Tuesday, February 26, 2013

KINH TẾ VIỆT NAM

VN-Index mất 20 điểm, cổ phiếu đồng loạt bị bán tháo
Description: http://gafin.nextcom.net.vn/Images/Uploaded/Share/2013/02/26/4193.jpg
Toàn bộ cổ phiếu VN30 và HNX30 giảm giá. Thị trường có 130 mã giảm sàn.
Phiên giao dịch chiều 26/2, nhà đầu tư mạnh tay bán cổ phiếu, 2 chỉ số giảm hơn 4% và đà giảm chưa có dấu hiệu dừng lại.

13h45', VN-Index mất 20 điểm, xuống 464 điểm, tương ứng giảm hơn 4%, mức giảm còn mạnh hơn phiên 21/2 vừa qua.

Các cổ phiếu khoáng sản, bất động sản, dầu khí giảm mạnh nhất chiều nay.

Trong khi thị trường lao dốc thì một số cổ phiếu vẫn tăng trần như NBBVIDL35LIX...

13h35', VN-Index mất hơn 14 điểm, xuống dưới 470 điểm và HNX-Index giảm 2 điểm xuống 62,2 điểm.

Toàn bộ cổ phiếu VN30 giảm giá, HNX30 chỉ có duy nhất 1 mã giữ được mốc tham chiếu.BVHPVFIJCOGC là các cổ phiếu giao dịch tại giá sàn.

PVX khớp lệnh 11 triệu cổ phiếu giá sàn, dư bán hơn 2 triệu cổ phiếu giá sàn. SHB còn cách giá sàn 100 đồng, khớp lệnh 13 triệu đơn vị.
 
 
Giá xăng dầu: Chịu thêm được mấy ngày?
Tác giả: MINH LINH
Bài đã được xuất bản.: 3 giờ trước
·         
Các phương án tăng giá xăng dầu đang được cân nhắc. Sức ép tăng giá đang khiến cho toàn thị trường nóng lên.
Những phương án đang được cân nhắc

Trong những ngày gần đây, các thông tin về giá xăng dầu vẫn ở mức: các phương án đang được cân nhắc nhưng phương án giảm thuế không được ưu tiên tính toán trong điều kiện nguồn thu ngân sách gặp khó khăn. Còn câu trả lời của Bộ Tài chính vẫn là "đang chờ" lãnh đạo cấp cao quyết định.

Mặt khác, việc tăng giá xăng dầu lần này đang chịu sức ép từ mục tiêu giữ chỉ số giá tiêu dùng ở mức thấp hơn 6,81%.

Chiều hôm qua, lãnh đạo Bộ Công Thương khẳng định, liên bộ đang cân nhắc tính toán phương án điều chỉnh giá xăng dầu. Doanh nghiệp đầu mối cho hay, một tuần gần đây, mức tiêu thụ xăng dầu tăng đột biến.
Description: http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2013/02/26/08/20130226084757_xang11.jpg
Theo Bộ Công thương, hiện giá xăng dầu thế giới đã lên cao, liên bộ đang cân nhắc tính toán các phương án điều hành. "Nếu tăng giá trong nước lên sẽ gây những ảnh hưởng bất lợi, do vậy những phương án cụ thể phải tính toán thêm mấy ngày nữa. Các phương án điều chỉnh vẫn đang bàn và liên bộ chưa quyết định phương án nào.

Thông tin từ Liên Bộ Tài chính - Công Thương trong chiều ngày 25/2 cho biết, các phương án đang được cân nhắc và sẽ sớm có thông báo.

Tuy nhiên, những diễn biến gần đây cho thấy, phương án tăng giá xăng dầu trong nước là không tránh khỏi. Nguyên nhân do thời gian qua, để giữ giá xăng dầu và bình ổn thị trường Tết Nguyên đán Quý Tỵ, liên Bộ đã phải liên tục yêu cầu các doanh nghiệp không tăng giá xăng dầu trong nước và lựa chọn phương án tăng mức sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu.

Theo Bộ Tài chính, với mức trích Quỹ Bình ổn giá và thuế suất thuế nhập khẩu như hiện hành thì xăng Ron 92 có mức giá bán là 23.150 đồng/lít nhưng giá cơ sở là 24.125 đồng/lít, vẫn lỗ 475 đồng/lít (đã trừ 500 đồng từ Quỹ Bình ổn giá); tương tự dầu diesel lỗ 257 đồng/lít, dầu hỏa lỗ 373 đồng/lít và dầu mazut lỗ 260 đồng/lít (tính đến thời điểm giữa tháng 2.2013).

Ông Trần Ngọc Năm - Phó Tổng Giám đốc Petrolimex cho biết, dù được sử dụng quỹ bình ổn nhưng các doanh nghiệp xăng dầu nói chung vẫn đang lỗ nặng. "Nếu không tăng giá xăng dầu thì doanh nghiệp khó lòng chịu đựng" - ông Năm nói. Chưa kể, theo ông Năm, nhiều doanh nghiệp đã và đang khó khăn với việc trích Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, có nơi quỹ này đã "âm" bởi doanh nghiệp đã phải 3 lần xả quỹ để giữ giá xăng dầu ổn định suốt thời gian qua.

Dù chưa công bố nhưng có thể thấy sức ép phải quyết định tăng giá xăng dầu trong nước của các cơ quan quản lý nhà nước là khá rõ. Bởi các cơ quan này đã 3 lần phải yêu cầu doanh nghiệp kìm giữ giá và với diễn biến giá xăng dầu như hiện nay thì khó giữ thêm được nữa. Tuy nhiên, một cán bộ Tổ điều hành giá xăng dầu cho biết, tổ đang theo dõi chặt chẽ diễn biến giá xăng dầu trong nước cũng như nhập khẩu và tính toán để có phương án điều hành giá xăng dầu tốt nhất, hài hòa cả lợi ích người dân - Nhà nước - doanh nghiệp.

Tăng ở mức nào cho hợp

Theo đại diện Cục phó Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), công tác điều hành giá các mặt hàng thiết yếu hiện nay rất vất vả bởi lẽ điều kiện thu ngân sách đang gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, các phương án điều hành giá phải cân nhắc rất nhiều yếu tố. Trong khi đó, nếu điều hành giá quán triệt theo các quy định tại Nghị định 84, các phương án sẽ được cân nhắc dễ dàng hơn.

Hiện tại quỹ bình ổn ở một số doanh nghiệp đang ở trạng thái âm. Như vậy, phương án sử dụng quỹ bình ổn giá để kiềm chế mức tăng giá được đánh giá là không khả thi trong thời điểm này.

Về thuế suất nhập khẩu xăng dầu, mức thuế nhập khẩu đối với xăng hiện là 12%, thuế nhập khẩu dầu madut và dầu hỏa là 10%, thuế nhập khẩu dầu diezel là 8%. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng mức thuế này chưa đạt barem. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, phương án giảm thuế ít được ưu tiên tính toán do nguồn thu ngân sách đang rất khó khăn.
Description: http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2013/02/26/08/20130226084757_xang25022013-g.jpg
Bộ Tài chính cho biết, hiện tại nếu chưa cho trích quỹ bình ổn, mỗi lít xăng doanh nghiệp bán ra đang thấp hơn giá cơ sở 1.800 đồng/lít, nếu trừ mức trích quỹ bình ổn 1.000 đồng/lít, doanh nghiệp còn lỗ 800 đồng/lít.

Theo ông Nguyễn Tiến Thỏa, nguyên Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), nếu lần này, xăng dầu tăng giá ở mức 1.000 đồng/lít thì mức tác động lên CPI vòng 1 là khoảng 2% và mức tác động vòng 2 là 0,3%. Vì vậy, mức tăng giá này sẽ gây bất lợi cho mục tiêu kiềm chế lạm phát.

Theo các chuyên gia kinh tế, để hòa vốn, giá xăng sẽ phải tăng 1.000 - 1.300 đồng/lít, lên mức 24.150 - 24.450 đồng/lít. Một giải pháp khác là nếu Chính phủ giảm thuế nhập khẩu 2-4% (hiện thuế nhập khẩu xăng dầu đang là 12%) thì giá xăng dầu sẽ phải tăng thêm 300 - 900 đồng/lít. Và nếu thuế nhập khẩu chỉ giảm 2%, giá xăng dầu bán lẻ sẽ phải tăng 600 - 900 đồng/lít, lên mức 23.750 - 24.050 đồng/lít.

Ông Vũ Vinh Phú - Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội nói thẳng: Các bộ chỉ nên cho doanh nghiệp tăng giá xăng dầu ở mức thấp khoảng 400-500 đồng/lít xăng và đi kèm là điều chỉnh thuế nhập khẩu, chấp nhận giảm thu ngân sách. Theo ông Phú, nếu tăng mạnh giá xăng dầu hiện nay sẽ khiến giá hàng hóa "ăn theo" giá xăng dầu ngay thời điểm đầu năm là rất nguy hại cho việc kiềm chế lạm phát.

Ông Nguyễn Tiến Thỏa-nguyên Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Thẩm định giá VN, cũng đồng quan điểm cho rằng, Nhà nước cần hạ thuế xăng dầu xuống mức 2%, sử dụng Quỹ Bình ổn giá khoảng 300-400 đồng và chỉ tăng giá xăng dầu khoảng 300-400 đồng/lít. Như vậy sẽ vừa hài hòa lợi ích và người dân sẽ dễ dàng chấp nhận...
Theo Bloomberg, giá xăng A95 tại Singapore ngày 25/2 ở mức 134,4 USD mỗi thùng, giảm nhẹ so với mức 134,7 USD của 3 ngày trước đó. Tuy nhiên, trong gần một tháng đổ lại đây, tình hình giá xăng đi lên theo hình gấp khúc. Sau khi tăng 131, 4 USD vào ngày 4/2, giá xăng giảm nhẹ xuống còn 129,9 USD vào ngày 5/2. Sau đó, giá xăng đổi chiều liên tục đi lên đạt mức trung bình khoảng 135 USD và đỉnh điểm ngày ngày 15/2 vọt lên tới 136,5 USD mỗi thùng.
 
 
Kinh tế VN 'chưa có dấu hiệu phục hồi'
Cập nhật: 13:50 GMT - thứ hai, 25 tháng 2, 2013
 
Lạm phát tại Việt Nam giảm tốc trong bối cảnh mức tiêu dùng nội địa không có dấu hiệu phục hồi sau khi tăng trưởng kinh tế ở mức thấp nhất 13 năm trở lại đây, theo nhận định của Bloomberg.
Bloomberg dẫn số liệu từ Tổng cục thống kê Việt Nam đăng tải hôm 23/2 cho thấy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 7,02% so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn mức 7,07% của tháng Một.
"Chúng tôi dự đoán lạm phát sẽ tiếp tục đi theo xu hướng này," ông Edwin Gutierrez, một quản lý tại công ty quản lý quỹ Aberdeen nói.
"Kinh tế (Việt Nam) vẫn còn khá yếu, vốn là kết quả của sự tăng trưởng tín dụng yếu ớt."
Hiện tại, Aberdeen cũng đang nắm giữ một số lượng trái phiếu của Việt Nam.
Tăng trưởng kinh tế khiêm tốn ở nước này đã giữ lạm phát thấp hơn mức hai con số của năm 2011 - đầu năm 2012.
Hiện tại, lo ngại trước khối nợ xấu tại các ngân hàng của nước này đang ảnh hưởng nặng lên tăng trưởng tín dụng, giảm nhu cầu tiêu dùng và bóp nghẹt khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp trong nước.
"Nhu cầu nội địa vẫn đang rất yếu và tỷ giá hối đoái đang khá ổn đinh. Tôi không thấy nhiều các yếu tố thúc đẩy lạm phát ở đây," ông Dominic Mellor, kinh tế gia tại Ngân hàng Phát triển Châu Á nói với Bloomberg.
"Hiện tại, thị trường vẫn thiếu đi sự tự tin và nhiều người vẫn đang chờ xem diễn biến ở khu vực ngân hàng ra sao."
Ngân hàng Thế giới hồi tháng 12 dự đoán kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 5,5% năm nay. Điều này đồng nghĩa với việc đây sẽ là năm thứ ba liên tiếp mà tăng trưởng kinh tế ở dưới mức 6%.
Thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 đã từng chứng kiến sự tăng trưởng Tổng sản phâm quốc nội bình quân 7,3% mỗi năm của nước này.
Tăng trưởng tín dụng
"Hiện tại, thị trường vẫn thiếu đi sự tự tin và nhiều người vẫn đang chờ xem diễn biến ở khu vực ngân hàng ra sao"
Ông Dominic Mellor, kinh tế gia tại Ngân hàng phát triển Châu Á
Hồi tháng 12, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết đã đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mưccs 12% cho năm nay, cao hơn so với mức 7% năm 2012.
Cũng trong năm 2012, ngân hàng này đã cắt lãi suất 6 lần. Lần cắt lãi suất cuối cùng vào ngày 24/12, hai tuần sau khi Ngân hàng Thế giới cảnh báo việc nới lỏng tiền tệ quá sớm có thể đẩy lạm phát lên cao trở lại.
Theo số liệu mới nhất của Tổng cục thống kê, giá tiêu dùng trong tháng 2 tăng 1,32% so với một tháng trước đó.
Trong lúc giá ở khu vực y tế, thuốc men tăng 56,04% so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ tăng hàng tháng trong tháng 1 chỉ ở mức 0,58% so với 7,4% của tháng1/2013.
Nhiều tỉnh không điều chỉnh giá y tế vào năm 2012 tiếp tục không thay đổi vào tháng 1 năm nay.
"Dấu hiệu lạm phát tăng trở lại trước đây chủ yếu liên quan đến khu vực y tế," ông Gutierrez nói.
"Việc chính phủ thả cho giá y tế tăng chứng tỏ họ khá lạc quan về bức tranh lạm phát."
Nếu độ tăng chỉ giá tiêu dùng đạt chỉ tiêu 6%, Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ tiếp tục hạ lãi suất, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, ông Nguyễn Văn Bình nói trong thông cáo trên trang web của cơ quan này vào tuần trước.
Thế hệ chúng tôi tự hào vì đã hút cạn dầu, đào hết than
Như vậy, cái chúng tôi để lại cho thế hệ sau là gì? Là hết than, hết dầu, hết cá, hết rừng nhưng tôi rất tự hào về cái đó. Bởi vì chúng tôi để lại cho thế hệ trẻ một con đường duy nhất là phải học là không còn dựa vào tài nguyên thiên nhiên nữa. Đó là điều mà tôi tự hào để lại cho thế hệ sau”.
 
Description: http://www.truongduynhat.vn/wp-content/uploads/2012/12/08706a098992a728518946921-300x188.jpgMột phát biểu khá sốc dễ gây những luồng sóng phản ứng trái chiều của chuyên gia kinh tế Bùi Văn tại hội thảo “người trẻ và sự học” do chương trình “hạt giống lãnh đạo IPL vừa tổ chức tại TP Hồ Chí Minh.
Ông Bùi Văn cho rằng: Hiện nay nếu muốn thống trị thế giởi phải là sức mạnh của sự học. Cách đây 700 năm trước đế chế Mông Cổ thống trị cả thế giới bằng vó ngựa. 500 năm về trước người ta thống trị thế giới bằng thuyền buồm và chỉ mới cách đây 250 năm người Anh đã thống trị thế giới bằng sức mạnh của động cơ hơi nước.
Theo ông, kết quả của sự học đã chứng minh, trong 3 năm liên tiếp gần đây năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam đã tụt từ hạng 59 xuống 65. Ba vùng lõm gồm giáo dục đại học – cao đẳng và dạy nghề, khả năng tiếp thụ công nghệ và năng lực sáng tạo đều thấp dưới mức trung bình.
Chuyên gia kinh tế Bùi Văn ví von: “Tôi không dám đại diện cho cả thế hệ chúng tôi. Nhưng cá nhân tôi thấy: thế hệ chúng tôi đã hút gần hết dầu, đã đào gần hết than, đã dùng lưới cào và thuốc nổ khai thác hết cá ở biển, từng đi chặt rừng để bán sang Nhật.
Như vậy, cái chúng tôi để lại cho thế hệ sau là gì? Là hết than, hết dầu, hết cá, hết rừng nhưng tôi rất tự hào về cái đó. Bởi vì chúng tôi để lại cho thế hệ trẻ một con đường duy nhất là phải học là không còn dựa vào tài nguyên thiên nhiên nữa. Đó là điều mà tôi tự hào để lại cho thế hệ sau”.
(Nguồn: Vietnamnet)
Lời bàn của Nhất:
Năm rồi ở Vancouver Canada, nhà văn Nguyễn Tiến Lộc dẫn tôi đi xem mấy mỏ vàng lớn. Toàn loại trữ lượng hàng khủng nhưng thấy họ đều xây tường, đổ bê tông đóng hầm không khai thác.
Hỏi thì anh Lộc bảo: chính phủ Canada chủ trương đóng hầm không khai thác, họ giữ tài nguyên để dành lại cho các thế hệ con cháu sau này.
Ngạc nhiên. Bởi trong khi mỏ vàng trong nước đóng lại để dành, thì họ lại sang tận Việt Nam để liên kết khai thác mỏ vàng Bồng Miêu, Quảng Nam.
Khác với người Việt và khác với chuyên gia Bùi Văn, người Canada tự hào vì họ biết giữ tài nguyên để dành cho mai sau, chứ không có ai lại đi tự hào vì cạo vét đốn phá sạch tài nguyên cả. Ăn hết phần của tương lai như vậy họ coi là hành vi ăn tàn phá hoại.
Canada non trẻ chỉ với 145 năm lập quốc nhưng đã sớm thành một quốc gia phát triển giàu mạnh. Họ bỏ xa người Việt vốn hay tự hào là 4000 năm lịch sử có lẽ cũng chính ở điểm này.
________________
 
Thực trạng thu ngân sách nhà nước từ dầu thô
Dầu mỏ là nguồn năng lượng quan trọng của tất cả các nước. Nó đang chiếm khoảng 65% trong tổng các nguồn năng lượng toàn cầu. Về đặc điểm kinh tế, dầu mỏ là ngành phát triển nhanh và yêu cầu về vốn đầu tư rất lớn, đối với một số công đoạn trong ngành có sự rủi ro cao. Hầu hết ở các nước đặc biệt là các nước đang phát triển, dầu mỏ thường là ngành độc quyền của doanh nghiệp nhà nước hoặc một số các công ty xuyên quốc gia. Nguồn thu của ngân sách nhà nước từ ngành dầu mỏ chiếm một tỷ trọng tương đối cao (ở Việt Nam trên 10%).
-Thu ngân sách Nhà nước từ dầu thô năm 2005:Các mặt hàng xuất khẩu chính :Dầu thô (23%), hàng dệt may (15 %), giày dép (9,3%), hải sản (8,5%), điện tử máy tính (4,5%), gạo (4,3%), cao su (2,4%), cà phê (2,2%) tổng kim ngạch.
- Thu ngân sách nhà nước từ dầu thô năm 2006: dự toán 63.400 tỷ đồng, ước cả năm đạt 80.085 tỷ đồng, tăng 26,3% (16.685 tỷ đồng) so dự toán.
Sau khi liên tiếp tăng trong 9 tháng đầu năm, từ tháng 10/2006, giá dầu thô thế giới liên tục giảm, nhưng tính bình quân cả năm, giá dầu thô xuất khẩu đạt 506 USD/tấn (tương đương 66 USD/thùng), tăng 71,2 USD/tấn (9,3 USD/thùng) so với mức giá dự toán. Sản lượng dầu thô thanh toán cả năm chỉ đạt 16,7 triệu tấn, giảm 1,8 triệu tấn so với dự kiến đầu năm.
-Dầu thô là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực bị sụt giảm mạnh trong nửa đầu năm 2007. Nếu không có biện pháp, kim ngạch xuất khẩu dầu thô có thể không thể đạt mục tiêu đề ra và thể làm giảm kim ngạch xuất khẩu của cả nước khoảng trên 500 triệu USD đến gần 1 tỷ USD.
Dầu thô là nhóm hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn nhất trong cơ cấu ngành hàng xuất khẩu. Sự sụt giảm của nhóm hàng này có tác động lớn đến tốc độ tăng xuất khẩu chung.
Theo báo cáo của chính phủ, năm 2006, sản lượng dầu thô thương mại không đạt dự kiến, nhưng do gái xuất khẩu tăng nên số thu ngân sách nhà nước từ dâu thô vẫn đạt mức cao (77.400 tỷ đồng), tăng 22% (14.000 tỷ đồng) so với dự toán, tương ứng với giá bán dầu htô bình quân 65 USD/thùng (giá dự tính 57 USD/thùng)
-Thu ngân sách nhà nước từ dầu thô 2007:Năm 2007 mặt hàng dầu thô đã chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.sản lượng dầu thô tăng trưởng không ổn định. Khối lượng của dầu thô chỉ tăng nhẹ trong đầu những năm đầu của giai đoạn 2001-2007, rồi giảm dần, sỡ dĩ có sự sụt giảm này là do các mỏ dầu cũ cạn kiệt dần, trong khi công tác thăm dò và mua lại mỏ dầu mới của các nước khác không đạt nhiều tiến triển.71.700 tỷ đồng, bằng 89,5% so ước thực hiện năm 2006. Được xác định trên cơ sở dự kiến sản lượng khai thác và thanh toán 17,5 triệu tấn, giá bình quân ở mức 475,7 USD/tấn - tương đương 62 USD/thùng
Trong bối cảnh trữ lượng các mỏ dầu của Việt Nam có hạn và phải cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy lọc dầu, trước mắt là nhà máy lọc dầu Dung Quất sẽ chính thức đi vào hoạt động , PVN cho biết sẽ điều chỉnh hoạt động kinh doanh sang hướng giảm dần lệ thuộc vào xuất khẩu. Đây được coi là biện pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu của VN trong bối cảnh giá dầu thô giảm mạnh, ảnh hưởng đến nguồn thu.
Năm 2008, lạm phát của Việt Nam lên tới mức kỷ lục 23,1%.Từ nửa cuối năm 2007 tới đầu năm 2008, giá cả các loại hàng hóa trên thế giới đã tăng nhanh tỷ lệ nghịch với sự mất giá danh nghĩa của đồng USD đẩy mặt bằng giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào, đặc biệt là dầu thô, lên cao gấp 2 đến 3 lần so với năm 2003.
Dự toán 65.600 tỷ đồng trên cơ sở sản lượng thanh toán 15,49 triệu tấn, giá bán dự kiến 64 USD/thùng. Theo số liệu báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII thì thu dầu thô ước thực hiện cả năm đạt 98.000 tỷ đồng, vượt 49,4% (32.400 tỷ đồng) so với dự toán, tăng 27,3% so với thực hiện năm 2007 trên cơ sở sản lượng cả năm đạt 15,42 triệu tấn, giá bình quân cả năm đạt xấp xỉ 102 USD/thùng, tăng 38 USD/thùng so giá dự toán.
Giá dầu thế giới trong năm diễn biến rất phức tạp, biên độ dao động lớn. Từ tháng 1 cho đến đầu tháng 7/2008, giá dầu thô thế giới luôn trong xu thế tăng, tháng sau cao hơn tháng trước và đạt mức cao nhất trên 147 USD/thùng (ngày 11/7/2008), sau đó giảm mạnh và trong quý IV/2008 dao động xung quanh mức 50 USD/thùng. Với tình hình giá dầu thô giảm mạnh vào quý IV/2008, khả năng thu về dầu thô năm 2008 sẽ còn giảm so với số đã báo cáo Quốc hội.
Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam cho biết, trong 3 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt 1,45 tỷ USD bằng 33% so với kế hoạch năm 2009. Tuy nhiên, con số này đã giảm tới giảm 47% so với cùng kỳ năm 2008 và giảm 29% so với quý IV/2008.
Ước đạt 60.500 tỷ đồng, bằng 95% so với dự toán, trên cơ sở sản lượng dầu thanh toán đạt 15,4 triệu tấn, giá bán bình quân đạt 58 USD/thùng (dự toán sản lượng là 15,86 triệu tấn, giá bán là 70 USD/thùng).
Nguyên nhân giảm là do giá dầu thế giới sụt giảm mạnh. Giá dầu trung bình quý I/2009 là 45 USD/thùng, giảm 55 USD/thùng so với trung bình quý I/2008 và giảm 21 USD/thùng so với trung bình quý IV/2008.
Mặc dù xét về khối lượng, cả khai thác và xuất khẩu đều tăng, nhưng do giá cả sụt giảm đã khiến cho rất nhiều chỉ tiêu tài chính đạt thấp hơn so với cùng kỳ. Sự sụt giảm của dầu khí cũng gây lo ngại cho nguồn thu ngân sách quốc gia, vì thu ngân sách từ nguồn này hiện chiếm khoảng 22% ngân sách.
Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu vẫn giảm tới gần một nửa do giá dầu đã sụt từ đỉnh cao nhất 149 USD/thùng năm 2008 xuống lúc thấp nhất dưới 40 USD/thùng trong nửa đầu 2009.
-Mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch cao nhất - dầu thô đang sụt giảm mạnh. Đây là một nguyên nhân khiến xuất khẩu không tăng cao như mong muốn.
- Thu ngân sách nhà nước từ dầu thô 2010: 66.300 tỷ đồng, tăng 14,3% so với ước thực hiện 2009 trên cơ sở:
+Thu từ dầu thô 61.100 tỷ đồng, với sản lượng dự kiến đạt 14,41 triệu tấn[2], giảm 01 triệu tấn so với sản lượng ước thực hiện năm 2009; giá bình quân dự kiến đạt khoảng 68 USD/thùng[3].
+Thực hiện thu vào NSNN 5.200 tỷ đồng (tương đương với 300 triệu USD) đối với khoản kết dư chi phí của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro (phần được trích từ doanh thu theo quy định, nhưng chưa sử dụng hết trong một số năm).
-Thu ngân sách nhà nước từ dầu thô 2011:
Dự toán thu là 66.300 tỷ đồng, trên cơ sở dự kiến sản lượng thanh toán là 14,41 triệu tấn, giá bán 68 USD/thùng. Kết quả thực hiện đạt 69.170 tỷ đồng, chiếm 12,4% tổng thu ngân sách nhà nước, vượt 4,3% so dự toán, tăng 14,3% so với thực hiện năm 2009, trên cơ sở sản lượng thanh toán đạt xấp xỉ 13,8 triệu tấn và giá dầu thanh toán cả năm đạt khoảng 79,7 USD/thùng, tăng 11,7 USD/thùng so với giá tính dự toán.
Xu hướng xuất khẩu dầu thô của Việt Nam
Hiện nay dầu thô là sản phẩm xuất khẩu quan trọng nhất xét theo tổng doanh thu. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ không xuất khẩu năm 1986 khi mới bắt đầu sản xuất đến mức gần đây là khoảng 3,9 tỷ USD năm 2003. . Thị trường thế giới đối với dầu thô rất lớn và tăng trưởng mạnh về mặt giá trị do giá dầu tăng. Tiềm năng xuất khẩu của ngành hàng này được coi là cao. . Các giếng dầu ngoài khơi của Việt Nam mở rộng và được cho là thuộc hàng lớn nhất tiếp sau Trung Đông.Việt Nam là một nước xuất khẩu dầu nhưng cũng nhập khẩu một lượng lớn. Dầu thô 100% xuất khẩu, do Việt Nam còn thiếu các nhà máy lọc dầu. Mặc dù có mức tăng trưởng lớn về mặt giá trị (14%), nước này vẫn hoạt động kém hơn so với thị trường thế giới; tuy nhiên xét về khối lượng, xuất khẩu tăng nhanh hơn mức trung bình của thế giới.
Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là khu vực Thái Bình Dương, như Australia, Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Chúng ta nhận thấy có những cơ hội để đa dạng hoá thị trường như Indonesia, Canada và Liên minh châu Âu (Bỉ, Đức, Tây Ban Nha, Hungary và Italia).
 
Tân Trưởng ban Kinh tế Trung ương làm việc với PVN
Thứ Ba, 26/02/2013, 06:31RSSGửi emailIn tin
 
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là đơn vị đầu tiên Ban Kinh tế Trung ương làm việc, với nội dung chủ yếu xoay quanh báo cáo kết luận của Bộ Chính trị về Chiến lược phát triển đơn vị này đến 2015 và 2025. 
Đây cũng là buổi làm việc chính thức đầu tiên của ông Vương Đình Huệ trên cương vị Trưởng ban Kinh tế Trung ương với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN). Ngoài các thành viên của Ban Kinh tế, tham dự cuộc gặp với PVN còn có đại diện của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, lãnh đạo Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương.
Sau khi được tái lập, Ban Kinh tế trung ương được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ trước hết là chủ trì, tham gia nghiên cứu, tham mưu, đề xuất các chính sách lớn về kinh tế - xã hội cho Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực tiến hành tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước, việc Ban Kinh tế lựa chọn làm việc đầu tiên với một tập đoàn lớn như PVN là một tín hiệu đáng chú ý.

Theo báo cáo của PVN, năm 2012, tập đoàn này lần đầu tiên đạt kỷ lục về doanh thu - hơn 770.000 tỷ đồng, nộp ngân sách 186.300 tỷ, vượt 51,48% so với kế hoạch năm. Tuy vậy, hoạt động của tập đoàn này cũng khiến dư luận đặt nhiều lo lắng. Đến hết năm 2011, dư nợ phải trả của PVN lên đến gần 287.000 tỷ đồng - đứng đầu danh sách các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Tập đoàn Dầu khí đồng thời cũng lỗ lũy kế (đến hết 2011) là 2.390 tỷ đồng - đứng thứ 3 sau EVN và Vinalines.

Cùng những kết quả kinh doanh nêu trên, bản thân việc điều hành của lãnh đạo PVN trong thời gian qua cũng khiến dư luận đặt nhiều quan tâm. Trong một văn bản gửi Bộ trưởng Bộ Tài chính trước đây, PVN đã đề xuất Bộ cho phép các cán bộ của mình được miễn không phải nộp thuế thu nhập cá nhân với các khoản: tiền thuê nhà nước sở tại, phí hành lý quá cước, học phí cho con và trợ cấp một lần, gồm cả tiền thuê nhà nước sở tại, phí hành lý quá cước, học phí cho con và trợ cấp một lần.

Trong thời gian luật pháp chưa thay đổi, PVN còn đề nghị cho phép đơn vị được trả thay phần thuế này cho cán bộ công nhân viên và khoản trả thay này được tính vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp (được trừ trước khi xác định số thuế phải nộp). Chính những câu chuyện này khiến cho buổi làm việc giữa Ban Kinh tế trung ương và Tập đoàn Dầu khí, dự kiến diễn ra ngày 27/2 tới được dư luận hết sức chờ đợi.

Theo Hàn Phi - Vnexpress
 
Khó khăn vây bủa dầu khí Việt Nam (PVN)
February 25, 2013 By Guest 13 Comments
Vận hành khai thác dầu khí ở mỏ Bạch Hổ. (Ảnh: Hà Thái/TTXVN)
Với mục tiêu đạt 25,2 triệu tấn dầu khí khai thác quy đổi, đảm bảo gia tăng trữ lượng 30-40 triệu tấn quy dầu trong năm 2013, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đang phải đối mặt với nhiều thách thức.
Sản lượng khai thác dầu khí tại mỏ lớn nhất bị sụt giảm, các mỏ mới phát triển chưa cho hiệu quả cao trong khi các dự án đầu tư tìm kiếm dầu khí ở nước ngoài cũng không hề thuận lợi.
Dồn dập các khó khăn

Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ 2013 của PVN mới đây, Tổng Giám đốc Liên doanh Vietsovpetro (VSP) Nguyễn Văn Tuyến thừa nhận mặc dù nhiều giải pháp ứng phó đã được triển khai quyết liệt nhưng sản lượng khai thác tại mỏ dầu khí lớn nhất là “Bạch Hổ” đang sụt giảm mạnh và tiềm ẩn nguy cơ “kiệt sức” do tình trạng ngập nước ở một số giếng tầng móng Bạch Hổ tiếp tục có xu hướng gia tăng.
Trong khi đó, kế hoạch tìm kiếm thăm dò dầu khí năm 2013 vẫn chưa có tín hiệu lớn về gia tăng trữ lượng so với sản lượng dầu khai thác do thời tiết biển trong khu vực ngày càng diễn biến phức tạp khó dự đoán.
Khó khăn vẫn tiếp tục tăng thêm khi hệ thống các công trình ngoài biển đã đưa vào sử dụng nhiều năm đang tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hoạt động khai thác dầu khí. Vì vậy, năm 2013, sản lượng dầu khai thác của VSP được xác định giảm 0,7 triệu tấn so với năm 2012.
Cũng gặp nhiều thách thức trong triển khai kế hoạch 2013, đại diện PVEP-đơn vị chủ lực của PVN trong thăm dò và khai thác dầu khí lại cho biết các dự án đầu tư phát triển dầu khí của PVEP ở nước ngoài gặp nhiều khó khăn.
Cụ thể, dự án mỏ Bir Seba-lô 433a & 416b – Algeria đã đi vào khai thác đúng tiến độ, dự kiến tháng 6/2014 sẽ cho 20.000 thùng/ngày, sau tăng lên 40.000 thùng/ngày nhưng đây là vùng sa mạc khắc nghiệt, cộng thêm tình hình chính trị bất ổn nên việc khai thác không thuận lợi.
Cùng đó, việc triển khai dự án mỏ Junin 2 tại Venezuela cũng gặp thách thức lớn do lạm phát của nước chủ nhà tăng phi mã, khiến tỷ giá giữa đồng nội tệ/USD ngoài chợ đen gấp 4 lần tỷ giá chính thức quy định trong ngân hàng, làm giá thành chi phí mọi hoạt động tăng cao.
Trong khi đó, do tác động của khủng hoảng tài chính thế giới, việc huy động vốn đầu tư là cực kỳ gian nan vì mới chỉ vay 300 triệu USD, PVEP đã phải huy động từ 17 ngân hàng quốc tế.
Vì vậy, chỉ tiêu gia tăng trữ lượng năm 2013 là 12,5 triệu tấn sẽ rất khó hoàn thành trừ khi PVEP được đặc cách thu hồi mỏ mới trong thời gian ngắn, Tổng Giám đốc PVEP Đỗ Văn Khạnh khẳng định.
Phải chung tay tháo gỡ

Theo Tổng Giám đốc PVN Đỗ Văn Hậu, để hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đầy thách thức trong năm 2013, cùng với việc tích cực thăm dò dầu khí trong nước, nhất là ở khu vực cận thăm dò bể Cửu Long, Nam Côn Sơn, Sông Hồng, khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng nhạy cảm, Tập đoàn tiếp tục đẩy mạnh tìm kiếm thăm dò, đẩy mạnh đàm phán mua mỏ mới tại nước ngoài, đảm bảo con số gia tăng trữ lượng 35-40 triệu tấn.
Cũng trong năm 2013, PVN sẽ đưa thêm một số chương trình vào khai thác mới, dự án dầu và condenser Biển Đông, mỏ dầu Hải Sư Trăng, Hải Sư Đen và một số mỏ nhỏ khác; đẩy mạnh khai thác mỏ dầu mới ở khu tự trị Nhenhetxki (Nga), Junin 2(Venezuela); đưa mỏ lớn Hải Thạch-Mộc Tinh vào khai thác trong tháng 6 tới nhằm quyết tâm hoàn thành chỉ tiêu khai thác 16 triệu tấn dầu thô và 9,2 tỷ m3 khí trong năm 2013.
Khẳng định quyết tâm bù sản lượng suy giảm tại mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng, Tổng Giám đốc VSP Nguyễn Hữu Tuyến cho biết VSP tiếp tục tăng tốc đầu tư khoan thăm dò dầu khí với khối lượng năm 2013 bằng khối lượng trong 3 năm từ 2006-2008, phấn đấu “phát hiện năm nay thì năm sau đưa vào khai thác.”
Cũng trong năm 2013, bên cạnh việc lắp đặt và xây dựng giàn khoan phục vụ khai thác tại mỏ Thỏ Trắng đảm bảo cho dòng dầu đầu tiên vào quý 2 năm 2013, VSP sẽ xây dựng các giàn khoan BK 16, BK 17 theo phương thức vừa đánh giá trữ lượng, vừa tổ chức đấu thầu mua sắm vật tư thiết bị để khi báo cáo đánh giá trữ lượng được các cấp có thẩm quyền phê duyệt, các công trình được đưa vào sớm nhất, bù sản lượng trong 1-3 năm tới cho mỏ Bạch Hổ.
Hiện VSP cũng phối hợp với PV Gas và PVEP đánh giá trữ lượng của mỏ Thiên Ưng và nếu kế hoạch khoan thăm dò mỏ Thiên Ưng được thông qua trong quý 1 năm 2013 này, sản phẩm khí từ mỏ Thiên Ưng sẽ được đưa vào bờ từ năm 2015, bù đắp 700-800.000 tấn/năm cho mỏ Bạch Hổ.
Tuy nhiên, cùng với những nỗ lực của doanh nghiệp nhằm vượt qua các khó khăn hiện hữu, Chính phủ và các bộ ngành cần sớm ban hành cơ chế hỗ trợ phù hợp để PVN có thể hoàn thành các chỉ tiêu đầy thách thức và tiếp tục đóng góp hiệu quả cho nền kinh tế, Tổng Giám đốc PVN Đỗ Văn Hậu nhấn mạnh.
Hiện nhu cầu vốn đầu tư của PVN để thực hiện các dự án thăm dò và khai thác dầu khí tại vùng nước sâu, ở nước ngoài, các dự án chế biến hóa dầu… là cực lớn nhưng cơ chế tài chính cho Tập đoàn lại chưa rõ ràng khiến PVN khó chủ động cân đối được tài chính. Quốc hội đã duyệt cho PVN để lại 3.500 tỷ đồng lãi từ hoạt động dầu khí nước chủ nhà trong năm 2012 và 1.600 tỷ đồng cho năm 2013.
Tuy nhiên, con số này là quá nhỏ bé so với con số thực thu của khoản 50% lãi dầu khí của nước chủ nhà và thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu đầu tư thực tế của PVN.
Ngoài ra, với đặc thù các dự án dầu khí có mức độ rủi ro cao, vốn đầu tư lớn, thời gian ra quyết định ngắn nên việc sớm hoàn thiện, bổ sung hành lang pháp lý về đấu thầu theo hướng rút ngắn thời gian phê duyệt, thẩm định dự án phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ hỗ trợ hiệu quả PVN trong việc mua các mỏ dầu khí ở nước ngoài, tạo quỹ thăm dò khai thác cần thiết trong điều kiện nguồn tài nguyên trong nước đang dần suy giảm, đại diện PVN đề xuất./.
Nguyễn Kim Anh (TTXVN)
 
Xây lắp dầu khí – cái tên thua lỗ năm 2012
 
(CafeF) Có khá nhiều “kỷ lục” trên thị trường chứng khoán rơi vào 4 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành này. Lỗ khủng nhất, Top 10 cổ phiếu thị giá thấp nhất, Top 2 doanh nghiệp có tỷ lệ nợ/vốn chủ cao nhất…
Người ta vẫn ví von ngành dầu khí với việc “đào vàng đem lên mà bán, làm gì chẳng lãi”. Trên thực tế, các doanh nghiệp dầu khí và liên quan đến dầu khí vẫn luôn là mơ ước, trước hết của người lao động, rồi đến nhà đầu tư… Tuy nhiên, khủng hoảng 2012 không trừ một ai. Quan sát tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp họ “xây lắp dầu khí” – một loại hình doanh nghiệp phụ trợ cho khai thác dầu khí – nhà đầu tư không khỏi giật mình.
Lỗ khủng
4 doanh nghiệp xây lắp dầu khí đang niêm yết, PVX là doanh nghiệp có quy mô vốn lớn hơn cả và là cổ đông lớn/công ty mẹ của 3 doanh nghiệp còn lại. Và, đáng buồn thay, PVX cũng là doanh nghiệp gánh khoản lỗ lớn nhất thị trường chứng khoán hiện nay (không tính ngân hàng và các tổ chức tín dụng).
Theo báo cáo hợp nhất, năm 2012 PVX lỗ trên 1.000 tỷ đồng. Trước đó, PSG đã gây chấn động với khoản lỗ khủng 250 tỷ đồng và giữ vị trí quán quân một thời gian.
4 doanh nghiệp họ “xây lắp dầu khí” hiện đang niêm yết (PVX, PSG, PVA và PXMđều lỗ trên 100 tỷ đồng năm 2012. Mỗi doanh nghiệp một nguyên nhân, nhưng nhìn chung sự bế tắc trong xây dựng công trình là mấu chốt khiến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp này thảm hại đến như vậy.
Quan sát doanh thu và LNST (phần dành cho cổ đông công ty mẹ) của 4 doanh nghiệp này, có thể thấy rõ sự sụt giảm bất ngờ của năm 2012.
Đơn vị: Tỷ đồng
 
Nợ phải trả gấp 5 lần vốn chủ sở hữu
Một tình trạng chung của các doanh nghiệp xây lắp dầu khí hiện nay đó là tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu quá cao. Năm 2012, tỷ lệ này đạt con số 5,45 lần. Tỷ lệ này không ngừng tăng lên trong những năm vừa qua.
Rõ ràng, việc sử dụng đòn bẩy tài chính đã phần nào giúp các doanh nghiệp tận dụng được lợi thế về vốn và đem lại sự tăng trưởng khá về doanh thu và lợi nhuận. Tuy nhiên, đến giai đoạn khủng hoảng, gánh nặng nợ nần lại trở thành “tội đồ” của không ít doanh nghiệp.
 
Đơn cử PSG. Tính đến cuối năm 2012, khoản lỗ lũy kế chưa phân phối đã gặm nhấm gần hết vốn chủ sở hữu của công ty, chỉ còn vỏn vẹn 16 tỷ đồng. Năm 2011, công ty này vẫn còn gần 268 tỷ đồng vốn chủ sở hữu. Khoản lỗ khủng năm 2012 đã đổ xuống sông xuống bể mọi thành quả của công ty trong những năm trước đó. Tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu của PSG năm 2012 lên tới 63 lần.
Thị giá không vượt quá 7.000 đồng
Với tình hình hoạt động kinh doanh và các chỉ số tài chính không đảm bảo, PSG là cổ phiếu có thị giá thấp nhất, chỉ vỏn vẹn 1.300 đồng. Trong 6 tháng trở lại đây, thị giá cổ phiếu này chưa bao giờ vượt quá ngưỡng 2.000 đồng, một cái giá quá bèo trên thị trường chứng khoán. Theo thống kê tại ngày 25/2/2013, PSG thuộc Top 10 cổ phiếu có thị giá thấp nhất trên cả hai sàn chứng khoán hiện nay.
Là công ty lớn nhất với quy mô vốn điều lệ hàng nghìn tỷ đồng, PVX tỏ ra “đắt giá” hơn. Nhưng thị giá của công ty này cũng chỉ đạt 7.000 đồng, theo kết quả đóng cửa phiên giao dịch 25/2/2013. Sau báo cáo tài chính năm mà CafeF đã có dịp đề cập, giá cổ phiếu PVX đã giảm 100 đồng/CP.
Như vậy có khá nhiều “kỷ lục” trên thị trường chứng khoán rơi vào 4 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành này. Lỗ khủng nhất, Top 10 cổ phiếu thị giá thấp nhất, Top 2 doanh nghiệp có tỷ lệ nợ/vốn chủ cao nhất….
Minh Huyền
Gia hạn nợ liệu có phải là giải pháp tối ưu?
Description: http://gafin.nextcom.net.vn/Images/Uploaded/Share/2013/02/25/Quyet-dinh-780-lieu-co-phai-giaiphap-toi-uu-giai-quyet-no-xau.jpg
Quyết định 780 được ban hành chỉ là giải pháp trì hoãn để giải quyết nợ xấu.
Ngày 23/4/2012, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 780 cho phép các tổ chức tín dụng được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với những doanh nghiệp khó trả nợ nhưng sản xuất kinh doanh có chiều hướng tích cực, nhóm nợ vẫn được giữ nguyên như đã phân loại trước đó.

Quyết định 780 ra đời giúp cho cả ngân hàng và doanh nghiệp có thêm cơ hội và thời gian để xoay chuyển tình hình. Bởi với những khoản nợ quá hạn còn tồn đọng ở một bộ phận doanh nghiệp, các ngân hàng sẽ phải chuyển nhóm nợ và nợ xấu sẽ càng tăng cao.

Sau khoảng 6 tháng, từ tháng 4 đến tháng 10/2012, đã có 250 nghìn tỷ đồng "nợ nguy cơ" được cơ cấu lại; đồng nghĩa với hàng nghìn doanh nghiệp thoát án phạt lãi suất quá hạn 150%, các ngân hàng bớt đóng băng một lượng vốn lớn trong bối cảnh khó khăn…

Tuy nhiên, theo một lãnh đạo ngân hàng thương mại thì: "Nếu không có các biện pháp phụ trợ, kinh tế vĩ mô không chuyển biến, thì đó cũng chỉ là một kế hoãn binh, đẩy cái chết cho tương lai".

"Việc xử lý nợ xấu vẫn chưa có nhiều chuyển biến hay thêm những động thái mới, còn "chu kỳ 780" thì đang khép lại…", nguyên tổng giám đốc một ngân hàng thương mại khác cho biết.

Điều ông quan ngại là chu kỳ giãn nợ đã và đang khép lại. Phần lớn các khoản vay của doanh nghiệp là ngắn hạn, thường tối đa là một năm. Quyết định 780 đã có hiệu lực gần một năm, tức nhiều khoản đã và đang đến kỳ đáo hạn sau khi giãn nhưng chưa có những hành động mới, có sức nặng để tạo giá trị cộng hưởng với nó trong xử lý nợ xấu.

Điều này cũng một phần giải thích lý do vì sao tỷ lệ nợ xấu hay lượng trích lập dự phòng của nhiều ngân hàng mới thực sự đội lên trong quý IV/2012.

Theo VnEconomy tìm hiểu tại một số ngân hàng, mức độ giải cứu của Quyết định 780 là không cao, ở khoảng 30 - 40% số nợ được giãn; còn một tỷ lệ tham khảo chính thức từ Ngân hàng Nhà nước hiện chưa được công bố.

Có lẽ, việc xử lý nợ xấu sẽ sớm được chuyển tiếp bằng vai trò của công ty quản lý tài sản mà Thủ tướng Chính phủ vừa thúc Ngân hàng Nhà nước trình đề án.

Trong một số thông tin đề cập thời gian qua, công ty quản lý tài sản sẽ ra đời với quy mô khoảng 100 nghìn tỷ đồng, đóng vai trò như một công cụ đủ mạnh để giải quyết nợ xấu.

Thay vì dùng tiền ngân sách, công ty này sẽ sử dụng công cụ trái phiếu để mua lại một phần đáng kể nợ xấu của các ngân hàng. Các ngân hàng dùng nguồn trái phiếu đó để tham gia thị trường mở, hoặc thế chấp mượn vốn qua các kênh khác. Một lượng vốn tương ứng đang kẹt trong nợ xấu có cơ hội tái tạo…

Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại cũng phải tự xử lý nợ xấu từ nguồn dự phòng. Tính đến cuối tháng 11/2012, cả hệ thống cũng đã trích lập dự phòng và chưa sử dụng đến 78,6 nghìn tỷ đồng (tương đương 58,31% nợ xấu tại thời điểm đó); và ước khoảng 45 nghìn tỷ đồng cũng đã được tự xử lý.
Theo Theo Vneconomy
Giải pháp “Giấu bụi dưới thảm”
March 26, 2012 By Alan Phan 42 Comments
Nhờ vài viên aspirin, bệnh nhân đã quay lại sở làm việc, nhưng cái ung thư trong gan ruột vẫn chờ ngày giải phẩu. Đây là chiến thuật mà người phương Tây gọi là “giấu bụi dưới thảm” (swept under the rug) hay “đá cái thùng (rác) xuống cuối đường” (kick the (trash) can down the road). Tạm ổn, nhưng một ngày nào đó, trong nhiệm kỳ mới, có lẽ một người nào khác sẽ phải làm cái việc dơ bẩn là hốt bụi hay đổ rác.
Một chuyên gia kinh tế Việt hưng phấn bảo tôi,” Mọi vấn đề về ngân hàng, chứng khoán và bất động sản sẽ được chánh phủ giải quyết xong trước tháng 8 năm nay. Tất cả thị trường tài chánh sẽ phục hồi và sẽ lập đỉnh cao mới trong 2013. Lãi suất và lạm phát sẽ giảm xuống dưới 9%, cán cân thương mại sẽ cân bằng và ngân sách sẽ ổn định”. Hallelujah (Lạy Chúa tôi) !!! Phép mầu đã hiện ra, mà không cần một cuộc hành hương nào.
Giải pháp của Mỹ
Tôi gọi nó là một phép mầu vì hiện tượng này sẽ đi ngược lại tất cả nguyên lý về kinh tế tài chánh mà tôi được học. Chắc tại mình học chưa đủ? Nhưng dù sao, nó cũng đã được áp dụng khá thành công tại Mỹ khi Cục Dự Trữ Liên Bang (Fed) bơm tiền cứu các ngân hàng, bắt đầu với gói QE 1 vào 2008, và liên tục in tiền với QE 2 và sắp cho ra QE 3 trong vài tháng tới. Thường thì khi in tiền, lạm phát và lãi suất sẽ gia tăng vì lượng cung của trái phiếu tràn ngập. Tuy nhiên, với sự suy thoái về nhu cầu tiêu dùng và mức độ thất nghiệp; cùng với số lượng tiền khổng lồ đang được các nhà đầu tư thế giới nắm giữ (nhất là Trung Quốc và Nhật Bản), thị trường chấp nhận dễ dàng lãi suất thấp (gần như zero) từ trái phiếu chánh phủ vì sự vững chắc của đồng đô la Mỹ giữa những biến động nguy hiểm của tình thế.
Kết quả là Fed đã cứu được hệ thống ngân hàng mà không phải trả giá bằng lạm phát và lãi suất. Tuy nhiên, kinh tế Mỹ đã tiếp tục trì trệ suốt 3 năm qua vì tiền các ngân hàng nhận được đã không đem cho doanh nghiệp vay lại vì nợ xấu và rủi ro vẫn còn cao. Họ giữ tiền cứu trợ để mua trái phiếu của các chánh phủ cho an toàn và hạnh phúc với số tiền lời khủng qua sai biệt về lãi suất mua và bán.
 
Description: http://www.gocnhinalan.com/wp-content/uploads/2012/03/bui23.3_1332493984.jpgCuối cùng, nhờ sự năng động của nền kinh tế thị trường và những sáng tạo của tầng lớp doanh nhân trẻ, nền kinh tế Mỹ cho thấy vài tín hiệu của sự hồi phục vào giữa năm nay. Nhưng ngoài điểm sáng này, tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao, giá địa ốc vẫn suy giảm, nợ công và tư vẫn đầm đìa và lạm phát vẫn là một đe dọa qua giá dầu và lãi suất. Nói tóm lại, nhờ vài viên aspirin, bệnh nhân đã quay lại sở làm việc, nhưng cái ung thư trong gan ruột vẫn chờ ngày giải phẩu.
Đây là chiến thuật mà người phương Tây gọi là “giấu bụi dưới thảm” (swept under the rug) hay “đá cái thùng (rác) xuống cuối đường” (kick the (trash) can down the road). Tạm ổn, nhưng một ngày nào đó, trong nhiệm kỳ mới, có lẽ một người nào khác sẽ phải làm cái việc dơ bẩn là hốt bụi hay đổ rác.
Ứng dụng cho Việt Nam
Câu hỏi kế tiếp là Mỹ nó làm được thế thì tại sao Việt Nam không bắt chước mà áp dụng giải pháp tương tự? Dĩ nhiên, chánh phủ Việt Nam đang áp dụng chính sách này và cũng có cơ may thành công như chánh phủ Mỹ. Tuy nhiên, có 5 sự khác biệt khá sâu rộng giữa hai nền kinh tế.

No comments: