Sunday, February 24, 2013

HOÀNG HẢI THỦY * NGÀY XƯA

Nhắc chi ngày xưa đó!

Hoàng Hải Thủy

Gió hắt trầm tiếng ca
Tiếng phách dồn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó
Ðến se buồn lòng ta.

Tôi không để hai chữ Văn Cao dưới những Lời Thơ Nhạc của Văn Cao, như tôi không để những chữ Ðinh Hùng dưới Thơ Ðinh Hùng, những chữ Vũ Hoàng Chương dưới Thơ Vũ Hoàng Chương. Người đọc những Lời Thơ ấy phải biết ai là tác giả
Bánh xe tị nạn khấp khểnh đến Kỳ Hoa năm 1995; sau 20 năm không được Viết, tôi viết ngay những bài Viết ở Rừng Phong. Từ năm 2000, mỗi tuần tôi viết hai bài Viết ở Rừng Phong. Ðến nay trong Blog “hoanghaithuy.com” đã có 500 bài Viết ở Rừng Phong. Trong số 500 bài ấy có một bài tên là “Nhắc chi ngày xưa đó..” Nên bài “Nhắc chi ngày xưa đó” tôi viết hôm nay – Ngày 15 Tháng Hai, 2013, Ngày Mồng 5 Tháng Giêng Ta, Tết Nguyên Ðán mới qua 5 Ngày – tôi đề tên là:
Nhắc chi ngày xưa đó..
Tháng Giêng Quý Tỵ.2013.

o O o
Giữa năm 1951 tôi được anh Thanh Sanh, chủ bút Nhật báo Ánh Sáng nhận vào làm phóng viên. Ðây là việc làm có lương đầu tiên trong đời tôi. Tôi vào đời với việc làm phóng viên nhật báo. Tôi gặp May ngay từ những bước đầu vào đời. Từ năm 10 tuổi, sau khi dọc hai tiểu thuyết Giông Tố, Trường Ðời, tôi muốn khi tôi lớn, tôi sẽ viết tiểu thuyết. Việc làm phóng viên nhà báo mở đường cho tôi trở thành người viết truyện.

Lê Minh – Ði và Sống – bảo tôi:
“Thanh Sanh báo Áng Sáng cần một rì-pọc-tơ. Mày đến xem. Nói tao giới thiệu.”
10 giờ sáng tôi đến toà soạn báo Ánh Sáng, đường Bonard – sau năm 1956 là Ðường Lê Lợi, toà báo Ánh Sáng ở cạnh Tiệm Photo Tân Tiến, Restaurant Kim Hoa, Cinema Casino de Saigon – anh Thanh Sanh đưa một phóng sự ngắn về chiến sự ở Bắc Việt cho tôi dịch. Phóng sự cắt trong báo Pháp. Anh xem qua bài tôi dịch rồi quyết định ngay: Toà báo nhận tôi làm nhân viên, lương mở đầu 1.500 đồng một tháng. Hôm sau tôi đến tòa báo làm việc ngay. Ba tháng sau anh Thanh Sanh tăng lương tôi lên 1.800 đồng. Không những tôi không đòi lên lương, tôi không nghĩ cả đến chuyện xin tăng lương. Với tôi – năm 1951 tôi 20 tuổi, số tiền lương tháng 1.500 đồng là quá đẹp, quá đủ cho tôi. Mỗi tháng tôi giúp mẹ tôi 500 đồng, tôi ăn cơm nhà, tôi không phải chi tiền nhà. Có tiền, tôi may mặc theo ý tôi, đi giầy da, đội mũ nỉ – tôi thích đội mũ – đeo đồng hồ Wyler. Tôi may bộ veston thứ nhất bằng tiền của tôi.
1951 – 2013.. Sáu mươi mùa xuân đã qua..Hôm nay sống nhửng ngày cuối đời ở quê người, tưởng niệm hoa niên, những ngày đầu vào đời, những bước đầu vào làng báo, việc làm thứ nhất, người thiếu nữ thứ nhất trong đời, tôi thấy tôi phải cám ơn anh Thanh Sanh – Từ lúc anh tự ý tăng tiền lương cho tôi, chưa một lần tôi cám ơn anh – Hôm nay tôi cám ơn anh. Chắc anh qua đời lâu rồi. Những năm 1973, 1974 có vài lần tôi gặp lại anh Thanh Sanh. Anh nghỉ làm báo từ sau năm 1963. Anh dịch tài liệu cho Sở Thông Tin Hoa Kỳ – USIS, Số 8 đường Lê Quý Ðôn – anh đến lấy tiền công dịch. Trong 20 năm làm báo của tôi, anh Thanh Sanh là ông chủ bút duy nhất tự ý tăng tiền lương cho tôi.
Anh Chu Tử là ông chủ báo duy nhất nói với tôi:
“Báo bây giờ có tiền. Anh muốn bao nhiêu, anh cứ nói.”
Anh trả tôi 20.000 đồng một tháng cho tiểu thuyết phóng tác Người Yêu Người Giết của tôi đăng trên Nhật báo Sống. Truyện phơi-ơ-tông của tôi đăng cùng thời ở những báo khác tôi được trả tiền tháng cao nhất là 10.000 đồng.
Bà Bút Trà là bà Chủ Báo duy nhất đăng báo gọi tôi trở về toà soạn Nhật báo Sàigònmới. Hai năm trước tôi bỏ toà báo vì tôi đòi tăng lương mà không được chấp thuận. Gặp lại tôi, bà Bút Trà nói:
“Biết anh có tài nhưng trước đây báo nghèo không đài thọ được anh nên chúng tôi phải để anh đi, Nay báo bán được, có tiền, chúng tôi mời anh về.”
Năm 1967 tôi từ biệt tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến. Ðại Tá Vũ Quang làm một tiệc tiễn đưa tôi – buổi tiệc ở Nhà Hàng Victoria có vợ tôi đi với tôi – Ðạt Tá nhân danh nhật báo Tiền Tuyến tặng tôi cái máy chữ Brother có dấu tiếng Viêt, cái máy đánh chữ thứ nhất trong đời tôi – Ðại Tá nói:
“Chúng tôi muốn anh Thủy coi báo Tiền Tuyến là nhà anh. Anh đi đâu thì đi, khi nào anh muốn trở về nhà, xin anh trở về.”
Nhắc chi ngày xưa đó…. ..
Nhắc chứ. Sao lại không? Nhắc lại những chuyện ngày xưa, tôi thấy lòng tôi không se buồn, lòng tôi ấm lại.
o O o
Năm xưa ấy – năm 1951, 1952 – tôi chưa nghiện qua một thứ g, thuốc điếu ngày tôi hút độ 3, 4 điếu, không hút không sao, cà phê chưa bắt buộc phải uống, chưa có thói quen ngủ trưa. Những tòa báo Sài Gòn năm ấy chỉ làm việc buổi sáng. Nhưng buổi chiều tôi cũng đến tòa báo xem có việc gì không. Một buổi chiều trong những buổi chiều ấy, đứng trên đường Bonard nhìn người qua lại, tôi bỗng cảm thấy tôi thiếu một cái gì.
Ngay khi đó tôi không biết tôi thiếu cái gì, tôi cần cái gì. Nhiều năm sau nhớ lại chuyện xưa, tôi mới biết khi ấy tôi thiếu Tình Yêu, tôi cần có Người Yêu. Năm ấy tôi 20 tuổi.
Tôi nhìn thấy Nàng lần đầu vào lúc 4 giờ một buổi chiều, nàng đến sạp báo bên cạnh cửa rạp Casino xem báo mới. Nàng dáng người xinh xinh, mặt trái soan, da trắng, nàng mười sáu, mười bẩy tuổi. Tôi thấy nàng mua tờ tuần báo Thẩm Mỹ. Tuần sau, đúng ngày tuần báo Thẩm Mỹ phát, hành, tôi cầm sẵn tờ Thẩm Mỹ mới, trong có lá thư tôi viết cho nàng.
Tôâi đứng chờ nàng ra mua báo. Ðúng như mong muốn của tôi, nàng đến sạp báo đúng lúc tôi đứng chờ nàng. Tôi nói với nàng:
“Tôi có tờ báo này tặng cô.”
Tôi lương thiện mở hé tờ báo cho nàng thấy có lá thư tôi trong đó. Nàng thấy lá thư của tôi trong tờ báo, nàng vẫn cầm tờ báo. Việc Nàng cầm tờ báo trong có lá thư cho tôi biết nàng chấp nhận cho tôi được nói chuyện với nàng.
Nàng là gái Bắc. Ông thân nàng vào Sài Gòn từ những năm 1928, 1930, nàng ra đời ở Sài Gòn. Ông thân nàng làm chủ một tiệm ảnh.
Nàng không dấu tôi chuyện nàng vì bệnh nên phải nghỉ học. Nàng yếu phổi. Nàng hẹn tôi chờ nàng khoảng 9 giờ một buổi sáng ở cửa Tây chợ Bến Thành. Nàng đi chợ ra, áo bà ba trắng, quần thâm, đi guốc. Nàng xinh quá. Chúng tôi vào một tiệm ăn đường D’Espagne ăn sáng. Ðến buổi gặp nhau này chúng tôi mới hỏi tên nhau.
Bốn giờ chiều tôi đến phòng mạch bác sĩ chờ nàng. Nàng đến khám bệnh định kỳ. Chiều nay nàng mặc áo dài mầu xanh lá cây, quần trắng, đi giép. Chúng tôi vào Sở Thú. Nàng và tôi ngồi trên cỏ chụp hình. Nàng là người thiếu nữ thứ nhất chụp ảnh với tôi.
Bốn giờ chiều Ngày Mồng Hai Tết chúng tôi vào Rạp Eden xem phim Pandora. Ðây là lần thứ nhất tôi xem xi-nê với một thiếu nữ.
Pandora, phim mầu Technicolor. Ava Gardner và James Mason trong hai vai chính. Ava Gardner từng được vinh danh là “Sinh Vật đi hai chân Ðẹp Nhất Hành Tinh.” Chuyện phim xẩy ra ở một thị trấn du lịch trên một bãi biển miền Nam Mỹ. Người đẹp Ava Gardner là nữ khách được nhiều người yêu mê. Nhưng ai yêu nàng cũng gặp những chuyện không may, gặp tai họa khốn khổ. Phim mở đầu trong một Bar rượu. Có năm, sáu người trong Bar. Chàng thi sĩ cùng ly rượu ngồi vào piano. Chàng buông hai viên thuốc vào ly rượu:
“Thuốc độc.” Chàng nói. “Tôi yêu nàng. Nàng không yêu tôi. Tôi không thiết sống.”
Chàng vừa đàn vừa ngâm bài thơ chàng làm tặng Nàng, bài thơ cuối cùng của chàng. Hai viên thuốc sủi tăm rồi tan trong rượu. Ðọc xong bài thơ, chàng nâng ly rượu lên uống. Rồi chàng lại đàn, lại đọc thơ. Chàng ngã xuống.
Trong Bar có ông bác sĩ. Ông xem mạch chàng thi sĩ, ông nói:
“Anh này chết rồi.”
Trên đỉnh dốc núi nhìn xuống biển, NhàVô địch Xe Ðua Thể Thao đứng bên chiếc xe đua của chàng. Nàng đứng bên xe:
“Anh quí cái xe này hơn hay anh quí tôi hơn?” Nàng hỏi.
“Anh quí em hơn.” Chàng đáp.
Nàng ra lệnh:
“Tôi muốn anh đẩy cái xe này xuống biển.”
Nhà Vô địch đẩy cái xe đua từ trên đỉnh dốc núi xuống biển.
Chàng – James Mason – là một du khách huyền bí. Chàng làm chủ một du thuyền trắng, đẹp. Du thuyền đậu ngoài khơi. Chàng lên khu du loch mướn một vi-la sống như một du khách. Tình cờ chàng và nàng gặp nhau trên bãi biển. Nàng bị chàng hấp dẫn. Khi ấy có một chàng đấu bò rừng – một matador người bản địa – yêu Nàng. Chàng Matador biết Nàng yêu người thuyền trưởng thanh lịch.
Chàng Thuyền Trưởng và Người Ðẹp đi ăn tối. Vào lúc nửa đêm, Thuyền Trưởng trở về vi-la chàng mướn. Ðêm trăng, chàng đi qua vườn cây. Chàng Matador chờ sẵn trong vườn, chàng phóng lưỡi dao găm. Ánh dao bay trong trăng, đến cắm phập vào lưng chàng Thuyền Trưởng. Chàng ngã sấp mặt xuống đất.
Chàng cầu nguyện:
“Xin Chúa cho con được chết.”
Trường đấu bò rừng rực nắng, đầy người, khán giả reo hò hoan hô chàng Matador sắp chiến thắng con bò rừng hung dữ. Giai nhân Ava Gardner ngồi ở hàng ghế trên khán đài, Bên nàng là chiếc ghế trống. Nàng đang băn khoăn vì chàng Thuyền Trưởng chưa đến. Ðêm qua khi chia tay nhau, chàng hứa chàng sẽ đến xem trận đấu bò rừng với Nàng.
Dưới sân, chàng Matador sắp đâm nhát kiếm cuối cùng kết liễu cuộc sống của con bò rừng đã bị chàng làm cho trọng thương. Theo thông lệ, chàng đến đứng trước chỗ Ava ngồi, chàng sẽ ném cái mũ lên cho Nàng. Việc chàng Matador ném mũ cho ai nói lên việc chàng tặng con bò rừng cho người đó.
Chàng Matador nhìn lên Người Ðẹp. Ðúng lúc chàng sắp ném mũ thì chàng trông thấy Người Thuyền Trưởng Tình Ðịch của chàng, đi đến chỗ Nàng ngồi. Thuyền Trưởng xanh sao, vẻ mệt mỏi, nhưng chàng vẫn đến được với Người Ðẹp.
Chàng Matador ngẩn người. “Sao nó vẫn sống? Ðêm qua mình phóng dao trúng vào lưng nó.” Chàng nghĩ. “Nó phải chết chứ. Làm sao nó sống được?”
Trong lúc chàng Matador ngẩn người, con bò rừng xông tới húc chàng bay lên.. .. Chàng chết giữa đấu trường.
Ðêm khuya. Chỉ có Chàng và Nàng trên du thuyền.
“Anh chưa kể chuyện đời anh với ai. Em là người đàn bà thứ nhất anh kể. Vì Em yêu anh, anh phải nói sự thật về Anh để Em biết. Anh là người bị trừng phạt: anh phải sống mãi, anh không được chết. Ngày xưa anh là Thuyền Trưởng một thuyền buôn. Anh và thuyền đi xứ lạ trong nhiều tháng. Khi về nhà anh nghi vợ anh ngoại tình. Bị anh nghi oan, nàng tự vận, Thiên Chúa phạt anh:
“Người đàn bà đó yêu ngươi mà ngươi nghi oan cho nàng làm nàng phải chết. Ngươi đã phụ bạc nàng. Ngươi sẽ sống mãi dưới trần gian với nỗi ân hận của ngươi. Ðến bao giờ có người đàn bà yêu ngươi sẵn lòng chịu chết cùng ngươi, ngươi mới được chết.”
Chàng kể tiếp:
“Từ đó anh phải sống trong không biết là bao nhiêu năm. Anh phải chịu bao nhiêu đau khổ. Anh phải thấy những người đàn bà đẹp anh yêu già đi, thấy các nàng chết. Mà anh cứ phải sống.”
Ðêm ấy có bão lớn ngoài biển, du thuyền ra khơi.
Bão đi qua. Biển chan hoà nắng vàng. Trời trong xanh. Có xác hai người nắm tay nhau theo sóng trôi lên bãi biển.
o O o
Tối xuống, Sài Gòn Ngày Tết trời mát. chúng tôi nắm tay nhau đi bộ đến Chợ Cũ. Mồng Hai Tết, tiệm Cơm Thố Tầu đã mở cửa. Nàng hỏi tôi về chuyện phim. Pandora nói tiếng Mỹ, nhờ phim có phụ đề chữ Pháp, tôi trả lời nàng được một số câu Nàng hỏi. Lời cuối Nàng nói về phim Pandora:
“Chuyện Tình Ðẹp, nhưng Buồn.”
Những năm 1950 tôi biết Pandora là tên một cái hộp rất đẹp nhưng bên trong có những thứ hại người. Pandora là một chuyện trong huyền thoại Cổ Hy Lạp. Năm nay – 2013 – tìm trong Internet, tôi được biết:
Pandora là tên một người đàn bà đẹp được cho xuống trần với một cái hộp thật đẹp. Nàng được Thần Zeus dặn không được mở hộp. Nhưng Nàng tò mò mở hôp. Từ trong hộp bay ra những tai họa cho loài Người: Hận Thù, Chiến Tranh, Bệnh Dịch, Bão Lụt, Phản Bội. Sợ Hãi. Pandora vội đậy nắp hộp, nhưng muộn rồi. Nàng nói cho chồng Nàng biết việc Nàng mở hộp. Chồng Nàng nói:
“Chắc trong hộp cũng phải có gì tốt cho loài người, không lẽ chỉ có toàn sự Xấu.”
“Hết rồi. Trong hộp không còn gì.” Pandora nói.
“Em cứ mở xem.”
Pandora mở hôp, trong hộp bay ra Vật cuối cùng:
“Hy Vọng.”
o O o
Mồng Hai Tết năm 1958, thời gian an bình, thịnh vượng nhất của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, vợ chồng tôi ăn trưa trong một hàng ăn trong thị xã Ðàlạt. Tết ấy chúng tôi lên Ðalạt ăn Tết. Chúng tôi đem theo đưá con trai 2 tuổi của chúng tôi.
Tôi nhìn thấy Nàng và chồng Nàng, đưá con trai khoảng 2 tuổi của vợ chồng Nàng, trong hàng ăn. Tôi thấy Nàng, Nàng không thấy tôi.
Time goes, You say?
Oh no, We go.
Time stays!
Thời gian qua?
Em ơi, không phải.
Chúng ta qua,
Thời Gian ở lại.

*
Tiếng gió trầm tiếng ca
Tiếng phách dồn lắng xa
Nhắc cho ngày xưa đó
Ðến vơi buồn lòng ta.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích
Ngày Mồng Năm Tết Quý Tị. 2013.

No comments: