Sunday, February 3, 2013

Th.S NGUYỄN BÁ SINH * HỒI KÝ



                            

GẶP MAY


    
Hồi Ký của Ths. Nguyễn Bá Sinh

 Năm 1952, khi trường Thiếu sinh quân liên khu 4 giải thể, tôi từ Hà tĩnh trở về  học tiếp lớp 6 ở trường phổ thông cấp 2 Quảng trạch. Quân Pháp đang đồn trú ở Thanh khê, Ba Đồn, hằng ngày ca nô chở đầy quân lính ngược dòng sông Gianh lên càn quét, máy bay ban ngày oanh tạc khắp huyện. Quê tôi là vùng du kích tranh chấp giữa Viêt minh và quân đội Pháp.

Cả huyện Quảng trạch chỉ có một trường cấp 2 đóng ở vùng núi làng Tùng Chất và Quảng Châu. Chúng tôi phải mang ngô khoai gạo ở trọ, tự thổi nấu để ăn học, 3 anh em . 

Tôi, Nguyễn thiên Thụ và Đinh Hữu Hồ .chúng tôi đều là bà con họ hàng sống với nhau từ bé ở quê nên rất hiểu nhau và thương yêu nhau. Hàng ngày phải ra chợ mua thức ăn : nước mắm,cá mắm và dưa muối ở hàng Bà Khôi (thực ra tôi không biết tên bà, nhưng bà là mẹ anh Khôi học trên tôi một lớp nên gọi  là bà Khôi (tên con)) cho tiện. Mua nhiều lần hóa ra quen và biết là bạn học của con nên bà bán rẻ hơn và đôi khi mua chịu.
Lớp học chúng tôi là một cái lán lợp tranh lụp xụp dưới chân đồi, “ bốn mùa không liếp che ! gió về ” .Bàn ghế là mấy thanh củi bằng bắp chân kê lên ,trên đặt mấy tấm ván làm bàn,còn ghế ngồi thì người ta buộc cây tre dài hoặc thanh củi.
Phải học ban đêm để tránh máy bay (7 giờ tối đên độ 11 giờ đêm) chiếu sáng bằng đèn dầu lờ mờ. Học sinh có 45-50 người ,lứa tuổi chênh lệch nhau khá nhiều. Có anh đến 30 tuổi , có vợ và con.

 Anh Pham Quắc làm chủ tich xã vẫn học cùng lớp .Trong lớp có 2 nữ sinh : chị Hiến đã ngoài 20, Huê Mỹ tuổi 16 cả hai đều ở làng Cảnh Dương. Chúng tôi nhỏ tuổi nên được thầy bố trí ngồi gần con gái .Bàn trước là chị Hiến, Huê Mỹ và Trinh (cận thị), phía sau đó là Thụ (ngồi sau chi Hiến) , Hồ ngồi giữa và tôi ngồi phía ngoài.
Cả tôi và Thụ đều học giỏi (đứng đầu lớp), Hồ thì thông minh nhưng phải tính hơi lười, khi làm bài hay quay cóp. Thụ nó ghét có lần nó cho Hồ bớp tai. Nên Hồ đổi chỗ cho tôi vào ngồi giữa, như vậy là tôi ngồi phía sau lưng Huê Mỹ.
Qua trò chuyện tôi biết Mỹ là con gái Bác Nhượng cùng công tác với cha tôi ở Uỷ ban Kháng chiến hành chính huyện năm 1948-1949. Mỹ là một cô gái dáng cao cao, có nước da trắng hồng, đôi mắt sáng hiền từ , ăn nói nhẹ nhàng và dễ thương.
Tuy học cùng lớp nhưng ít trò chuyện với Mỹ, tối đến lớp học đến khuya đói bụng và thì giờ đâu mà nói chuyện.Thỉnh thoảng Mỹ có nhờ tôi làm giúp một số bài toán khó.
Đầu năm 1954 , chúng tôi đã lên học lớp 7, máy bay Pháp ném bom xuống làng Pháp Kệ giết chết thầy Lương duy Khánh dạy văn (hiệu trưởng). Các giáo sư có  thầy Nguyễn Duy Khuyên (dạy sử địa), thầy Hồng dạy toán thì ốm phải đi nằm bệnh viện. Gia đình tôi lại gặp khó khăn nên bỏ học. Mẹ của Mỹ qua một trận ốm nặng và qua đời. Mỹ rồi cũng thôi học.

Sau thôi học tôi trở thành lao động chính trong gia đình : cậu (cha) dì (mẹ kế) đã già yếu,các em Đình, Trinh, Hinh còn bé. Tôi lo việc đồng áng cày bừa, chặt củi, đắp bờ, tát nước, đơm nò mợng để kiếm tôm cá . Cuộc sống tạm tạm ổn.
 Một buổi chiều tôi đi chăn bò ngoài đồng, lúc đó một chiếc máy bay màu trắng bay rất thấp từ biển lao vào , tôi nhìn rõ phi công trong khoang máy, tôi nằm xuống nấp bên bờ ruộng ...theo phản ứng quen thuộc. Nhưng nó không ném bom... mà cũng không bắn ... nó rải từng bó giấy ,trắng xoá khắp cánh đồng... truyền đơn...truyền đơn....Đại ý như sau:
“Hởi quân sỹ Việt Minh . Hiệp định Genève đã ký kết.Quân đội viễn chinh Pháp sẻ ngưng bắn từ hôm nay.Yêu cầu phía VM cũng ngừng bắn để tránh đổ máu ...”
Tôi reo lên : ngừng bắn,ngừng bắn...ngừng bắn ,giặc Pháp sẻ rút hết,nước ta độc lập. Cầm một nắm truyền đơn chạy về nhà khoe với cậu.Cha tôi mừng lắm.Như câu thơ của Ông đã viết năm 1947
 “Độc Lập rồi đây vui sướng nhỉ
Còn non còn nước ,chúng ta còn ”
    Nhưng có ai ngờ ?  Mùa đông đến  : Cải cách ruộng đất. Cách mạng long trời lở đất.
Gia đình tôi tan nát : Cha bị giết một cách dã man. Tôi và Đình bị du kích bắt trói nhiều lần, nhà cửa ruộng vườn bị tịch thu, em phải đi ăn xin và đi ở thuê mỗi đứa một nơi. Cuộc đời thế là hết...Tuyệt vọng !!! Thế là hết .Chấm hết.
        Lo sao cho ngày kiếm được bữa ăn cả 4 anh em không chết đói. Không, không một giây phút nào còn nghĩ đến học hành.
       Thời gian đã trôi đi. Cuối 1956 nghe nói là Cải cách ruộng đất có sai lầm nghiêm trọng.Dư luân dân chúng bàn tán nhiều.Tôi có viết đơn kiện lên Tỉnh uỷ Quảng Bình về viêc giết cha tôi (tỉnh uỷ có trả lời : đang xem xét). Tôi lại viết thư kêu cứu đến chị tôi và anh rể ở Hà nội, chị tôi có gửi cho tôi thư an ủi các em và cho 5 đồng (bằng 12 Kg gạo). Anh rể tôi có cho người về tìm anh em tôi .nhưng không gặp, vì anh em tôi đã li tán.
Tôi lại gửi thư cho chị một lần nữa :nhờ anh chị xin cho tôi đi làm một việc gì (kiếm ăn), nuôi em hoặc đi học. Trong đêm tối đã có một tia sáng yếu ớt. Một hy vọng mong manh !!! 
          Tôi nhớ đến cái học bạ cấp 2 khi thôi học tôi chưa lấy về (hồi ấy không có bằng tốt nghiệp chỉ có học bạ là đủ).
Phải đến trường để nhận học bạ, lúc này trường đã dời về Cảnh Dương gần nhà của Mỹ. Từ làng tôi đến Cảnh dương khoảng 25 Km, đi bộ mất 5-6 giờ. Và tôi quyết định ra đi.

Dậy sớm,xuống Cửa Hác, lên đò sang Ba Đồn. Ghé qua nhà Anh Khương để xin hoặc vay thêm vài đồng để đi đường ,vì trong túi tôi chỉ co 2-3 đ chi đó thôi. Vào nhà,anh Khương nhờ giúp một vài việc : bổ củi ,dọn dẹp đồ đạc.rồi anh bảo ở lại ăn cơm. Anh còn bảo tôi ở thuê trong nhà làm viêc cho anh.
  Tôi chưa trả lời, ăn cơm xong đã trưa, tôi chào anh  ra đi , quên vay tiền. Đi bộ theo quốc lộ1, đường sá lam nham các hố đào phá đường trong kháng chiến san lấp chưa xong. Đường xa, mỏi chân. Qua làng Xuân kiều, Hoà Bình, Mũi Vích rồi đến làng Di lộc,Di Luân , Cầu Roòn đã quá chiều , phải ngủ lại. Bụng đói, mệt lắm. Rẽ phải đi xuống làng Cảnh dương, vào chợ đầu làng, chợ đã gần tan. 
Như định trước tôi cố tìm Bà Khôi để bà “bán hay cho”  cái gì đó ăn qua bữa, ngủ thì sẵn cái lều chợ (không tranh chấp)  đẹp hơn cái lều mà 4 anh em tôi chui rúc cả năm nay. Tìm mãi chẳng thấy bà Khôi đâu cả , tôi thấy lo và buồn .
      Quay ra đầu chợ,trời đã nhá nhem, thì may quá từ đầu dãy hàng xén. Mỹ đang dọn hàng . Ôi ! may quá ! tôi gặp lại Mỹ. Cô nàng bây giờ rắn rỏi hơn. Chiếc áo màu nâu gụ, tôn nước da trắng của nàng. Trên mái tóc còn chiếc vành khăn trắng tang của Mẹ...Mỹ cười,hỏi thăm tôi tình hình từ lúc nghỉ học,thấm thoắt đã 2 năm. Tôi cũng kể sơ qua về hoàn cảnh cơ cực của mình.Mỹ an ủi :

-Mọi việc qua rồi ,thôi Sinh cố gắng lên.

-Sinh ra đây để nhận học bạ cấp 2, đang nhờ xin ra Hà nội đi làm hoăc học.

-Bây giờ đã tối, Sinh theo mình về nhà, ăn cơm tối nghỉ lại. Mỹ sẽ giúp Sinh gặp thầy Võ Tá Ty hiệu trưởng xin lại học bạ.


 Theo sau Mỹ với gánh hàng về nhà. Nhà khá đẹp, cách biển không xa. Gió chiều lồng lộng.Và ở đây lại gặp bà Khôi, người tôi đang tìm. Bây giờ tôi mới biết, sau khi mẹ qua đời bố Mỹ đã làm bạn với bà Khôi.
         Mỹ dọn cơm cho tôi ăn, trong mâm có cá thu, rau và bát nước mắm Cảnh dương.Có bữa cơm ngon trong lúc đói, thật là sung sướng.
    Tối hôm đó Mỹ đưa tôi gặp thầy Ty, nhà thầy ở sát bên cạnh .Thầy Ty đeo kính cận nặng vui vẻ tiếp tôi.
-Thưa thầy em là học sinh lớp 7 năm 1954 em đã học xong học kỳ1 thì nghỉ học.Nay xin thầy cho em nhận học bạ.
-Thầy hỏi họ và tên tôi rồi mở tủ.Từ trong đó thầy lôi ra một chồng học bạ. Không vất vả lắm , quyển học bạ tôi màu nâu đen nhìn thấy ngay. Mừng quá,đó là kết quả 7-8 năm ăn học của tôi đã tìm thấy.
Thầy giở học bạ ra xem, gật đầu , thầy nói :

-Em là học sinh giỏi của trường.

Đêm hôm đó tôi ngủ trên một sập gụ kê ở gian ngoài, mùa hè,gió biển man mát, ăn no , đã nhận học bạ, gặp bạn tốt.Tôi thấy phấn chấn, đỡ buồn.

Nhờ có học bạ tôi đã được nhận thẳng (do anh Nguyên xin)vào học trường Cao đẳng giao thông công chính Hà nội (khoá 8).

Từ đó 5-6 năm sau tôi không gặp lại Mỹ, tôi có hỏi Anh Diệp  người Cảnh dương cùng học ở Hà nôi, được biết Mỹ đã lấy chồng, anh ấy tên là Phượng, đang hoc Đai học ở Moskva. Nghe nói Mỹ đã ra HN học ĐH bách khoa nhưng tôi chưa gặp.

Thời gian cứ trôi đi, mỗi đứa đã trưởng thành và có gia đình riêng. Sự kiên trì và cố gắng của mình đã có kết quả : Tốt nghiệp Đại học, cao học thành thạc sỹ.Từ năm 1971 liên tục được đề bạt tổ trưởng, phó, trưởng phòng, trở thành một cán bộ “hồng thắm chuyên sâu” là phó giám đốc một CôngTy Thiết Kế lớn ở Hà nội.
Trong một buổi hội thảo tiếp thị về máy xây dựng của Cộng hoà liên bang Đức, tôi tham dự với tư cách là khách mời. Các Kỹ sư người Đức giới thiệu nhiều loại máy, công nghệ xây dựng xong, đến mục thảo luận, phát biểu ý kiến của khách.
Tôi  đứng lên chất vấn : một vài tính năng, công suất, tiêu hao nhiên liệu, tôi hỏi tỷ mỷ từng loại (mà tôi đã có kinh nghiệm khi nghiên cứu các máy xây dựng do Nga chế tạo). Không ngờ những câu hỏi được thuyết trình viên và mọi người chú ý.
Giờ nghỉ , một phóng viên báo Đầu tư đến gặp tôi, anh trao cho tôi danh thiếp , hỏi thêm vài chi tiết để viết bài cho báo và hẹn gặp laị tôi .
Nghe tôi nói dọng miền Trung. Anh hỏi
-Anh quê ở Hà tĩnh hay Nghệ An ?
-Tôi quê ở Quảng Bình
-Huyện nào ?
-Quảng trạch
-Trước đây anh học trường nào?
-Trường cấp II Quảng trạch
-Anh có biết cô Mỹ không ?
-Mỹ con ông Nhượng à ?
-Đúng
-Tôi là chồng của Mỹ đây.
-Ồ! anh là Phượng
Nhận ra  chúng tôi cùng quê và  là bạn thân thiết.
Theo địa chỉ, một chiều thứ bảy tôi đến nhà Phượng Mỹ ở làng Thanh Nhàn gần cuối phố Lò Đúc.Vợ chồng Mỹ Phượng rất vui tiếp tôi, bao kỷ niệm tuổi học trò ...thời gian truân của tôi... tâm sự.
Mỹ Phưọng lại mời tôi ăn cơm rau.Tôi nhận lời ngay. Bữa cơm có : cá thu, nước mắm tất cả từ Cảnh dương gửi ra và chim câu rán do anh chị nuôi. Vui, vui quá, bao kỷ niệm xưa ôn lại. Bước đường thành công
     

 

 

No comments: