Sunday, September 30, 2012

HUỲNH CHIẾU ĐẲNG * CẨN THẬN VỀ E MAIL

VÀI LỜI TÂM TÌNH CỦA
GS. HUỲNH CHIẾU ĐẲNG

 
 
 
Kính thưa quí bạn,
Tuy là cái email nầy ngắn nhưng phần đầu quan trọng lắm, các bạn nên đọc chậm chậm. Mà thôi, các bạn không đọc thì ráng chịu, mắc mớ chi tôi....
Hôm nay, tôi muốn nhắc các bạn cẩn thận khi dùng email và internet. Ngày nay chuyện gian dối quá nhiều. Đã nhiều lần, tôi thấy những email gởi đến kêu gọi gia nhập các trang web xã hội thí dụ như Face Book, như nhiều lắm quên mất tên… Cũng có nhiều trang web bắt đăng ký mới cho xem. Đa số bạn ta vô tình lọt bẫy. Internet là chốn giang hồ toàn là bí danh, ẩn danh không, người lương thiện và kẻ ác đều y nhau, các bạn nên cẩn thận lắm lắm!

1. Thí dụ ngày nào đó, các bạn nhận được email của tôi gởi đến mượn các bạn chừng năm bảy trăm hay một vài ngàn đô, vì lý do đi du lịch ngoại quốc bị mất hết giấy tờ và tiền bạc. Có bạn thấy thương tình bèn gởi tiền cho mượn. Té ra là đưa tiền cho kẻ gian.

2. Chuyện điển hình khác là các bạn nhận được email thông báo vừa trúng rút thăm của Google, của Microsoft…. Được 500.000 đô. Muốn nhận số tiền nầy thì các bạn phải ghi chi biết tên tuổi nghề nghiệp ngày sinh số account trong ngân hàng, địa chỉ… số phone… Vậy mà cũng có người mắc mưu kẻ gian khai hết “lý lịch” cũng như đăng ký “hộ khẩu”.
Hoặc có khi các bạn nhận được email nói rằng “tôi” là đốc tờ XYZ, chức vụ nầy nầy trong ngân hàng (tên và địa chỉ lạ hoắc) thấy có số tiển vô chủ. Nếu các bạn hợp tác với “tôi” thì mình chia đôi… Muốn hợp tác thì cho tôi biết tên tuổi và gia phả ba đời của bạn...
Hoặc tôi là nhân vật chức sắc ở quốc gia “Công Gô” có vài trăm triệu đô muốn chuyển ra ngoại quốc, nếu bạn hợp tác thì tôi sẽ chia cho bạn vài triệu đô đánh bài chơi. Muốn vậy thì bạn đưa gia phả của bạn cho tôi.
 
3. Chuyện gạt nhau khác nhẹ hơn là những webpage xin tiền phước thiện. Kế đó là loại email xin tiền để mổ tim, cắt bướu cho cháu bé mầm non Nụ Hồng nào đó. Gởi đi càng nhanh, càng nhiều càng tốt. Các bạn lầm thì ráng chịu, nhưng vô tình hại bạn bè khi forward chúng đi tiếp theo lời kêu gọi “càng nhanh, càng nhiều càng tốt”. Tại sao loại email nầy có hại các bạn tự tìm hiểu. Viết hoài mỏi tay quá rồi....
 
4. Chuyện thứ năm tinh vi hơn là kêu gọi ký tên thình nguyện thư chống một chuyện gì đó. Thí dụ qua email kêu gọi hãy log vô website nầy nầy để ký tên thỉnh nguyện thư kêu gọi nhà “cầm đồ” Lào ngưng xây đập trên sông Mekong (hay đem cầm nguyên cả đất nước), hoặc ký tên kêu gọi chánh phủ đừng làm một chuyện nầy chuyện nọ. Nhiều bạn thấy hữu lý vội vã lảm ngay mà không kịp suy nghĩ coi website đó là do ai làm ra, nhóm người lập ra đó là những người tin được không?
Khi mà các bạn ký tên vào “thỉnh nguyện thư” rồi thì tên tuổi các bạn có khi được thu thập gởi về… để ghi vào sổ đen.

5. Chuyện kế tiếp là có khi các bạn sẽ nhận được email xin vài chục đô gây quỹ. Nếu các bạn cho qua credit card thì, eo ôi Ông Địa, người ta biết số credit card và lý lịch các bạn rồi, không biết tương lai họ có dùng credit card của các bạn để mua hàng hóa hay đi Las Vegas đánh bài không. Ngay cả các bạn gởi biếu tấm check đi nữa thì số tiền trong check đó chạy vô túi ai các bạn đâu biết, dù cho trên check ghi rõ là trả cho “Quỹ cứu trợ nạn lụt năm Ất Dậu”.
Ngày nay, một đứa bé cũng có thể lập một webpage lớn để mọi người log vô thấy tưởng là do tổ chức nào có uy tín lắm. Có những website buôn bán hàng hóa khi log vô tưởng là của một công ty có hàng ngàn nhân viên, đâu có ngờ đó là webpage do một người duy nhất làm ra. Người nầy vừa là chủ nhân, vừa là thơ ký, vừa là nhân viên bán hàng, vừa là nhân viên giao hàng.
 
Nhân đây nói thêm: Nếu các bạn thường dùng credit card để mua sắm qua Internet thì nhớ dùng cái credit card có mức tiền tối thiểu chừng $1.500 thôi, đừng dùng cái credit card có limit vài chục ngàn đô.
Các bạn biết có nhiều chuyện mình đâu nói “trần” ra được. Nếu các bạn quan tâm và muốn tránh cho tương lai không bị mắc bẫy thì nên đọc từ từ hay đọc lại một lần. Với mấy hàng trên, các bạn nên đọc những chữ vô hình nằm giữa hai hàng chữ thật. 
Cũng vì những lý do đó mà tôi gọi Internet là chốn giang hồ có nhiều chông gai cạm bẫy. Hoa thơm cỏ lạ cũng có nhưng hiếm lắm, đa số là những kiến thức chết người, là hình “Photoshop”. Kẻ ngây thơ như đa số chúng ta thì “ngàn đời” vẫn bị gạt. Muốn tránh được phần nào thì phải luôn luôn có “chánh niệm” khi đi xách keyboard và bình cà phê dấn thân vào chốn  giang hồ.
Huỳnh Chiếu Đẳng

=========================


Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo...

“Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ... nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua một chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải...” - Dương Thu Hương.

“Một câu hỏi da diết xuất hiện trong những khoảnh khắc ấy: những gương mặt mà ta đã gặp, những ngôi nhà, góc phố, hàng cây, mỗi ngôi làng hay thậm chí một tiếng chuông chùa trong đêm sẽ như thế nào, sẽ ra sao, nếu như không có Ngày Độc lập 2/9 ấy?...” - Trương Tấn Sang

“Tạo hóa gây chi cuộc hí trường 
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương 

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo 

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương 

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt 

Nước còn cau mặt với tang thương 

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ 

Cảnh ấy người đây luống đoạn trường”
 
(Bà Huyện Thanh Quan)

Bài thơ tác giả “hoài cảm” sau năm 1802 khi Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn lên ngôi, niên hiệu Gia Long và định đô ở Huế. Từ đó, Thăng Long (Hà Nội) chỉ còn là “cố đô” - Lời thơ mang âm hưởng hoài niệm tiếc nuối một thời vàng son dĩ vãng.

Bối cảnh cũng gần giống như vậy – Sài Gòn xưa “hòn ngọc Viễn Đông” một hình ảnh thiêng liêng, thân thương không thể nào phai nhòa trong trái tim của gần ba mươi triệu người miền Nam, Việt Nam, có một thời, dù khói lửa chiến chinh từ phía Bắc, bên kia vĩ tuyến 17 tràn sang nhưng cũng cố gắng vươn lên trong những khoảnh khắc “tạm yên bình” ngắn ngủi giữa thập niên 60-70 – Ngắn ngủi thôi, nhưng những gì có được cũng đã làm cho những trái tim còn thuần khiết “tính người” như nhà văn nữ miền Bắc Dương Thu Hương phải mềm lòng thổn thức rơi lệ bởi cảm xúc trong ngậm ngùi, “tiếc nuối”, giữa lòng TP/phố Sài Gòn 30/4/1975. Nhà văn này tâm sự….

Dương Thu Hương(thở dài) Điên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.

Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp lắm vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy dẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ... nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua một chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.(Nguồn: Nhật Báo Người Việt).

Và mới đây trong một bài viết nói về ngày 2/9 có cái tựa “Phải biết hổ thẹn với tiền nhân” ông “Tổng thống” (CT nước) Trương tấn Sang như “tâm sự” rằng (nguyên văn): “Một câu hỏi da diết xuất hiện trong những khoảnh khắc ấy: những gương mặt mà ta đã gặp, những ngôi nhà, góc phố, hàng cây, mỗi ngôi làng hay thậm chí một tiếng chuông chùa trong đêm sẽ như thế nào, sẽ ra sao, nếu như không có Ngày Độc lập 2/9 ấy?...” thì những dòng của viết bài này ngoài mục đích hoài cảm “một thoáng hương xưa” với đồng bào, nhất là các bạn đọc trẻ trong và ngoài nước sinh sau 1975 thì cũng nhân tiện gửi đến ngài “Tổng thống nước” một số hình ảnh cũ của Sài Gòn ngày xưa, nơi mà chắc ngài không lạ (vì ngài từng là “chủ nhân ông”, hít thở không khí Sài Gòn một thuở) với cùng một câu hỏi: “… cảnh cũ này sẽ thay đổi ra sao, nếu như không có Ngày 2/9 định mệnh ấy?...” thưa ông!?...

Thập niên 1960-70 đường ray xe lửa vẫn còn trên đường Hàm Nghi - Sài Gòn

Nhưng vóc dáng một góc Sài Gòn, “thủ phủ Đông Dương” như thế này (1960-65) Bangkok, Singapore, Đài Loan và Seoul sau Đệ II thế chiến chưa thể có kịp, và những hình ảnh cũ dưới đây của Sài Gòn một thuở, người dân đang năng động hối hả xây dựng một cuộc sống phồn vinh cho đất nước, cùng nhịp điệu với các quốc gia tự do dân chủ vừa lấy lại độc lập trong khu vực Asean (Đông Nam Á) mà không tốn một giọt máu nào.


This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 769x513.
 

Sài Gòn những năm 1960-1970 (trên), cùng thời điểm (ảnh dưới) là Hà Nội. Không cốt ý bôi bác hay phê phán, bởi Nam Bắc cùng là dân Việt, nỗi buồn đâu của riêng ai! Mà đơn giản, so sánh để khẳng định cái từ ngữ chiêu bài mà những người CSVN đã “lừa bịp” đồng bào miền Bắc rằng: “Phải giải phóng đồng bào miền Nam đang bị kềm kẹp trong đói nghèo, đau thương” là không có thật... mà thời điểm ấy, quốc tế CS (Nga-Tàu) chi viện quân sự và chỉ thị cho CSVN phải tiến hành đánh chiếm “nhuộm đỏ” miền Nam VN trước khi “cộng sản hóa” Đông Dương (Việt-Miên-Lào”) và sau đó là Đông Nam Á, duy nhất trên thế giới tại thời điểm ấy chỉ có CSVN là lấy “máu xương, lương thực” của nhân dân miền Bắc làm “nhiên liệu” thử nghiệm cổ máy cộng sản làm bàn đạp để tiến xuống phía Nam Châu Á. Nhân dân miền Bắc không còn gì ngoài một đời sống “hắt hiu, u buồn” bên trong bức màn sắt CNXH. Lo toan hàng ngày của mọi người, duy nhất, là có một thứ gì đó cho vào bụng và mơ... một chiếc xe đạp! Tất cả họ, đều như là những con “ốc vít” trong một cổ máy chiến tranh, không có ngoại lệ, không ai được phép “sáng tạo” tư hữu cho bản thân và gia đình ngoài “Bác và đảng cộng sản”…

Hình ảnh Hà Nội thập niên 1960 – 1970:


Sài Gòn miền Nam - những năm 1960-1970 đang khởi đầu công nghiệp hóa nền kinh tế non trẻ bằng hệ thống Ngân Hàng quốc gia tài trợ cho các dịch vụ nhập khẩu máy móc trang thiết bị đầu tư kỹ thuật trong các dây chuyền sản xuất nâng cao giá trị và năng suất các sản phẩm hướng đến xuất khẩu, điển hình là băng rôn quảng bá cung ứng dịch vụ này treo ngang đường Tự Do (Đồng Khởi ngày nay) - một chính sách thức thời mà chế độ CS/XHCN miền Bắc còn rất xa lạ - không có trong kế hoạch, cũng như kinh phí ngoại tệ...

Sài Gòn -1966 - Băng rôn treo ngang đường Tự Do (Đồng Khởi)

Thập niên 1960-70 Hà Nội “kỹ thuật” chủ yếu dựa vào thủ công “sức người” bởi hàng “viện trợ” của Nga Tàu hầu hết chỉ là vũ khí súng đạn cung ứng cho cổ máy chiến tranh của CSVN rất ít hàng hoá dân dụng tiêu dùng.
24-10-1966 - Các Phu nhân Tổng Thống - bà Thiệu, bà Johnson, bà Kỳ, bà Marcos tháp tùng cùng Phu quân là các tổng thống, thủ tướng tại Philippines, trong phiên họp thượng đỉnh của các nguyên thủ quốc gia trong Hiệp Ước Liên Phòng Đông Nam Á.

19/5/2010 Bà Phó “PCT/Nước: Nguyễn thị Doan”(áo đen thứ ba bên phải qua) và các “VIP” phụ nữ của CHXHCN/Việt Nam tham dự hội nghị thượng đỉnh phụ nữ toàn cầu tại Bắc Kinh.

Cách nhau gần nửa thế kỷ - hai nhóm phụ nữa trên và dưới có quá nhiều khác biệt, không biết có phải là do “đặc trưng” của XHCN không? khiến chúng ta khi so sánh sẽ mỉm cười thú vị mà không cần phải bình luận! Cũng cần nhắc lại bà Nguyễn Thị Doan là tác giả câu nói bất hủ “Việt Nam dân chủ gấp vạn lần tư bản phương Tây...”

Nửa thế kỷ cách ngày hôm nay nhưng vóc dáng phong thái của “phái yếu” người Sài Gòn ngày xưa đó nét duyên dáng trí thức không lẫn vào đâu được, đa dạng mái tóc kiểu phương Tây, chiếc áo dài ngày ấy đã canh tân không còn “cổ cao”, tay áo cắt “raplan” và đặc biệt dễ nhận ra nhất của thập niên 60-70 là áo dài có “chít eo” ngang hông rất rõ, những chiếc “jup” tây phương sắc màu tươi trẻ nhưng không cao “quá gối” và nữ sinh, sinh viên tóc thề áo trắng nên thơ, nói chung, phụ nữ xã hội miền Nam Sài Gòn thuở ấy có đủ mọi thứ, để hoàn toàn tự do trang điểm làm đẹp cho chính mình mà không bị lệ thuộc bất cứ chủ nghĩa giáo điều khe khắt nào khác...

Phương tiện xe gắn máy cá nhân phổ biến thông dụng ở thủ đô Sài Gòn ngày đó ngoài các loại xe Vespa, Lamberetta Ý và Gobel, Mobilete, Velosolet của Pháp thì đa phần là hai loại xe Nhật, Honda 67 cho nam và Honda Dame cho nữ, nhìn hình ảnh các “bóng hồng” ngày ấy, đẹp và lịch sự trên đường phố Sài Gòn cách nay nữa thế kỷ mà cứ ngỡ như mới ngày hôm qua - (cô gái có cái bảng nhắc nhở mọi người lấy thẻ cử tri bầu cử Tổng Thổng 1967 – Và hai cô gái váy đen bên chiếc taxi hai màu xanh vàng mang số hiệu 7533 của Sài Gòn thập niên 1960). Hình ảnh đủ để chúng ta chiêm nghiệm cái lạc hậu độc tài bảo thủ cố chấp của CSVN đã kéo lùi thời gian gây nên sự trì trệ trong phát triển của dân tộc như thế nào so với những gì chỉ trong một thời gian ngắn Sài Gòn làm được trước kia và so với các nước láng giềng trong khu vực.


This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1226x364.
 Tương phản khác biệt quá nhiều của khung cảnh, con người Sài Gòn và Hà Nội cùng thời điểm, rất khó khăn và buồn lòng để bình luận khi mà mơ ước lớn lao nhất của mọi người miền Bắc lúc bấy giờ chỉ là chiếc xe đạp tầm thường Phượng Hoàng Trung Quốc trong khi xe đạp cực tốt mang nhãn hiệu “bồrô” của Pháp là mặt hàng bình dân ở miền Nam buôn bán đầy đường ….

Hà Nội 1960-70:




Thập niên 1960-70 minh chứng cho sự năng động phát triển kinh tế của Sài Gòn miền Nam mang tầm khu vực Châu Á hướng ra thế giới là hãng Hàng Không AIR Việt Nam với đội ngũ phi cơ phản lực mới nhất và các phi công chuyên nghiệp đường bay quốc tế mà hãng hàng không cộng sản Trung Cộng lúc bấy giờ chưa sở hữu được. Còn chế độ CS miền Bắc, Hà Nội thì chẳng biết gì về hàng không dân dụng ở thời điểm ấy. Người dân và sinh viên Sài Gòn miền Nam hoàn toàn tự do đi du học và xuất cảnh ra nước ngoài mà không bị ràng buộc bất cứ lý do gì, đó là một điều không tưởng với nhân dân miền Bắc... bị cô lập trong bức màn sắt CSVN. 

Nói đến hàng hóa tiêu dùng dân dụng thì tại thời điểm ấy thị trường Sài Gòn miền Nam hàng hóa trù phú chất lượng cao, còn nhiều hơn Trung Quốc, tấp nập bày bán tự do. Tại miền Bắc, Hà Nội chẳng có bất cứ một thứ gì để mà so sánh, bởi vì người dân bình thường Sài Gòn thời điểm ấy đang sử dụng quạt máy, tủ lạnh, máy may và TV đen trắng. Trong khi hai mặt hàng mà bất cứ người dân miền Bắc nào cũng mơ ước (như nhà văn Dương Thu Hương nói) là đồng hồ đeo tay và Radio thì thừa mứa ở các quầy hàng khắp miền Nam đến nỗi các hảng sản xuất phải treo bảng quảng cáo trên đường (trong ảnh). Nói cho vui, miền Bắc dưới sự lãnh đạo của đảng chỉ có hai thứ mà miền Nam không có là (tên lửa Sam 2 và phân người hoại mục).




So với miền Nam- Ngắm nhìn hình ảnh bà con nhân dân miền Bắc và Hà Nội - CS/XHCN với chế độ “tem phiếu” tranh nhau từng chiếc “lốp” xe đạp, mảnh thịt, lạng đường, hộp diêm ngày đó... mà buồn nản đến nao lòng.




Cụ thể hơn, Sài Gòn miền Nam không cần phải CNXH hay “đấu tranh giai cấp” nhưng nhìn hai hình ảnh dưới đây có cùng xấp xỉ thời gian thập niên 1960-70 để thấy, cùng một kiếp người “thì ai mới cần giải phóng cho ai”? (Sài Gòn phương tiện mưu sinh gắn máy giải phóng sức người lao động mang lại hiệu quả cao, Hà Nội công cụ mưu sinh còm cõi tiêu hao sinh lực không thấy tương lai).



Thượng tầng cấu trúc Quốc Gia – Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam, Sài Gòn)

Thời điểm ấy 1960-70 đầy đủ chuẩn mực, khuôn mẫu, của một đất nước văn minh ngày hôm nay. Tổng Thống và Lưỡng viện Quốc Hội (Thượng và Hạ Viện) – Điển hình là một cuộc họp tại thượng nghị viện Việt Nam Cộng Hòa (ảnh). Tự Do báo chí với hơn 50 tờ báo tư nhân các loại tại Sài Gòn so với không có tờ báo tư nhân nào dưới chế độ CSVN ngày nay, sau hơn 2/3 thế kỷ - CSVN gọi đó là thống nhất tự do dân chủ?

Sài Gòn miền Nam - người dân luôn được giáo dục nhắc nhở phải tôn trọng tri ân tưởng nhớ công lao các anh hùng tiền nhân của dân tộc, uống nước nhớ nguồn, tưởng niệm và tôn vinh, làm tấm gương soi rọi cho hậu thế noi theo (Kỷ niệm Lễ Hai Bà Trưng giữa lòng TP/Sài Gòn- và toàn dân tưởng nhớ đức Trần Hưng Đạo – Anh hùng Vua Lê Lợi).

Ngược lại dưới chế độ CSVN – Đục bia xóa bỏ chiến công Hoàng Đế Quang Trung (Đền Vua Quang Trung núi Dũng Quyết), gắn thêm ngôi sao VN lên cờ trung Quốc, tổ chức “Đại Hội Toàn Dân, Quân VN nhớ ơn trung Quốc” tại thủ đô Hà Nội!? cho vui lòng “đồng chí” 4 tốt 16 vàng...



Hai hình ảnh trên, dưới – cách nay nửa thế kỷ cho thấy 1967 nhân dân SG bất đồng chính kiến vẫn được chính quyền Sài Gòn tôn trọng chấp nhận cho biểu tình.
Hơn 40 năm sau, 2011, dưới chế độ CSVN tại Hà Nội - Sài Gòn, người dân biểu tình, dù là “yêu nước” chống TQ xâm lược lại bị đàn áp tàn bạo!


1958 – Quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa – Do QL/VNCH quản lý. Ông Phạm Văn Đồng (CS Bắc Việt) dưới sự chỉ đạo của ông HCM, ký công hàm xác nhận Hoàng Sa nằm trong lãnh hải Trung Quốc.

1974 – Hải quân Trung Quốc xâm lược đánh chiếm Hoàng Sa trong tay QL/VNCH – CS Bắc Việt im lặng. Trong khi nhân dân Sài Gòn miền Nam và kiều bào hải ngoại biểu tình lên án và phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc khắp nơi.

Những cuộc biểu tình của đồng bào miền Nam - Việt Nam Cộng Hòa toàn quốc và khắp nơi trên thế giới của Sinh viên và Việt kiều năm 1974 tố cáo và phản đối Cộng Sản Trung Quốc xâm lược quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.


Băng rôn sinh viên học sinh đồng bào SàiGòn biểu tình tố cáo, phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa năm 1974: “Cương quyết tận diệt Trung Cộng kẻ thù truyền kiếp của dân tộc”.

27-1-1973, CSVN ký hiệp định đình chiến chấm dứt chiến tranh tại Paris.
Trong đó Điều khoản 5 qui định: Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình.

Bà Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại
hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973).

Tuy nhiên – Khi Mỹ rút hết quân – 1975 cộng sản Bắc Việt xua quân tràn vào đánh chiếm miền Nam Việt Nam, bất chấp chữ ký của họ trước đó trong Hiệp Định Paris.

1975 - Sinh viên VN tại Pháp “để tang” cho đất nước ngày 30/4.

Những bánh xích chiến xa của cộng sản miền Bắc VN đã nghiền nát giấc mơ của gần 30 triệu người miền Nam đang mang khát vọng đưa Sài Gòn và miền Nam VN cất cánh bay lên như Singapore, Đài Loan, Thái Lan, Hàn Quốc ngày nay.

Họ, CSVN lừa bịp dân tộc, lừa bịp quốc tế, trơ tráo xé nát Hiệp Định Paris - Phá bỏ điều khoản 5: (Thống nhất VN bằng những giải pháp hòa bình), họ dấu tiệt lá “cờ đỏ sao vàng” vượt vĩ tuyến 17 bằng súng đạn, xâm lược đánh chiếm miền Nam bằng lá cờ “nửa xanh, nửa đỏ” MTGPMN. Để khỏi vướng bận và “tranh công” vài tháng sau 30/4 họ tự động hạ cờ “xanh đỏ” giải tán “tấm bình phong bù nhìn” MTGP/MN này.

Chính họ - CSVN đã phạm một sai lầm “vĩ đại” bắt cả dân tộc phải huynh đệ tương tàn hy sinh gần 5 triệu người - một thế hệ thanh niên tinh hoa của quốc gia nằm xuống vô nghĩa, đổi lại lấy về một giang sơn của cha ông làm hao hụt đất đai biên giới biển trời hải đảo và còn hơn thế nữa họ đẩy người Mỹ đi để Biển Đông trống trải không ai canh giữ, cho bọn bành trướng Trung Quốc rảnh tay tự do thôn tính biển đảo quê nhà VN mà họ, CSVN, đang lực bất tòng tâm bắt cả nước phải “Đại Hội toàn Dân-Quân VN nhớ ơn Trung Quốc”!

“… Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua một chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải…”


Bu`i Ba?o So+n CVA65

PHAN HẠNH * LÒNG HÀO HIỆP

 
Lòng hào hiệp và Thói tiểu nhân

Có một câu chuyện xảy ra trong giai đoạn gần cuối Đệ Nhị Thế Chiến liên quan đến lòng hào hiệp của Trung úy phi công Franz Stiegler của Luftwaffe (Không Quân Đức) đã tha mạng cho do Trung úy phi công Charles Brown cùng phi hành đoàn 10 người trên một oanh tạc cơ Hoa Kỳ đang khốn đốn trên bầu trời. Điều đáng khâm phục là câu chuyện đó do chính Trung úy Brown kể lại. Tại sao lòng hào hiệp của viên phi công Đức đó khiến cho người Mỹ tôn vinh? Vì mặc dù vẫn biết Brown đang đi dội bom nước Đức, vẫn biết tha cho địch là mất cơ hội được trao tặng huy chương cao quý và có thể bị đưa ra trước tòa án quân sự để lãnh án tử hình, nhưng Trung úy Franz Stiegler vẫn chấp nhận do lòng hào hiệp.

Trong tác phẩm Tâm Hồn Cao Thượng thuộc loại sách chuyện dành cho trẻ em do Hà Mai Anh dịch từ nguyên tác Les grands coeurs của văn hào Edmond De Amicis người Ý, Chương Sáu với tựa đề Lòng Hào Hiệp kể về Crotsi, một cậu học sinh nghèo tàn tật vì bị chọc ghẹo chế giễu nên đã không dằn được sự nóng giận và đã ném lọ mực văng trúng thầy. Người bạn tốt của Crosti là Garoné đứng ra nhận tội thế nhưng vị thầy không tin. Thế rồi Crotsi thú nhận tội. Thầy mắng mấy đứa học trò quỉ quái đã chọc giận và ăn hiếp kẻ yếu như sau: “Các anh đã vô cớ lăng mạ một người bạn không trêu chọc các anh. Các anh đã chế giễu một người tàn tật. Các anh đã xúc phạm một đứa trẻ yếu đuối không tự vệ được. Các anh đã làm một điều hèn hạ đáng xấu hổ, một điều có thể làm nhơ nhuốc đến phẩm giá của con người, các anh là những đồ đê tiện!” Nghe vậy, Garoné xin thầy tha thứ cho mấy đứa học trò quỉ đầu gấu hay bắt nạt. Đó là một tấm gương của lòng hào hiệp, là lối cư xử của người quân tử.
 
Khái niệm quân tử và tiểu nhân đều có mặt trong mọi nền văn hóa Đông phương hay Tây phương.

Nho giáo Trung Hoa phân chia con người trong xã hội ra làm hai tầng lớp quân tử và tiểu nhân. Sự phân định này có thể do Khổng Tử đề ra hoặc đã xuất hiện từ giữa đời Chu trước Khổng Tử. Từ đời Chu cho đến thời Chiến quốc, hai chữ “quân tử” (Jūnzǐ 君子) được dùng để chỉ lớp đại trượng phu và quý tộc có ý nghĩa tương đương với “gentleman” của Anh ngữ. Những tầng lớp khác trong xã hội đều là Tiểu nhân. Quân tử và Tiểu nhân chỉ là phép định danh theo địa vị xã hội cổ xưa; ý nghĩa của chúng đã biến đổi theo thời gian. Ngày nay, quân tử mang ý nghĩa hào hiệp cao thượng trong khi tiểu nhân ngày nay đồng nghĩa với tâm tính hèn hạ.
Luận về bậc đại trượng phu, quân sư của Tào Tháo là Trình Dục cho rằng đại trượng phu là người hội đủ ba đức tính: 
1) Không nỡ hiếp đáp kẻ dưới, không lấn át kẻ yếu. 
2) Ân oán phân minh. 
3) Tín nghĩa rõ rệt. 
Đem nguyên tắc này áp dụng trong binh thư quân ngũ, Trình Dục qui định rằng tướng soái đại trượng phu không giết đối phương đã ngã ngựa (kẻ dưới) và buông khí giới đầu hàng (kẻ yếu).
Do đó, chúng ta thấy lòng hào hiệp và tinh thần mã thượng là một phẩm chất của con người do hun đúc mà có chứ không phải một thứ tước vị được ban cho.

Chức tước và địa vị xã hội chưa hẳn là yếu tố duy nhất biến một nhà quí tộc thành hiệp sĩ đại trượng phu. Trước sự cầu khẩn của một bà mẹ xin vua ban cho con trai của bà chức tước hiệp sĩ, vua James II của Anh quốc (1633-1701) từng nói: "Tôi có thể biến con bà thành một nhà quí tộc nhưng ngay cả Đấng Vạn Năng cũng không thể biến cậu ta thành một bậc đại trượng phu. (I could make him a nobleman, but God Almighty could not make him a gentleman.)

Lòng hào hiệp mã thượng thường đi liền với danh dự. Tại các nước châu Âu thời thế kỷ thứ 17, đàn ông thuộc giới quí tộc thường giải quyết những tranh chấp cá nhân bằng thách thức so kiếm để bảo vệ danh dự đã bị xúc phạm trước đám đông; đến khi súng được phát minh thì trở thành các cuộc đọ súng. Nhưng một người có lòng hào hiệm mã thượng không bao giờ đưa ra lời thách thức giao đấu trước với một kẻ thua kém tài sức hơn. 
(Không nỡ hiếp đáp kẻ dưới, không lấn át kẻ yếu).

Tượng đài vua Lê Lợi ở Thanh Hóa

Trong lịch sử nước nhà, vị tướng soái nổi tiếng không giết kẻ đầu hàng chính là Lê Lợi (1385-1433), vị thủ lãnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã chiến thắng quân Minh và trở thành vị vua đầu tiên của vương triều nhà Hậu Lê, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam. Tháng Chạp năm Đinh Mùi (1427), soái tướng nhà Minh là Vương Thông cùng hàng vạn quân binh thua trận quy hàng. Các phó tướng và nghĩa quân muốn giết họ để trả thù tội ác đối với người Việt trong suốt thời gian Việt Nam dưới ách đô hộ của triều Minh. Lê Lợi nói “Bản tâm của người nhân đức là không muốn giết người. Không nên vì muốn trả thù mà mang tiếng xấu muôn đời là đã giết kẻ đầu hàng.” Vì muốn giữ hòa khí giữa hai nước nên Lê Lợi đã truyền lịnh cấp đầy đủ phương tiện cho hàng binh Tàu hồi hương.
 
Lòng hào hiệp trong truyền thống Hoa Kỳ


Lễ ký văn bản đầu hàng, tướng Grant bắt tay tướng Lee (áo xám, râu trắng)

Sự kiện này không khỏi bắt chúng ta liên tưởng đến sự kết thúc của cuộc nội chiến Hoa Kỳ xảy ra trong buổi lễ ký kết đầu hàng giữa tướng Robert E. Lee (Hợp Bang, Confederate, phe miền Nam thua trận) và tướng Ulysses S. Grant (Liên Bang, Union, phe miền Bắc thắng trận) đầy lòng hào hiệp và tinh thần mã thượng tại thị trấn Appamatox, thuộc tiểu bang Virginia ngày 9 tháng 4 năm 1864. Sau khi tướng Lee đặt bút ký tên vào văn bản đầu hàng, để xoa dịu nỗi đau buồn tủi nhục của người bại trận, tướng Grant bắt tay cựu đối phương và nói: “Trong cuộc chiến này, chỉ có nước Mỹ chiến thắng chớ không có ai thắng ai thua.”
Thật vậy, tướng Grant ra lệnh cho quân sĩ dưới quyền không được reo hò chiến thắng và phải đối xử kính trọng với chiến binh bại trận. Các sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đang có mặt đều đưa tay kính cẩn tiễn chào tướng Lee ra về. Thể theo lời yêu cầu của tướng Lee, tướng Grant cho phép binh sĩ phe miền Nam được mang lừa ngựa về quê quán để sử dụng trong nông trại vì đó là tài sản của riêng họ mang theo khi gia nhập quân đội. Ngay cả cờ của phe miền Nam không hề bị cấm, vẫn tự do tung bay bất cứ nơi nào. Ngày nay, khi viếng thăm Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington ở thủ đô Washington DC, chúng ta sẽ thấy mồ mả binh sĩ Miền Bắc và Miền Nam đều giống nhau không phân biệt ai là “liệt sĩ anh hùng” ai là “lính ngụy”. Trong sách giáo khoa hay tất cả các bảo tàng viện khắp nước Mỹ, tài liệu lịch sử, di tích, hình ảnh quân đội hai bên đều được trung thực ghi lại và gìn giữ trân trọng như nhau không thiên vị bóp méo. Phải chăng đó là do truyền thống tốt đẹp với tinh thần mã thượng hào hiệp.

Tinh thần mã thượng hào hiệp đại trượng phu của người Mỹ được thể hiện đối cả kẻ thù khác chủng tộc. Cuộc tấn công gây hấn bất ngờ của quân đội đế quốc Nhật vào căn cứ hải quân Trân Châu Cảng ở Hạ Uy Di sáng ngày 7 tháng 12 năm 1941đã giết chết 2,402 quân nhân Hoa Kỳ và gây thiệt hại nặng nề cho lực lượng hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương gây bàng hoàng. Hoa Kỳ bắt buộc phải tuyên chiến với Nhật. Không đầy bốn năm sau, Hoa Kỳ đã khiến Nhật phải khuất phục. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên chiến hạm Missouri, đại diện của các nước Đồng Minh và chính phủ Nhật Bản chính thức ký văn kiện đầu hàng.

Hình: Tướng Yoshijiro Umezu, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhật, ký tên vào văn bản đầu hàng trên chiến hạm USS Missouri (BB-63), ngày 2 tháng Chín 1945.

Sau khi ký xong, đại diện của Đồng Minh là tướng MacArthur đọc bài diễn văn ngắn gọn nhưng chứa đựng tất cả tinh thần cao thượng của người Mỹ có đoạn như sau: “Đây là hy vọng thiết tha nhất của tôi, và thật sự cũng là hy vọng của toàn thể nhân lọai, rằng từ sự kiện trang nghiêm này một thế giới tốt đẹp hơn sẽ hiện ra từ máu và sự chém giết nhau trong quá khứ - một thế giới sẽ phục sự cho nhân phẩm con người và để hoàn thành ước nguyện cao cả nhất cho tự do, lòng bao dung và sự công bằng.” Ngay sau khi đặt chân đến Tokyo, MacArthur ra lệnh cho các binh sĩ dưới quyền ông không được trả thù người Nhật vì bất cứ lý do gì và ưu tiên hàng đầu của ông phải lo cho người dân Nhật qua khỏi cơn đói rách do các hậu quả của chiến tranh.

Nói về tinh thần hào hiệp mã thượng của người Mỹ, cựu thủ tướng Tony Blair của Anh đã viết như sau trong quyển hồi ký The Journey: “Trong phẩm cách của người Mỹ có tinh thần mã thượng hào hiệp, được hun đúc qua nhiều thế kỷ, phát xuất từ tinh thần khai phá biên cương để lập nghiệp, và nhiều đợt di cư của các sắc dân khắp thế giới đổ về đây, từ cuộc chiến đấu để dành độc lập, đến cuộc nội chiến, từ nhiều biến cố lịch sử, cũng như những sự kiện tình cờ. Tất cả đã làm thành một nước Mỹ vĩ đại.”
 
Còn Việt Nam thì sao?

Tinh thần hào hiệp mã thượng hầu như vắng bóng. Suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam có được bao nhiên tấm gương của tinh thần này hay chúng ta chỉ có lập rồi phá chớ không có tiếp nối. Và sau mỗi lần lật đổ một triều đại hay một chế độ là những cuộc giết hại công thần, thanh trừng đẫm máu, những sự trả thù tàn bạo theo kiểu diệt trừ hậu hoạn, nhổ cỏ phải nhổ tận gốc đưa đến tru di tam tộc, đào mồ cuốc mả. Sự việc đó cứ tiếp tục như thế từ đời này sang đời khác. Phương cách trả thù có khác đi nhưng độ khốc liệt không hề giảm mà còn bao trùm rộng lớn hơn.
 
Tiểu nhân từ sự bắt buộc một tổng thống đầu hàng

Sáng ngày định mệnh 30-4-1975 tại Dinh Độc Lập, trong lúc chính phủ VNCH do tổng thống Dương Văn Minh cầm đầu đã chỉnh tề sẵn sàng chờ đợi đại diện của phe CSBV dưới danh hiệu MTGPMN đến để bàn giao, Đại úy Phạm Xuân Thệ là một trong những người đầu tiên mà họ gặp sau khi toán xe tăng T54 thuộc Trung đoàn 66 của Thệ ủi sập cổng Dinh Độc Lập để tiến vào. Về sau này lên đến chức Trung tướng, Phạm Xuân Thệ kể lại: “Sau đó Dương Văn Minh lại bước thêm một bước nữa về phía chúng tôi nói “Báo cáo cấp chỉ huy, chúng tôi đã biết Quân giải phóng tiến công vào nội đô, chúng tôi đang chờ Quân giải phóng vào để bàn giao”. Nghe thấy vậy, tôi liền tuyên bố dứt khoát: “Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không có bàn giao gì cả”. Thấy tôi nói vậy, cả phòng im lặng. Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu cùng số người trong phòng lùi về ngồi vào ghế. Dương Văn Minh có lẽ bị hẫng vì định giữ thế chủ động ra vẻ thiện chí bàn giao lại chính quyền, thành ra bị động, lúng túng đành cúi đầu chờ đợi.”
Sau đó Tổng Thống Dương Văn Minh bị bắt buộc đưa đến đài phát thanh để đọc lệnh đầu hàng do Thệ viết trước và được Trung tá Bùi Xuân Tùng, Chính ủy Lữ đoàn 203 chấp thuận.


Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh Sài Gòn. Phạm Xuân Thệ đội nón cối đứng bên mặt trong bức ảnh.

Hai tuần lễ sau khi VNCH đầu hàng, trong buổi lễ ăn mừng chiến thắng được tổ chức rầm rộ ngày 15/5/1975, tướng Trần Văn Trà đã nói trước mặt mọi người: “Trong cuộc chiến này, cả Miền Bắc và Miền Nam đều chiến thắng, chỉ có người Mỹ bại trận”. Có đúng vậy không hay chỉ là một câu nói mị dân nằm trong mục đích tuyên truyền của chế độ để lừa gạt tất cả những quân dân cán chính VNCH. Mười ngày “học tập” do chính sách “khoan hồng của Đảng” hứa hẹn 10 trở thành năm, mười năm hay lâu hơn thế nữa. Cựu chiến binh, thương phế binh và tử sĩ của QLVNCH bị nhà cầm quyền CSVN đối xử ra sao suốt từ ngày ấy?

Cuối năm 2004, khi nhắc đến cuộc chiến tranh đã lùi xa gần ba mươi năm, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát biểu: “Nhiều sự kiện khi nhắc lại, có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn”. Không buồn sao được khi phe chiến thắng đã “giải phóng”, đã “thống nhất”, đã thâu tóm hết tài sản của phe thua trận, thế mà vẫn còn tiếp tục sỉ nhục và tìm cách xóa bỏ mọi vết tích của đối phương mà họ từng gọi là đồng bào ruột thịt. Mãi đến gần cuối đời (mất năm 2008), ông Võ Văn Kiệt mới nhìn nhận “Yêu nước có thể bằng nhiều con đường. Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả”. Ông nỗ lực giúp đỡ việc tìm lại hài cốt của những tù nhân nguyên là sĩ quan của QLVNCH chết trong các trại tù cộng sản, gặp gỡ giới chức có thẩm quyền tỉnh Bình Dương để bàn về vấn đề việc phục hồi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa hầu mong xoa dịu nỗi buồn của hàng triệu người miền Nam. Nhưng như chúng ta thấy, vòng oan khiên vẫn còn tròng trên cổ người sống và trên những nấm mồ của người chết chỉ vì người cộng sản Việt Nam chẳng những thiếu một tinh thần hào hiệp mã thượng mà còn trả thù người ngã ngựa một cách tiểu nhân.
 
Tiểu nhân với tù hàng binh

Chuyện người cộng sản trả thù tiểu nhân như thế nào hầu như chúng ta ai cũng biết, nếu không từ kinh nghiệm bản thân, không chứng kiến tận mắt thì cũng nghe từ bạn bè thân quyến kể lại. Khi viết hồi ký Tháng Ba Gãy Súng kể lại kinh nghiệm bị Việt Cộng bắt trong lúc tìm phương tiện di tản, cựu trung úy Cao Xuân Huy thuộc Tiểu đoàn 4 TQLC không lồng vào đấy bất cứ một hư cấu nhỏ nào. Không nhằm ca tụng ai, không lên án ai, ông chỉ muốn nói lên hoàn toàn sự thật. Chúng ta hãy đọc một đoạn ông kể về sự trả thù như sau:

“Ðoàn tù chúng tôi đi thất thểu trên đường, đoành một tiếng, một xác người ngã xuống bờ ruộng, đoành một tiếng, một xác người nữa ngã xuống bờ ruộng. Một người đi ngay bên cạnh tôi bị bắn vào đầu, máu và óc văng dính cả vào người tôi.
Trò bắn giết rất kỳ cục và khó hiểu. Những người bị bắn chết và những người không bị bắn -hay chưa bị bắn- đều không hiểu tại sao bọn Việt Cộng lại bắn người này mà không bắn người kia. Tại sao thằng Việt Cộng này không bắn người này mà bắn người nọ? Chúng tôi rất hoang mang nhưng lúc này không ai có phản ứng gì, mọi người vẫn cứ lầm lũi, thất thểu đi. Ðói, khát, mệt mỏi và luộm thuộm lếch thếch, chúng tôi đi, hoang mang không hiểu bao giờ đến lượt mình bị bắn.
Số người bị bắn mỗi lúc dĩ nhiên mỗi nhiều hơn. Tất cả lon lá đã được gỡ ra từ sáng, khi chúng tôi mới nhận được quần áo mang từ bờ biển vào. Râu ria trên mặt biểu hiệu cho chức cấp hiểu theo nghĩa Việt Cộng cũng không phải, vì nhiều người để râu, trong đó có cả tôi, không hay chưa bị bắn, nhiều người râu ria nhẵn nhụi đã bị bắn.
Mãi về sau, khi nghe được bọn Việt Cộng cầm súng đi tìm người để bắn nói chuyện với nhau chúng tôi mới vỡ lẽ ra. Những tên Việt Cộng nào đã từng bị tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến nào đánh cho xất bất xang bang lúc trước, lúc này cứ đi tìm huy hiệu và bảng tên của tiểu đoàn đó mà bắn.
Người mặc áo có gắn phù hiệu của tiểu đoàn 5 không bị thằng Việt Cộng này bắn nhưng bị thằng Việt Cộng khác bắn. Người mặc áo có gắn phù hiệu tiểu đoàn 3 bị bắn bởi thằng Việt Cộng không bắn người mặc áo của tiểu đoàn 4.
Chúng tôi lột hết bảng tên và phù hiệu tiểu đoàn.
Cuộc bắn giết thưa dần rồi chấm dứt.”

Giết tù hàng binh, chỉ có những người Cộng Sản vì theo một chủ nghĩa bạo lực cách mạng sắt máu mới nuôi lòng hận thù như vậy. Họ là những con người sinh ra, được huấn luyện để sống với hận thù và chỉ tồn tại khi còn hận thù.
Qua bài viết Mùa Xuân Nào Tôi Mất Cha, tác giả Võ Trang viết: “Nhiều người nói với tôi rằng Cộng Sản thắng được là nhờ họ dám tàn nhẫn. Với tôi, họ không những chỉ tàn nhẫn trong những thủ đoạn tra tấn, đàn áp và giết chóc mà còn tàn nhẫn bóp méo cả lịch sử, tình quê hương, lòng nhân đạo, những giá trị nhân bản, những tổn thương văn hoá của dân tộc.”

Theo lời kể của nhiều nhân chứng, ngày 1 tháng Năm 1975, sau khi bắt được Đại tá tỉnh trưởng Chương Thiện Hồ Ngọc Cẩn, Việt Cộng đánh đập ông tàn nhẫn, biệt giam, đưa ra tòa án nhân dân xét xử. Tuyên án tử hình và lập pháp trường cát bắn chết ông xong, Việt Cộng đem xác ông bỏ tại chợ Vị Thanh, Chương Thiện cho công chúng qua lại xem và bêu xấu ông, cho ruồi bọ đục khoét thi thể ông. Sau đó chúng cột chân ông vào xe Jeep kéo lê trên đường phố. Thật dã man vô cùng.

Một sĩ quan cấp Tá khác bị VC trả thù dã man là Th/Tá Trần Đình Tự, Tiểu đoàn trưởng TĐ 38 BĐQ. Mũ Nâu Thiên Lôi kể rằng sáng ngày 30/4/1975, sau khi nghe Trung Tá Liên Đoàn Trưởng Lê Bảo Toàn họp và thông báo lại lệnh đầu hàng, Thiếu tá Trần Đình Tự, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 38 BĐQ nói với binh sĩ của ông rằng họ có toàn quyền lựa chọn trở về với gia đình, còn ông sẽ ở lại tiếp tục chiến đấu. Có gần 40 tay súng tình nguyện ở lại. Ông dẫn những người hùng quyết tử tiến vào khu vực vườn khoai mì để tiếp tục ăn thua với địch đến viên đạn cuối cùng. Chín người sống sót bị giải về sân trường Tiểu Học gần đấy.
Thủ trưởng Việt Cộng đến trước mặt Th/T Tự lớn tiếng lăng nhục QLVNCH và chỉ ngay mặt ông thoá mạ thậm tệ, bắt cởi bỏ quân phục với cấp hiệu may dính trên cổ áo. Th/T Tự phản đối để tiếp tục nghe VC nhục mạ mắng chửi. Ông chửi lại nên bị tên VC dùng dao găm đâm và rạch bụng ruột đổ ra ngoài rồi dần dần gục xuống trên vũng máu. Tám quân nhân còn lại cũng đều bị xử bắn và quăng xác xuống vũng nước. VC còn tiếp tục gây khó khăn cho gia đình Th/T Tự trong việc xin lại xác và thờ cúng. Mũ Nâu Thiên Lôi viết:
“Câu chuyện về sự trả thù đê hèn và dã man của bè lũ Cộng Sản Việt Nam là hoàn toàn sự thật. Và dĩ nhiên sự trả thù, cung cách đối xử của Cộng Sản dành cho Quân nhân QLVNCH và gia đình hoàn toàn do chính sách, kế hoạch đã được chỉ thị từ Trung Ương xuống, nhưng nếu có ai hỏi đến chúng nó lại bỏ mép đổ vấy cho địa phương, cho nhân dân, cho cá nhân nào đó nóng giận gây ra.”
 
Tiểu nhân với cả người đã chết

Chúng ta đều biết ngoài việc Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa (NTQĐBH) bị tìm cách xóa dấu vết bằng việc trồng cây muồng như blogger Lê Tùng Châu đã nêu lên trong bài viết “Tiếng Kêu Khẩn Thiết Từ Ngôi Đền Thiêng” , sự phân biệt đối xử với thương phế binh VNCH cũ, nhà cầm quyền CSVN còn từ chối cả sự tìm kiếm hài cốt tử sĩ mất tích của VNCH, cho dù với ngân khoản do chính phủ Hoa Kỳ trợ cấp. Lê Tùng Châu cho rằng việc trồng cây muồng trong NTQĐBH là một âm mưu thâm độc của CS. Anh giải thích:


Hình các bia mộ hoặc bị đập bể sứt hoặc bị hoặc bị đục thẳng bằng búa vào mắt, mặt, đầu trên di ảnh người quá cố.

“Năm 2002 khi Trung đoàn Gia Định tới cắt cụt ngọn Nghĩa Dũng Đài làm vọng gác và xây nhà nhỏ ở dưới chân rồi dùng phần đất trống trong Nghĩa Trang để làm nơi tập luyện thì cũng tự đây, không rõ theo lệnh ai, họ đã bắt đầu một việc độc ác có chủ mưu là trồng cây khắp Nghĩa Trang và kín khắp Đền Tử Sĩ. Nên biết rằng, về thổ nhưỡng, khu đất được các Tướng lãnh VNCH khi xưa chọn làm Nghĩa Trang là một ngọn đồi đất đỏ với đá non, nhỏ. Cho nên về mặt dinh dưỡng, là loại đất chẳng phù hợp để trồng cây.”
“Vả lại, nếu ta so sánh với các “nghĩa trang liệt sĩ” của VC rải rác khắp nước từ bắc chí nam, thì trong nghĩa trang chẳng có trồng cây bao giờ. Các khu mộ, dù là dân sự hay quân độ trên khắp thế giới, cũng không hề có nơi đâu lại trồng cây trong nghĩa trang! Vì lẽ đây là không phải là đất trống, mà bên dưới mỗi diện tích kim tĩnh nhỏ bé 1m,2 x 2m,4 là di cốt của người quá cố. Các loại cây trồng, nhất là cây lấy gỗ hay cây rừng sẽ có lớp rễ ăn sâu và rộng nếu đó là loại đất nghèo dinh dưỡng, do đó, theo thời gian, chúng sẽ xâm phạm tàn phá biến dạng hoàn toàn các mộ phần. Thêm nữa, với tập tục Á Đông, người Việt mình tối kỵ mồ mả cha ông bị rễ cây đâm vào bởi tin rằng sẽ làm “đau đớn, khó chịu” linh hồn người chết và con cháu sẽ không thể sống yên hay làm ăn yên ổn được.”

Ngày 06-10-2011, do Hà Nội nhất định không chịu tìm hài cốt quân nhân VNCH trong công tác tìm kiếm chung cho tất cả hài cốt tử sĩ hai bên, Hoa Kỳ đã ngưng tài trợ chương trình này. Trước đó, Nghị Sĩ Jim Webb, chủ tịch Tiểu Ban Ðông Á và Thái Bình Dương, cho hay chính phủ Mỹ đã đình chỉ số tiền viện trợ 1 triệu đô la cho Việt Nam cho đến khi Hà Nội cam kết sẽ tìm cả hài cốt quân nhân VNCH mất tích. Tuy nhiên, Hà Nội lại nói là họ không được chính thức thông báo điều này. Theo sự ước tính, hàng ngàn hài cốt quân cán chính VNCH mất tích trong cuộc chiến Việt Nam cùng với hàng ngàn hài cốt tù cải tạo chết trong các nhà tù cộng sản sau khi VNCH sụp đổ, vùi lấp trong các khu rừng.
Thượng Nghị Sĩ Webb, cũng là một cựu quân nhân từng tham chiến ở Việt Nam và từng đi thăm NTQĐBH năm 2008, nói không có ngân khoản nào được sử dụng “cho đến khi chúng ta được bảo đảm chắc chắn rằng chương trình viện trợ áp dụng đồng đều cho tất cả những ai chiến đấu ở tất cả các bên.” Nhà cầm quyền CSVN thì nói các cuộc thương thuyết của chương trình này không có đề cập tới những tử sĩ của QLVNCH. TNS Webb khuyên Hà Nội nên tìm cách hòa giải với cựu quân nhân VNCH nhưng xem ra không kết quả vì dường như CSVN chưa hề biết hào hiệp mã thượng là gì. Nếu biết thì họ đã không trả thù một cách tiểu nhân đối với những nấm mồ trong NTQĐBH. Rất nhiều hình tử sĩ trên bia mộ bị bắn bằng súng với dấu đạn lỗ chỗ, bia mộ bị đập phá, mộ phần bị phóng uế và bị sơn vẽ những lời nguyền rủa.
 
Phan Hạnh.