ngoại giao của Nhật Bản và Nhật Bản phải mở rộng tầm nhìn chiến lược . Cũng theo ông Abe, Nhật Bản là một cường quốc hàng hải và dân chủ trưởng thành nên cái sự lựa chọn chiến lược của Nhật cũng phản ảnh thực tế đó : bốn nước Úc Ấn Mỹ và Nhật hợp thành một chuổi kim cương bảo vệ tài sản chung của nhân loại, bảo vệ tự do giao thông hàng hải trong khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương…
Thật ra cái khung hợp tác chiến lược đã được thực hiện từ lâu ở cấp tam cường Mỹ-Nhật-Úc và ở cấp song phương với các hiệp ước an ninh chung giữa Mỹ- Nhật hay Mỹ-Úc …do vậy chiến lược mới sẽ được hình thành nhanh chóng…
Tháng Giêng 2013, trong chuyến công du Việt Nam, Thái Lan và Indonesia , thủ tướng Shinzo Abe trình bày tại Indonesia 5 nguyên tắc gọi là Hướng dẫn chỉ đạo bang giao giữa Nhật Bản và các quốc gia trong vùng mà nguyên tắc thứ nhất là « quý trọng những giá trị đại đồng về dân chủ và nhân quyền », thứ hai là « coi trọng tự do thông thương hàng hải », thứ ba là « tạo một hệ thống phát triển kinh tế và thương mại chung », thứ tư là « duy trì phát triển truyền thống văn hóa châu Á và thứ năm là « trao đổi giới trẻ ». Năm điểm này không gây vấn đề gì (cho các nước Đông Nam Á ) trừ điểm thứ nhất « tôn trọng dân chủ nhân quyền » có thể gây ra những khó khăn giữa Tokyo và Hà Nội…. »
 
 
 Vì sao thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không bị mất chức?
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng phát biểu trước Quốc hội, 22/10/2012
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng phát biểu trước Quốc hội, 22/10/2012
REUTERS

RFI
Chế độ độc đảng lãnh đạo và tính chất “cùng hội cùng thuyền” đã giúp ông Nguyễn Tấn Dũng giữ được chiếc ghế thủ tướng. Có thể tóm tắt như vậy các nhận định của giáo sư Carlyle A. Thayer, để trả lời cho câu hỏi nêu trên.

Hội nghị Trung ương 6 của đảng Cộng sản Việt Nam, sau 15 ngày họp kín, bế mạc ngày 15/10 vừa qua, và Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định không kỷ luật Bộ Chính Trị và “một đồng chí trong Bộ Chính trị”.
Đồng chí” này hay như lời chủ tịch nước Trương Tấn Sang “đồng chí X”, không ai khác chính là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cho dù ông đã phạm nhiều sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, để cho nạn tham nhũng hoành hành. Phát biểu trước Quốc hội Việt Nam ngày 22/10/2012, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã thừa nhận trách nhiệm của mình đối với những sai lầm, khuyết điểm này.
Thế nhưng, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không bị mất chức. Tổng bí thư Đảng Nguyễn Phú Trọng giải thích là Ban Chấp hành Trung ương đã “cân nhắc toàn diện các mặt ở thời điểm hiện nay và đi đến quyết định không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị; và yêu cầu Bộ Chính trị có biện pháp tích cực khắc phục, sửa chữa khuyết điểm; không để các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá”.
Giới quan sát có những lý giải khác nhau.
Ngày 19/10 vừa qua, giáo sư Carlyle A. Thayer, chuyên gia về Việt Nam, thuộc Học viện Quốc phòng Úc, đưa ra một số nhận định. Theo ông, một số nhà phân tích đã ngạc nhiên là ông Nguyễn Tấn Dũng không bị cách chức thủ tướng. Họ đã nhầm lẫn vai trò thủ tướng trong chính thể dân chủ tự do với vai trò thủ tướng trong chế độ độc đảng lãnh đạo.
Ông Nguyễn Tấn Dũng vừa là thủ tướng vừa là “một đồng chí ủy viên Bộ Chính trị”. Ông có trách nhiệm cá nhân đối với các thành viên chính phủ và những tổ chức dưới quyền của ông. Nhưng ông cũng là ủy viên Bộ Chính trị, một định chế ra quyết định tập thể. Các phương tiện truyền thông chỉ tập trung chú ý đến vai trò thủ tướng của ông và không chú ý tới vị trí đầy ảnh hưởng của ông, người đứng thứ tư trong Bộ Chính trị.
Sau khi điểm lại những sai lầm, thất bại của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, câu hỏi đặt ra là tại sao ông lại không bị cách chức trong Hội nghị Trung ương 6 vừa qua ? Theo giáo sư C. Thayer, câu trả lời liên quan đến thực tế phe phái chính trị trong đảng Cộng sản Việt Nam. Nhìn trong tổng thế, Ban Chấp hành Trung ương bao gồm 4 nhóm khác nhau : Các ủy viên làm việc trong Đảng ở cấp Trung ương (19%), các ủy viên làm việc trong bộ máy Nhà nước ở cấp Trung ương (23,5%), các ủy viên làm việc ở cấp tỉnh hoặc địa phương (47%) và các ủy viên thuộc quân đội (10,5%). Mỗi nhóm này có lợi ích riêng của mình. Cho dù trong mỗi nhóm không có sự đồng nhất về chính trị, nhưng rõ ràng là ông Nguyễn Tấn Dũng đã có đủ sự ủng hộ ở cấp Nhà nước và tỉnh, địa phương để làm thất bại mọi ý đồ kỷ luật ông.
Giáo sư C.Thayer nhấn mạnh: Ông Nguyễn Tấn Dũng không chỉ là thủ tướng, ông còn là một “đồng chí ủy viên Bộ Chính trị”. Tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế đã làm cho văn phòng thủ tướng ngày càng có nhiều quyền lực, vượt lên trên cả Đảng. Điều này dẫn đến sự hình thành một mạng lưới bè phái, thân hữu, được hưởng các thành quả của sự phát triển kinh tế cũng như sự buông thả trong việc giám sát các chính sách của ông Nguyễn Tấn Dũng. Thế nhưng, “các đồng chí khác trong Bộ Chính trị” cũng được hưởng như vậy. Rõ ràng là họ, gia đình họ và những mạng lưới thân hữu của họ đều hưởng lợi từ mô hình phát triển “kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Do vậy, giáo sư C.Thayer cho rằng, mặc dù có những sai lầm, khuyết điểm, ông Dũng không bị mất chức hoặc buộc phải từ chức, bởi vì điều này sẽ gây ra những bất ổn chính trị trong một nước Việt Nam độc đảng lãnh đạo.
Nếu ông Nguyễn Tấn Dũng phải từ bỏ chức thủ tướng và ủy viên Bộ Chính trị, thì điều gì sẽ xẩy ra đối với các nhóm ủng hộ ông ở cấp Trung ương Đảng, Nhà nước và các chính quyền địa phương ?
Mặt khác, Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định tái lập ban Kinh tế Trung ương cho phép Đảng có thể nắm bắt, theo dõi những dữ liệu kinh tế vĩ mô và xây dựng chính sách kinh tế trong tương lai.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuy tránh được áp lực buộc ông từ chức, nhưng từ nay sẽ không thể tự do hành động. Ban Chấp hành Trung ương đã đề ra một lịch trình cải cách mà ông Dũng và Bộ Chính trị phải thực hiện. Đặc quyền của ông Dũng sẽ bị giảm bớt.
Ban Chấp hành Trung ương đã giao trách nhiệm cho Bộ Chính trị giải quyết vấn đề ổn định kinh tế xã hội, tiến hành cải cách các doanh nghiệp Nhà nước, lĩnh vực ngân hàng cũng như lựa chọn ban lãnh đạo tương lai trong Đại hội Đảng toàn quốc lần tới. Nói một cách khác, thủ tướng Dũng sẽ được chỉ đạo để nỗ lực giải quyết những vấn đề này. Quyền lực của ông sẽ bị hạn chế trong quá trình thực hiện chương trình cải cách.
Ban Chấp hành Trung ương sẽ xem xét, đánh giá về chương trình cải cách. Nếu mọi việc diễn ra bình thường, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương giữa kỳ sẽ diễn ra vào dịp Tết Nguyên Đán 2013 (từ 9 đến 12/02/2013). Ông Nguyễn Tấn Dũng có thể không bị nêu tên, nhưng ông nằm trong tầm ngắm của những người muốn gạt bỏ những lãng phí kinh tế, một sản phẩm phụ của quá trình tăng trưởng kinh tế cao. Thủ tướng Dũng sẽ chịu áp lực từ nay cho đến khi có Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, để chứng minh là có những tiến bộ trong việc cải cách các doanh nghiệp Nhà nước, cải cách lĩnh vực ngân hàng, chấm dứt ảnh hưởng của gia đình và các mạng lưới thân hữu, bè phái, vốn tung hoành ngang dọc cho đến nay.
Sau Hội nghị Trung ương 6, không một phe phái nào giành thắng lợi rõ rệt. Các đấu đá chính trị có thể còn tiếp tục vì mỗi phe đều tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình trong quá trình thực hiện cải cách. 2013 là năm giữa hai kỳ Đại hội toàn quốc (Đại hội 11 và 12). Bộ Chính trị sẽ lập nhiều tiểu ban soạn thảo các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và bắt đầu lựa chọn nhân sự cho các cơ quan lãnh đạo cao cấp của Đảng. Đấy sẽ là dịp các phe phái và những lãnh đạo tương lai của Đảng lại đấu đá, tác động đến chính sách và tranh giành ghế trong các cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng.
tags: Chính trị - Chuyên mục trên mạng - Việt Nam
 http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20121023-vi-sao-thu-tuong-nguyen-tan-dung-khong-bi-mat-chuc
 Tân ngoại trưởng Mỹ dưới bóng của Hillary Clinton
Tân ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry (trái) và ngoại trưởng mãn nhiệm Hillary Clinton
Tân ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry (trái) và ngoại trưởng mãn nhiệm Hillary Clinton
Reuters

Trọng Thành
Libération hôm nay 31/01/2013, trong bài viết « Tân ngoại trưởng Mỹ dưới bóng của Hillary », đã phác họa chân dung tân ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry và các thách thức đang chờ đón người kế nhiệm bà Hillary Clinton.

Ông John Kerry nổi tiếng là một người thân Pháp. Thông thạo tiếng Pháp, nhưng sau các kinh nghiệm chính trị, đặc biệt với cuộc tranh cử tổng thống năm 2004 – mà ông là ứng cử viên đảng Dân chủ - John Kerry đã nhận ra một điều là, tại Hoa Kỳ, phẩm chất này có thể bị coi như là một nhược điểm.
Năm 2004, nước Pháp từng bị coi là kẻ phản bội, khi không ủng hộ chiến dịch của Bush tại Irak. Lúc đó, ông John Kerry đã bị chế nhạo với các biệt danh « Monsieur Kerry » hay « Jean Chéri ». Don Evans, bộ trưởng Thương mại Mỹ, bạn của Georg Bush, thậm chí còn châm chích : « Ông ta có vẻ giống người Pháp ».
Libération cho biết, trong những tuần gần đây, sự thân Pháp của John Kerry đã thể hiện qua việc kêu gọi Washington ủng hộ chiến dịch « Serval » của quân đội Pháp tại Mali từ hậu trường – vì ông chưa chính thức nhậm chức. Theo người viết xã luận cho tờ Washington Post Jim Hoagland, thì “Nhà Trắng sẽ dành cho John Kerry nhiều không gian hành động hơn là đối với người tiền nhiệm. Obama thoải mái với Kerry hơn là với ngoai trưởng Clinton, và chắc chắn người đứng đầu Nhà Trắng sẽ giao hồ sơ Cận Đông, đang rất hỗn loạn, cho tân ngoại trưởng. »
Libétation điểm lại lý do khiến tân ngoại trưởng Mỹ trở thành một người có phong cách Pháp. Kerry đã trải qua một phần tuổi thơ tại Châu Âu, nơi cha ông phục vụ trong ngành ngoại giao. Kerry từng học nội trú tại Thụy Sĩ, trước khi theo học tại một trường tư thục lừng danh ở Massachusetts (Anh Quốc). Phong cách khá quý phái của ngoại trưởng Mỹ tương lai nhắc đến việc ông là hậu duệ của hai gia tộc Mỹ nổi tiếng, dòng họ Forbes và dòng họ Winthrop. Ngược lại, gia tài rất lớn của ông lại đến từ hai cuộc hôn nhân, nhất là cuộc hôn nhân thứ hai với bà Teresa Heinz, người thừa kế tập đoàn ketchup.
Xuất thân khá giả, John Kerry có tham vọng trở thành lãnh đạo nước Mỹ ngay từ khi còn nhỏ. Mẫu mực của tân ngoại trưởng Mỹ là cố tổng thống John Fitzgerald Kennedy (còn gọi là JFK). Theo tấm gương của JFK, John Kerry nhập ngũ, phục vụ trong hải quân và đi Việt Nam chiến đấu, với cương vị thuyền trưởng tầu tuần tra trên sông Mêkông. Chỉ ở Việt Nam trong bốn tháng, Kerry trở về Mỹ mang theo suốt đời một lý tưởng. Đó là thái độ chống lại mọi cuộc chiến « vô nghĩa » đe dọa mạng sống của thanh niên Mỹ. Kinh nghiệm Việt Nam của Kerry, cũng giống như Chuk Hagel – bộ trưởng Quốc phòng tương lai – là tương hợp với mối bận tâm hiện nay của Obama : Đưa quân Mỹ rút khỏi các cuộc chiến tại Afghanistan và Cận Đông.
Tuy nhiên, theo nhận định của Libération, quan điểm của nhà chính trị John Kerry không phải hoàn toàn là nhất quán trong chính vấn đề này. Nếu như năm 1991, ông bỏ phiếu chống cuộc can thiệp của Mỹ giải phóng Koweit khỏi Irak, thì năm 2002, ông lại ủng hộ cuộc chiến tại Irak, để rồi phê phán nó một cách quyết liệt sau đó. Simon Serfaty - một chuyên gia về chính trị quốc tế tại Center for Strategic and International Studies ở Washington - đưa ra nhận xét : « Kerry giống một diễn viên xiếc hơn là một lãnh đạo bộ Ngoại giao ».
Bốn năm hoạt động trên cương vị ngoại trưởng với các chuyến đi như thoi dệt, bà Hillary Clinton đã « để lại » cho người kế nhiệm một cục diện ngoại giao rối ren và nhiều nguy cơ bùng nổ hơn là vào năm 2009. Đơn cử : nội chiến ở Syria, Ai Cập bên bờ hỗn loạn, Iran chỉ còn vài tháng nữa là có bom hạt nhân, chiến tranh tại Mali, quan hệ với Nga xuống cấp và các căng thẳng mới giữa Trung Quốc và các nước láng giềng…
Còn theo một chuyên gia chính trị quốc tế khác, Kerry sẽ chú ý đến khu vực Cận Đông, tương đối bị bỏ rơi dưới thời Clinton, cụ thể là thử tái khởi động lại tiến trình hòa bình Israel – Palestine và tìm cách mang lại một sự nhất quán nhiều hơn trong chính sách của Mỹ đối với các phong trào Mùa Xuân Ả Rập.
Pháp : Thông tri về mang thai hộ gây tranh luận
Một chủ đề chính trên trang nhất nhiều nhật báo Pháp là thông tri về việc mang thai hộ. Le Figaro chạy tựa « Mẹ mang thai hộ : Thông tri Taubira gây bão tố ». « Mang thai hộ thành chủ đề tranh luận » là tựa trang nhất La Croix.
Le Figaro cho biết, thông tri của bộ trưởng Tư pháp Christiane Taubira về việc công nhận quốc tịch Pháp đối với các em nhỏ do mẹ mang thai hộ sinh ra ở nước ngoài, đã gây ra một phản ứng dữ dội từ phía đảng đối lập UMP. Phe phản đối dự luật về hôn nhân đồng tính và quyền nhận con nuôi của các cặp đồng giới tính, phản đối quyết liệt thông tri này, vì cho rằng : Đây là một văn bản pháp lý dọn đường trước cho việc hợp pháp hóa quyền của các cặp nữ đồng tính có con với sự hỗ trợ của y học và các cặp nam đồng tính có khả năng có con thông qua mẹ mang thai hộ. Nhiều lãnh đạo đảng UMP lên tiếng đòi hủy bỏ thông tri này.
Để hiểu hơn về thông tri Taubira, liên quan đến việc mang thai hộ, Libération có bài « Mang thai hộ : hãy đi đi, (gần như) không có gì để xem cả ! ». Trả lời cho câu hỏi : « Liệu thông tri Taubira có phải là một trái bom không ? », Libération giải thích thông tri này chỉ nhắc lại một luật đã có. Đó là một đứa trẻ sinh là người Pháp, nếu như có bố hoặc mẹ là người Pháp. Nội dung của thông tri không phải là công nhận việc mang thai hộ, mà là nhắc lại yêu cầu thực tế của một số trẻ em sinh ra ở nước ngoài, có hoặc cha, hoặc mẹ là người Pháp, nhưng không được công nhận quốc tịch.
Theo ông Alexandre Urwicz, đồng chủ tịch Hội các gia đình đồng tính (AFDH), có khoảng 500 đến 800 trẻ em con cái người Pháp ở vào tình trạng này. Đây là các em nhỏ do mẹ mang thai hộ sinh ra ở nước ngoài, vì người mẹ « thật » mắc các bệnh ở bộ phận tử cung, nên không có khả năng thụ thai.
Bộ Tư pháp Pháp nhắc lại, việc mang thai hộ bị cấm ở Pháp, thông tri không thay đổi quy định này, nên đây không phải là chủ đề tranh luận. Trong khi đó, ông Alexandre Urwicz, đồng chủ tịch Hội các gia đình đồng tính thì nhấn mạnh đến sự ngạc nhiên của ông trước thái độ thụ động của Pháp trong vấn đề công nhận quốc tịch đối với các trẻ em này, khi mà nhiều nước Châu Âu khác, cũng không thừa nhận mang thai hộ, như Đức, Tây Ban Nha, vẫn dễ dàng cấp cho các em bé trong trường hợp tương tự một chứng nhận quốc tịch.
Thảm họa nhân đạo chưa từng thấy tại Syria có thể xảy ra
Về thời sự quốc tế, Le Monde cảnh báo tình trạng khủng hoảng nhân đạo tại các vùng nổi dậy tại Syria qua bài viết « Syria : Thảm họa nhân đạo nhãn tiền với quy mô lớn chưa từng thấy », với nhận định sự hỗn loạn tại miền Bắc khiến đời sống của người tỵ nạn trở nên hết sức khó khăn và cản trở hoạt động của các tổ chức phi chính phủ.
Phóng sự của Le Monde nhan đề « Người tỵ nạn Syria trốn chạy khỏi các trận đánh, bị bỏ mặc », đưa độc giả đến với một trong các vùng tỵ nạn được coi là lý tưởng ở Syria : làng Atmé, với khoảng 6.000 dân trước khi xảy ra nội chiến. Nằm lọt giữa hai đường biên giới với Thổ Nhĩ Kỹ, ngôi làng nhỏ cực bắc Syria này gần như không hề bị không quân Syria tấn công, ngoại trừ một lần duy nhất vào cuối năm ngoái. Đây cũng là cánh cửa mở ra cho người tỵ nạn chạy sang nước Thổ. Chính vì vậy, Atmé đã thu hút rất nhiều luồng người tỵ nạn.
Tuy nhiên, Ankara đã quyết định đóng cửa biên giới tại khu vực này vào tháng 8/2012, khiến dòng người tỵ nạn tắc lại. Hiện tại có đến 17.000 người tỵ nạn khắp nơi đổ về đây. Cứ tốc độ thế này, đến hè tới, dự kiến sẽ có khoảng 50.000 người tỵ nạn tại Atmé.
Điều kiện sống và vệ sinh trở nên ngày càng xấu. Bệnh xá ghi nhận, riêng trong tháng trước đã có 1.100 ca bệnh viêm gan B. 31/12, hỏa hoạn khiến 7 người chết. Khi trời mưa, các lều ngập nước và có thể bị sập bất cứ lúc nào.
Một tổ chức nhân đạo lớn làm việc tại đây cho biết, họ rất ngạc nhiên, khi không hề thấy ai làm nhiệm vụ ghi nhận thông tin về những người tỵ nạn. Đồ cứu trợ thì có nhiều, nhưng việc phân phối tiến hành không có tổ chức. Nguyên nhân của thực trạng vô tổ chức này là : các cơ quan Liên Hiệp Quốc đều nằm ở bên kia bên giới và không cử người sang, vì chính quyền Damas không chấp nhận cho Liên Hiệp Quốc tham gia các hoạt động nhân đạo các vùng thuộc kiểm soát của quân nổi dậy. Giám đốc trại ty nạn Atmé tuyên bố, nếu tình hình này kéo dài, thì chắc chắn sẽ có nhiều bệnh tật và các rối loạn.
Tình trạng tại các trại tỵ nạn khác cũng ngày càng trở nên tồi tệ. Các trại tỵ nạn thường trở thành hậu cứ của lực lượng Quân đội Syria Tự do. Đây là nơi các binh sĩ quân nổi dậy gửi gắm người thân, tới nghỉ ngơi hoặc tìm đồ tiếp viện.
Cũng trong hồ sơ Syria trên Le Monde, có bài « Đặc phái viên Liên Hiệp Quốc về Syria Lakhdar Brahimi hối thúc Hội đồng Bảo an hành động khẩn cấp ». « Syria : các nước vùng Vịnh rút tiền ra » là hàng tựa một cụm tranh cho đề tài Syria trên Libération.
Liên hoan tranh hoạt hình Angoulême – Pháp
Về văn hóa, liên hoan tranh hoạt hình – BD - Angoulême lần thứ 40, miền nam nước Pháp, là chủ đề được nhiều báo Pháp quan tâm. Le Figaro nhận xét : « với khoảng 220.000 du khách hàng năm, bảo tàng BD tuyệt vời, bảy trường học cống hiến cho môn nghệ thuật thứ 9, cũng như nhiều trò chơi video, Angoulême đã biến cuộc hội ngộ của những người hâm mộ thành một cơ hội cho một cuộc cách mạng văn hóa ».
Libération thì dành cho chúng ta một số ra đặc biệt, được minh họa hoàn toàn bằng các tranh BD.
Triển lãm rô bốt tại Paris
Còn tại Paris, qua bài « Rô bốt tốt, rô bốt hung bạo và rô bốt bất lương », Le Monde giới thiệu về cuộc triển lãm « Và con người… đã tạo ra rô bốt » tại Bảo tàng nghệ thuật và nghề nghiệp (Musée des arts et métiers), từ tháng 11/2012 cho đến 03/03/2013, đặc biệt hướng đến các công chúng nhỏ tuổi.
Cho đến nay, triển lãm đã tiếp đón gần 50.000 khách thăm. Theo giám đốc bảo tảng, đây là một triển lãm thành công nhất, kể từ sau triển lãm « Muséogames », dành cho các trò chơi video cách đây hai năm.
Nhiều loại rô bốt được trưng bày ở đây, từ các người máy trong lĩnh vực quân sự, đến rô bốt phục vụ y học… Cuộc trưng bày còn cho người xem nhìn lại lịch sử phát triển của rô bốt, với những nhiệm vụ nguy hiểm và phức tạp mà chúng có thể làm thay cho người. Tuy nhiên ngày càng xuất hiện nhiều hơn các rô bốt trong cuộc sống hàng ngày, như : rô bốt đọc sách, rô bốt diễn viên, rô bốt giúp trẻ học bài…
Một trong các chủ đề chính của cuộc triển lãm gợi nhiều suy nghĩ, đó là tương lai nào cho các rô bốt. Làm việc thay con người trong các công việc khó khăn và nặng nhọc, liệu rô bốt có thể thay thế con người trong các hoạt động xã hội thông thường khác hay không ?
Rời khỏi bảo tàng, một trong những điều mà các du khách nhí có thể nhận ra là, có rất nhiều rô bốt tài giỏi, nhưng sức mạnh của chúng không phải là không có vấn đề. Hiểu được các sức mạnh và những giới hạn của rô bốt là « một sự nhập môn vào triết học » đầy ý nghĩa với một du khách nhỏ.

 
 

No comments: