Tuesday, July 31, 2012

THỦ ĐÔ VĂN HIẾN


THỦ ĐÔ NGÀN NĂM VĂN....THIẾN !?


Hà Nội: Lòng tự trọng còn xa xỉ nói gì đến văn hóa!


 
“Một đất nước có hơn 9.000 giáo sư mà chỉ có 12 bằng phát minh trong 10 năm thì còn gì là văn hóa và khoa học. Lòng tự trọng còn là thứ xa xỉ thì nói gì đến văn hóa anh Dương Thụ ơi”, TS Phạm Huy Thưởng bày tỏ.
“Hà Nội là Thủ đô của gần 90 triệu dân mà không opera, không ballet, không giao hưởng. Với "thành tựu" văn hóa duy nhất hiện nay là thi hoa hậu thì nói đến văn hóa là sáo từ. Một đất nước có hơn 9.000 giáo sư mà chỉ có 12 bằng phát minh trong 10 năm thì còn gì là văn hóa và khoa học. Lòng tự trọng còn là thứ xa xỉ thì nói gì đến văn hóa anh Dương Thụ ơi”, TS Phạm Huy Thưởng bày tỏ.


Hà Nội thời “tả pí lù”
 Bài viết “Văn hóa thấp đi nhưng người Hà Nội vẫn rất tự tin” thể hiện quan điểm của nhạc sĩ Dương Thụ bàn về đời sống văn hóa của người hiện đại đã nhận được rất nhiều phản hồi của độc giả. Phần đông độc giả đồng tình với quan điểm và cách nhìn của nhạc sĩ.


Độc giả TS Phạm Huy Thưởng bày tỏ ông là một người sinh ra và lớn lên trên đất Hà Nội. Là người Hà Nội, ông không thể không đau xót khi nghe những nhận xét của nhạc sĩ Dương Thụ: “Tôi hoàn toàn đồng ý với anh Dương Thụ về Hà Nội xưa, Hà Nội mới và Hà Nội thời tả pí lù. Thật đau đớn khi nói về văn hóa Thủ đô khi một năm chỉ có vài nhạc công cổ điển quốc tế đến biểu diễn. 


Hà Nội là Thủ đô của gần 90 triệu dân mà không opera, không ballet, không giao hưởng thì nói về văn hóa là sáo từ. Các vở kịch, "tác phẩm văn học" hiện tại thì nhạt nhẽo, chợ búa và hoàn toàn không có bản sắc và tính triết học. Với "thành tựu" văn hóa duy nhất hiện nay là thi hoa hậu thì nói về văn hóa là quá xa vời. Một đất nước có hơn 9.000 giáo sư mà chỉ có 12 bằng phát minh trong 10 năm thì còn gì là văn hóa và khoa học. Lòng tự trọng còn là thứ xa xỉ thì nói gì đến văn hóa anh Dương Thụ ơi”.
Một trong những hành động không đẹp mắt giữa ban ngày ở Hà Nội. Ảnh: Tuổi trẻ



Hà Nội trong mắt độc giả Thúy Phạm cũng “tả pí lù”, nhếch nhác không kém: “Hà Nội là thủ đô, là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị, là đầu não của cả nước mà cơ sở hạ tầng nhếch nhác bẩn thỉu, không có sự đầu tư, đường sá thì chật chội, con người chỉ toàn lừa lọc, không văn minh. 

Xài tiền ở Hà Nội giống như chúng ta bị ăn cướp vậy, giá cả thì trên trời, gấp 3-4 lần trong Sài Gòn. Thật khủng khiếp. Nếu chúng ta đi xe bus thì sẽ được nếm cảnh xô đẩy, chen lấn và bị móc túi bất cứ lúc nào. Vào bến xe thì hàng đống các thành phần "cò" chèo kéo. Bây giờ cứ nghĩ phải ra Hà Nội là một nỗi kinh hoàng”.



Còn độc giả Thanh Tâm thì đồng ý với quan điểm của nhạc sĩ cho rằng người Hà Nội rất tự tin: “Người Hà Nội có nhiều cái quá tự tin. Tự cho mình thanh cao, là bề trên của những người khác xem thường những người khác ra mặt. 

Lấy ví dụ khi Hà Nội sáp nhập với các tỉnh khác thì "người cũ" đã bắt đầu kỳ thị "người mới" gọi họ nào là "Hà Tây vĩ đại", rồi những thói hư tật xấu, cách ứng xử nơi cộng cộng,... người ta lại đổ lỗi cho dân "tỉnh lẻ" lên Hà Nội gây ra”.


Độc giả này còn so sánh Hà Nội với cuộc sống ở Sài Gòn, nơi độc giả này đang sinh sống: “Sài Gòn cũng đâu thua kém Hà Nội, cũng có dân tỉnh lẻ lên, thậm chí chiếm đến hơn 30% dân của thành phố. Nhưng thử hỏi có người Sài Gòn nào lại đổ tội cho dân tỉnh lẻ hay chưa, hay dân tỉnh lẻ ở Sài Gòn văn hóa hơn dân tỉnh lẻ tại Hà Nội? 


Là dân của thủ đô cả nước, đáng lý ra người Hà Nội phải là tấm gương sáng, phải là niềm tự hào của nhân dân cả nước. Đằng này thử hỏi có bao nhiêu người tự hào với người Hà Nội? hay chỉ có người Hà Nội là tự hào về mình thôi?”.


Sinh ra trong một gia đình có 5 đời sống ở Hà Nội, độc giả Thanh Trang không tự nhận mình là Người Hà Nội nhưng vẫn cùng chung một dòng cảm luyến tiếc về Hà Nội với nhạc sĩ Dương Thụ: “Hà Nội trong tâm trí tôi được xây dựng bởi câu chuyện của ông bà, cha mẹ. 

Tôi là thế hệ thứ 5 trong gia đình, là một trong vài người không được sinh ra ở Hà Nội còn tất cả đều sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Những ký ức về Hà Nội như được truyền đi trong hơi thở, nhịp đập, trong cái nếp sống dù ở xa nhưng chúng tôi vẫn luôn giữ được. 


Gia đình tôi, đã hơn 4 đời, tính đến đời tôi và các anh em họ là đời thứ 5, tất cả ngoại trừ tôi và vài người được sinh ra nơi đất khách, nhưng chưa ai trong chúng tôi ghi trong tờ khai về quê quán 2 từ Hà Nội. 


Một phần chúng tôi trân trọng nguồn gốc Nam Định của mình nhưng phần khác, phần nhiều, chúng tôi tự biết rằng, 3 chữ Người-Hà-Nội không phải một danh hiệu mà nó là tinh thần, là những lời dạy bảo, khuyên răn, là lối sống của các thế hệ trong gia đình. 

Chúng tôi lưu giữ nó như một sự tự hào, không cần phải nói ra, nhưng như đã nói nó chảy trong huyết quản chúng tôi. Dù có đi đâu, về đâu, chúng tôi vẫn chỉ muốn nhớ về Hà Nội, một trái tim hồng, luôn trường tồn với thời gian”.

Cho rằng cách nhìn, sự đánh giá về Hà Nội của nhạc sĩ là rất đúng, rất có trách nhiệm và bao dung. Rất nhiều độc giả bày tỏ lời cảm ơn với nhạc sĩ Dương Thụ.

“Cảm ơn nhạc sĩ. Cách viết của nhạc sĩ cũng giống như những nét nhạc của ông; dung dị, sâu lắng, rung động và rất có trách nhiệm. Vấn đề là ai đã tạo ra văn hóa Hà nội như ngày nay, một Hà Nội xô bồ, nhộm nhoạm với văn hóa ứng xử thấp kém. Chỉ có người tạo ra nó thì mới có thể sửa đổi nó, giống như việc chỉ có người buộc chuông thì mới cởi được nút chuông”, độc giả Trần Hoàng bày tỏ.

Lập diễn đàn để rộng đường dư luận
“Đồng ý rằng ai cũng công nhận Hà Nội là một cái chợ rồi, song ta làm gì?” đó là câu hỏi của rất nhiều độc giả trăn trở với nền văn hóa của thủ đô. Rất nhiều độc giả lên tiếng, đóng góp cao kiến để vực dậy văn hóa nơi đây. Trong đó, nhiều độc giả cho rằng chính quyền thành phố nên lập diễn đàn, hội thảo để mọi người cùng đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề.

Độc giả Chung Sức lên tiếng: “Tôi nghĩ rằng những người tâm huyết với Hà Nội đã nhận thấy vấn đề, nhưng làm sao để thay đổi. Không lẽ người VN chúng ta chỉ ngồi nhìn và chấp nhập thực tế như vậy? Hay là chúng ta chỉ ngồi trông chờ vào thời gian để mọi việc thay đổi từ từ? Hoặc lại đổ lỗi cho cái cơ chế hiện tại chưa cho phép làm? Đây chính là thời điểm thách thức để thể hiện lòng quyết tâm của mình”.

Độc giả Vũ Núi đưa ra giải pháp: “Tôi thấy cần thiết phải mở rộng đường (và tạo điều kiện) cho dư luận bàn về vấn đề xuống cấp của Văn hóa Người Hà Nội, để cho "Người Hà Nội" mở mắt ra nhìn rõ mình hơn (Tôi thành thật xin lỗi những Người Hà Nội chân chính), không ảo tưởng, tự tin duy ý chí nữa, để cho chính quyền, cơ quan quản lý hiểu đúng về "sản phẩm văn hóa" mà mình được nhân dân cả nước giao cho lãnh đạo, quản lý. Có vậy mới cứu vãn được sự xuống cấp của văn hóa Hà Nội”.

Độc giả Anthony, một việt kiều cũng đóng góp ý kiến: “Thiết nghĩ những người yêu Hà Nội thật sự thì cần phải ủng hộ chính phủ duyệt điều chỉnh quy hoạch Hà Nội mở rộng 2030-2050 trong đó sẽ chuyển TT hành chính, kinh tế, chính trị lên Ba Vì. Để Hà Nội cũ mãi mãi là TT văn hóa, xứng đáng là Thủ Đô của Việt Nam.


 Nếu được biểu quyết, tôi sẵn sàng kêu gọi đuợc trên 1000 người ở Hà Nội, SG và kiều bào tán thành đề án này. Nếu điều đó thành sự thật thì mới mong rằng cuối thế kỷ 21, VN mới có thể tự hào với thế giới là có 1 thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến được”.

Còn độc giả Bi Vũ lại kêu gọi mọi người bắt đầu từ những việc nhỏ nhất: “Tôi nghĩ cần có một diễn đàn để mỗi người nêu một giải pháp cụ thể. Nhiều người yêu Hà Nội, quan tâm đến Hà Nội sẽ đọc và làm theo. Từ hành vi, thói quen sẽ trở thành văn hóa. 1 năm, 2 năm hoặc 10 năm cũng vẫn còn hơn là không bao giờ thay đổi được.


 Ví dụ, Tôi không vứt rác linh tinh trên đường, con tôi cũng không làm thế, nếu có tôi phải nhắc ngay và quay lại nhặt. Bất kể thứ gì không được vứt trên đường phố, vỉa hè, những bà mẹ có con nhỏ cũng hãy làm như thế. Việc dù rất nhỏ... nhỏ lắm nhưng thể hiện con người bạn thế nào đấy”.

Cũng đồng quan điểm với nhạc sĩ Dương Thụ, cho rằng trách nhiệm vực dậy văn hóa thủ đô thuộc về toàn thể nhân dân cả nước, nhưng người then chốt vẫn là lãnh đạo thành phố, độc giả Đỗ Nha Trang bày tỏ:

“Tất cả là ở lãnh đạo. Khi được hỏi về cao kiến để có thể biến Hà Nội trở thành một đô thị có nếp sống văn minh, sạch đẹp nhạc sĩ Dương Thụ cho rằng “Người yêu Hà Nội nhất, có tư cách để trả lời câu hỏi này nhất chính là ông Bí thư Thành ủy và vị Chủ tịch Thành phố Hà Nội”. Không biết các vị lãnh đạo của thành phố có khi nào nghĩ đến những điều này hay không?”
Kim Minh (tổng hợp)

NHẾCH NHÁC HÀ NỘI - HÀ NỘI NHẾCH NHÁC

Ảnh: Dothi.net


NHẾCH NHÁC
Tô Văn Trường
Là một người từ tỉnh lẻ lên Hà Nội, tôi đã từng háo hức, khát khao được sống  và làm việc ở Hà Nội để được gọi là “người Hà Nội”.  Thế mà sau hàng chục năm gắn bó với Hà Nội, kể cả khi đã di dời vào TP.HCM có dịp trở lại thăm thủ đô  có ai hỏi cảm giác chung về hình ảnh Hà Nội, tôi không thể dấu tiếng thở dài gói gọn trong hai từ “nhếch nhác”!  Tôi không nỡ dùng từ nặng hơn bởi tình yêu và lòng tự hào của mình đối với Hà Nội.

Nhếch nhác từ vỉa hè bị đào bới bất kể ở đâu, bất kể lúc nào, từ những mớ dây cáp đủ loại bám chằng chịt trên những cây cột xiêu vẹo, từ trăm ngàn tấm biển quảng cáo chen lấn những khoảng không gian chật hẹp của phố phường. 


Nhếch nhác bởi trăm ngàn đống rác, đống phế  thải đổ trộm, trăm ngàn hố nước và cống rãnh đen ngòm, bẩn thỉu. Nhếch nhác bởi cách đi đứng, giao thông lộn xộn, bát nháo, lúc nào cũng chen lấn, giành giật như sợ mất phần! Nhếch nhác bởi cách ăn mặc, nói năng tục tĩu của nhiều người, ở nhiều lứa tuổi không biết từ đâu kéo về túm tụm, mưu sinh ở đất Hà thành.

 Nhếch nhác ở tác phong, trang phục, ở cách hành xử khi thi hành công vụ của rất nhiều nhân viên, cán bộ công quyền Hà Nội. Những tưởng sau 10 năm đầu tư, chuẩn bị công phu, tốn kém, rầm rộ cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long thì thủ đô sẽ lột xác. Nhưng kết quả đã không như mong đợi, và sau 2 năm đại lễ, những cái “nhếch nhác” kể trên hầu như vẫn còn nguyên vẹn. 
Không ít khách nước ngoài sau khi “chiêm ngưỡng” Hà Nội vài ba ngày, đã có chung một câu khái quát “Chỉ cần nhìn vào trật tự giao thông ở một đô thị, người ta có thể đánh giá đuợc năng lực điều hành quản lý của chính quyền sở tại là như thế nào”!  Ai cũng hiểu ngụ ý của câu nói trên. Khốn nỗi, không chỉ có giao thông, mà ở tất cả các mặt sinh hoạt khác của Hà Nội, người ta đều có thể dễ dàng đưa ra nhận xét như vậy. 
Đi tìm nguyên nhân, người ta thường đổ cho trình độ dân trí kém, do kinh tế toàn cầu khó khăn. Nhưng có một nguyên nhân quan trọng, nói ra không sợ mất lòng. Đó là sự vô cảm của những người lãnh đạo, quản lý Hà Nội. Không thể nói rằng trình độ và năng lực của họ kém (toàn những bằng cấp, học vị, trường  nọ, trường kia cả đấy chứ!) 

Nói thẳng ra là họ đã không cảm thấy xót xa, xấu hổ vì đã để cho Thủ đô, trái tim của cả nước, nơi đuợc ưu ái nhất “nhếch nhác” đến như vậy. Bởi vì, nếu so sánh với Đà Nẵng thì người ta có thể thấy ngay rằng ê kíp của ông Nguyễn Bá Thanh chắc chắn là đã làm được nhiều việc hơn, có ích hơn và biết xót xa, xấu hổ hơn trước những “nhếch nhác” của thành phố mình! 

Khi người ta có lòng tự trọng, biết thông cảm, yêu thương đồng bào, đồng loại, biết xót xa, xấu hổ trước những “nhếch nhác” bày ra hàng ngày trên đuờng đến công sở hoặc đi hội họp, chắc chắn những người có quyền chức sẽ “lao tâm khổ tứ” để tìm ra các giải pháp tốt nhất, để có những hành động quyết liệt nhất nhằm giảm bớt, tiến đến xóa bỏ những cái nhếch nhác kể trên. 

Họ hứa nhiều nhưng họ chẳng làm chẳng được là bao! Mặc dù tiền của đổ ra cho Hà Nội là rất lớn. Tư duy và cơ chế “nhiệm kỳ” đã và đang làm nhiều cán bộ công quyền của chúng ta vô cảm và vô liêm sỉ đến thế đấy! Và Hà Nội cũng như nhiều nơi khác trên đất nước ta vẫn còn tiếp tục “nhếch nhác”!
Ngẫm suy sâu xa về Hà Nội, bạn HLT tâm sự  khi từ Tokyo về Hà Nội năm 1981, đây là lần đầu tiên về thăm quê nhà sau 14 năm du học và đặt chân vào Hà Nội trước khi vào Sài gòn với gia đình (vì lúc đó là khách của Bộ Ngoại Giao) được ở Hà Nội đúng 1 tháng và vào Sài gòn ngày 29 tết năm ấy. 

Đến Hà Nội thấy cái gì cũng vui mắt, lộn xộn dễ thương sau khi hòa bình đã  được lập lại 6 năm nhưng hồi đó HLT nghĩ những cái lộn xộn, lôi thôi và nhếch nhác thời ấy rất dễ thông cảm vì chiến tranh kéo dài quá lâu, sống chết chưa rõ ra sao nên trước hết là "cố" sống và "phải" sống dù thiếu thốn, chật vật đủ điều, từ vật chất đến tinh thần nhưng tất cả là hậu quả của chiến tranh, ai cũng phải chấp nhận để chiến đấu với tinh thần nhường nhịn "nhường cơm sẻ áo". Nhờ vậy, chúng ta đã đi đến ngày toàn thắng (!). 

Những năm đầu sau khi chiến tranh  kết thúc, toàn xã hội  bung ra, người  miền Bắc (Hà Nội) thì đúng là đi tìm "hàng", bát nháo...trong tình trạng cái ăn, cái mặc còn thiếu thốn, chụp giật, ngược xuôi búa xua để được sống thoải mái hơn thời bom đạn. 

Còn miền Nam, đặc biệt là Sài gòn thì  người ta tìm "họ", kiếm đường vượt biên, chẳng thiết đến làm ăn lâu dài, nhà cửa, đồ đạc  bán  tất tần tật để "ra đi"... vì vậy những tình cảnh năm ấy đã trở thành tiền đề của sự bát nháo, nhếch nhác từ đạo đức, văn hóa, giáo dục...đồng tiên có giá trị tuyệt đối, là "tiên, là Phật, là công lý” như chúng ta đã từng được nghe. 

Vì vậy, cách đối xử giữa người và người đã bị méo mó, lệch chuẩn và tất cả điều này đã làm băng hoại các giá trị truyền thống của người dân thành thị, ngày càng lan tỏa ngược lại về nông thôn , trở thành một cái nếp nhăn tệ hại trên con đường phát triển kinh tế (vật chất) của chủ nghĩa thực dụng !
Chẳng phải vì thành phố lớn hay bé, hiện đại cỡ, cấp nào mà là nền giáo dục từ cấp mầm non đến trung học cơ sở, những người có trọng trách  không quan tâm đến vấn đề dạy "làm người" với các giá trị đạo đức chuẩn mực của xã hội  (phó mặc việc dạy dỗ đạo đức này cho gia đình)...mà lại coi trọng giáo dục tư tưởng, lý thuyết trừu tượng, nhồi  nhét vào đầu óc non nớt những gì mà người lớn (cách mạng)  muốn áp đặt một cách chủ quan.

 Sự vá víu từ tư tưởng đến thực dụng trong đời sống sinh hoạt thường nhật thiếu thốn do sai lầm, chủ quan  trong điều hành kinh tê-xã hội cấp vĩ mô những năm sau ngày giải phóng đã tác động và phát sinh ra nếp sống bát nháo, nhếch nhác, ích kỷ khó chữa hôm nay chăng?
Nói cho cùng, nếu chỉ xét nét, mà không biết xây dựng (dù anh là người từ xứ sở nào về Hà Nội) thì vẫn phải có trách nhiệm công dân.  Ra Hà Nội, một số bạn ở trong Nam thường thích đi xe ôm hơn taxi và phóng khoáng như đi xe ôm ở Sài gòn không buồn trả giá, thậm chí bo thêm nếu đi giữa trời nắng gắt hay trong mùa giá lạnh. Chỉ có từng con người mới làm nên Hà Nội đẹp, bởi trong bản thân mỗi con người Hà Nội tử tế đều mong muốn thủ đô ngày đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.
Chuyên gia xã hội học Quỳnh Hương cho rằng điều quan trọng là phải khơi dậy một cuộc thảo luận thực sự nghiêm túc để những người có chuyên môn, những người làm nghề liên quan đến kiến trúc, xây dựng, và quy hoạch (bao gồm các quy hoạch ngành như quy hoạch giao thông, quy hoạch xây dựng, quy hoạch phát triển đô thị...) cùng nhau bàn luận để có tiếng nói, và quan trọng là có hành động nhằm giảm bớt sự hỗn loạn trong phát triển như hiện nay.

 Ai cũng thừa nhận rằng Đà Nẵng đã làm được một việc là đô thị của họ khá hơn những đô thị khác trong cả nước. Điều quan trọng là họ đã dám quyết định, dám hành động có suy nghĩ. Còn nhiều đô thị khác thì dám quyết định, dám hành động thiếu suy nghĩ.
Là một công dân hãy biết góp phần thay đổi hiện tượng. Người Mỹ chỉ phê phán lãnh đạo bất tài, chứ không bao giờ phê phán những người cùng khổ, bần hàn sinh đạo tặc, mà luôn thông cảm với họ, với nhiều nhóm xã hội giúp họ thay đổi lối sống có ích cho xã hội, cho đất nước. Uớc gì, ở đất nước ta,  các đô thị, đặc biệt là thủ đô ngàn năm văn hiến ai cũng thật sự hiểu văn hóa mà người Mỹ xây dựng trên đất nước họ để cho các “nhếch nhác” hiện nay chỉ còn là dĩ vãng.

TRUYỆN HÀI

Chế tạo ĐÀN BÀ
Ông vua xe hơi, Henry Ford sau khi chết được đưa lên thiên đàng. Tại cổng thiên đàng có Thánh St Peter chờ sẵn để đón Ford.

Vừa gặp Ford, Thánh Peter cho biết:
- Ford hồi còn sống, ngươi đã làm nhiều việc công ích cho xã hội, như sáng chế phương pháp làm việc dây chuyền cho kỹ nghệ xe hơi làm thay đổi cả thế giới. Với thành quả như vậy, ngươi sẽ được một ân huệ là có thể chuyện trò với bất cứ ai ở thiên đàng này.

Suy nghĩ vài giây, Ford xin được gặp Thượng Đế. Thánh Peter dẫn Ford đến gặp Thượng Đế.
Vừa gặp Thượng Đế, Ford hỏi ngay:

- Thưa Ngài, lúc ngài chế tạo ra đàn bà, ngài đã suy nghĩ gì?

Thượng Đế nghe xong bèn hỏi lại:

- Ngươi hỏi như vậy là ý gì?

Ford liền trả lời:

- Trong sáng chế của ngài có quá nhiều sơ sót.

* Phía trước thì bị phồng lên
* phía sau thì bị nhô ra
* Máy thường kêu to khi chạy nhanh
* Tiền bảo trì và nuôi dưỡng quá cao
* Thường xuyên đòi hỏi nước sơn mới
* Cứ đi 28 ngày là lại bị chảy nhớt và không làm việc được
* Chỗ bơm xăng và ống xả lại quá gần nhau
* Đèn trước thì quá nhỏ
* Tiêu thụ nhiên liệu thì nhiều khủng khiếp.

Thượng Đế nghe qua liền bảo:

- Ngươi hãy đợi một chốc lát để ta xem lại bản thiết kế.

Ngài bèn cho gọi toàn bộ kỹ sư thiết kế và cơ khí trên thiên đàng lại để xem lại quá trình
. Sau một thời gian họ đã trình lên cho Thượng Đế bản báo cáo. Xem xong, ngài bèn phán rằng:

- Những lời ngươi vừa nói hoàn toàn đúng, bằng sáng chế của ta thật có nhiều sai sót, nhưng nếu tính trên phương diện kinh tế thì hiệu quả lại rất cao...

Có gần 98% đàn ông trên thế giới xài ... sản phẩm do ta chế tạo.
  
Trong khi chỉ chưa đầy 10% đàn ông xài ... sản phẩm của ngươi.

 
 

KÝ BS. TRẦN NGUYÊN PHIÊU

Nấm mộ ông Thầy Quảng
BS Trn Nguơn Phiêu

Trong số báo Xuân Ất Dậu 2005 của Thế Kỷ 21, tác giả Trần Đông Phong có bài “...Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm”. Trên hai trang 95-96, tác giả tường thuật về việc Bộ Trưởng Bộ Kiến Thiết, Hoàng Hùng, năm 1956, đã nhận được chỉ thị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cho sửa sang “đàng hoàng tươm tất” một nấm mộ  vô chủ ở vùng Cái Tôm, Cao Lãnh. Người phụ trách việc trùng tu đã được các bô lão địa phương cho biết, đó là ngôi mộ của Phó bảng Huy, được chôn cất từ năm 1929.
Thật ra, Bộ trưởng Hoàng Hùng không phải là người đầu tiên đã đứng ra sửa sang lại ngôi mộ này. Dân địa phương cũng đã biết từ lâu gốc tích của người nằm dưới mộ, được gọi là ông Thầy Quảng. Thân hào nhân sĩ thông hiểu sự việc gọi: đây là mộ thân sinh ông Nguyễn Ái Quốc.
Người viết bài này vốn thuộc vùng Cao Lãnh, muốn nhân cơ hội, góp thêm vài chi tiết liên quan đến nấm mộ mà một số người đã tưởng là vô chủ. Bài viết có thể sẽ không làm vừa lòng những người hiện nay đang tô rồng vẽ phượng để mong xây dựng một loại triều đại Hồ Chí Minh, nhưng mong rằng đây là một vài dữ kiện để làm tài liệu cho các  nhà biên khảo trong tương lai.
Cao Lãnh thường được người miền Nam biết là một quận thuộc tỉnh Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc, nay là tỉnh Đồng Tháp vốn chỉ là một tỉnh nhỏ, nằm bên sông Tiền Giang. Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vốn một quan chức miền Trung, là người đầu tiên đã có nhiều quyết định phân chia lại vị trí các tỉnh miền Nam theo các kinh nghiệm hành chánh của ông, khiến những người cố cựu vùng sông Cửu đã lắm khi bàng hoàng kinh ngạc. Cao Lãnh, một địa danh có tiếng hào hùng cách mạng chống Pháp, nhờ vị trí ven biên Đồng Tháp Mười rộng lớn bát ngát. Dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, quận được tách ra thành tỉnh Kiến Phong. Tỉnh Sa Đéc nhỏ bé lại bị chia năm xẻ bảy, các quận khi được sát nhập vào tỉnh Vĩnh Long, khi được hoàn trở lại, lận đận một thời!
Vào thời khoảng các thập niên 1920 -1940, thực  dân Pháp đã lưu đày, đưa một số các nhà cách mạng từ Bắc hoặc Trung vào các tỉnh miền Nam. Cụ Dương Bá Trạc bị an trí ở An Giang, Phan Châu Trinh ở Định Tường... Cụ cử Vũ Hoành làm Thủ quỹ cho Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục nên bị Pháp bắt và lưu đày ở tỉnh lỵ Sa Đéc. Dân Sa Đéc đều biết tiếng ông và thường gọi tắt là ông Cử Hoành. Ông sống thanh bạch, làm nghề hốt thuốc Bắc và cư ngụ tại đường Rue des Pêcheurs, bây giờ là đường Nguyễn Trãi. Nhà ông thường có nhiều khách ra vào, phần lớn là những người đến xem mạch xin toa nhưng cũng là nơi nhiều nhà hoạt động cách mạng đến liên lạc. Gần cổng nhà ông, thực dân Pháp thành lập một quán nước nhỏ, cốt để nhân viên mật thám hằng ngày có nơi theo dõi các hoạt động của ông.
Ông bác của người viết bài này là Trần Hàm Trung vốn người Hà Tỉnh vì tham gia Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, cũng bị Pháp lưu đày ở Nha Mân, Sa Đéc. Ông nội tôi, thuộc hạ của Phan Đình Phùng, sau khi phong trào bị tan rã, trở về nhà thì thôn làng đã bị đốt phá . Ông quyết chí rời bỏ quê, đi bộ vào Nam tìm gặp lại người anh. Ôâng đã gầy dựng cơ nghiệp, vừa dạy học vừa làm ruộng vườn ở xã Mỹ Long, trong quận Cao Lãnh. Vào thập niên 1920-1930, ở Mỹ Long, cấp Tiểu học chỉ có trường dạy đến lớp Ba. Muốn tiếp tục học, phải qua Sa Đéc. Các chú của tôi vì vậy đều được ông nội tôi gởi tá túc ở nhà ông Cử Hoành để đi học. Các cụ cách mạng bị lưu đày ở miền Nam đều rất khắng khít với nhau, coi nhau như ruột thịt.
Có một năm, gần ngày Tết, ông nội tôi sai hai chú tôi đem trái cây, cam quít của vườn nhà và gạo, nếp, qua Sa Đéc để tặng ông Cử Hoành là nơi hai chú đã có thời được lưu trú và dạy dỗ. Được cho tháp tùng ra tỉnh lỵ, thằng bé nhà quê là tôi lúc ấy mới có được dịp, lần đầu tiên, biết bánh chưng, thịt đông, chả cá... là những món chưa từng được nếm qua. Vì thích khẩu nên tôi ăn một mạch đến gần ba chén cơm. Chú thứ Sáu của tôi thúc cùi tay nhắc: “Ba chén thôi nghe không?”. Hai chú tôi đã từng sống trong gia đình ông Cử nên biết thông lệ ở gia đình này. Vì nhà luôn luôn tiếp nhiều khách mà khả năng tài chánh lại hạn hẹp nên nhà bếp thường hay hỏi trước mỗi thực khách : trong các buổi ăn, thường dùng bao nhiêu chén cơm để lo liệu nấu cho vừa đủ! Ông Cử là một nhà nho, có nếp sống rất chững chạc. Ngồi vào bàn ăn của ông, lúc nào cũng phải ăn mặc tươm tất. Riêng ông có cái thế ngồi đặc biệt: lúc nào cũng giữ lưng thẳng đứng, ngay ngắn. Ông thường nói: “Tôi không luồn cúi ai nên lưng lúc nào cũng thẳng”.
Sau buổi ăn ngày hôm đó, ông ra lịnh cho hai chú tôi: “Chúng mày trước khi về nhà, phải nhớ ghé giẫy mả Cụ Phó bảng như mọi năm. Tập thêm cho thằng cháu nhỏ này phụ việc. Mà phải làm cho tươm tất. Nếu làm cho lấy có. không đàng hoàng, tao sẽ “róc xương” chúng mày”.
Đó là lần đầu tiên tôi dược biết về nấm mộ đơn sơ gần Miễu Trời Sanh, cạnh nhiều ngôi mộ hoang khác, ở xã Hòa An, Cao Lãnh. Hai chú tôi cho tôi biết đó là mộ ông thân phụ của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc. Trên đường lưu lạc vào Nam sau khi mất chức ở triều đình Huế, ông đã được ông Cử Hoành rước về Sa Đéc, tìm cho nơi tá túc để hành nghề thuốc. Năm 1929, ông qua đời và được chôn cất tại đây. Hằng năm, nếu ông Cử Hoành không đánh tiếng, ông nội tôi vẫn bắt các chú tôi làm công việc chỉnh trang lại mả này mà dân chúng địa phương gọi là mả ông Thầy Quảng. Các chú tôi cũng lo phát cỏ luôn cho các mả hoang khác, thắp hương cho mỗi mả trước khi về lại nhà.
Năm 1945, khi khởi đầu cuộc Kháng Chiến Nam Bộ, Tướng Nguyễn Hòa Hiệp đã rút quân Đệ Tam Sư Đoàn về trú đóng Cao Lãnh. Được ông Cử Hoành chỉ dẫn, Nguyễn Hòa Hiệp thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng, đã đưa các nhân viên bộ tham mưu đến chào kính, viếng mộ thân phụ Hồ Chí Minh. Ông Cử Hoành đã cùng gia đình rời thị xã Sa Đéc, tản cư   trên một chiếc ghe và đã qua đời năm 1946 ở Rạch Tân Trường thuộc Xã Mỹ Hội, Cao Lãnh.
Sau này, do sự tình cờ và cũng do liên hệ gia đình bên vợ của tôi nên tôi được biết thêm về những ngày thân sinh ông Nguyễn Ái Quốc khi ông đến trú ngụ ở Sa Đéc. Như nhiều người đã viết trên báo chí, sách vở, tên ông là Nguyễn Sinh Sắc, quê Nghệ-Tĩnh, đỗ Phó bảng và được Triều đình Huế cử làm quan phụ trách một địa phương ở Bình Định. Trong một cơn say rượu, ông đã lỡ tay đánh chết một can phạm nên bị Triều đình cách chức. Nguyễn Ái Quốc lúc ấy đang trên đường bôn ba ở hải ngoại, đã có viết đơn bằng Pháp văn gởi cho Khâm sứ Pháp ở Huế xin can thiệp để cha được trở lại quan trường nhưng việc đó không có kết quả.
Ông Nguyễn Sinh Sắc đã lưu lạc vào Nam và đã có nhiều lần có những cơn say rượu trên đường phố Sài Gòn. Nhà báo Diệp Văn Kỳ đã nhiều phen giúp đỡ khi ông bị khó khăn vì say rượu nơi công cộng. Khi biết được tin ấy, cụ Cử Hoành đã cho người tìm đưa ông về Sa Đéc. Nơi đây, ông Nguyễn Sinh Sắc được giới thiệu đến tá túc ở gia đình một người có hng sn thxã là ông Võ Tôn Lp. Ông Cử Hoành có người vợ kế. Bà này là cháu của bà Hồ Thị Xuyến, vợ lẽ của ông Võ Tấn Lập. Ông Nguyễn Sinh Sắc được cho nương náu ở phần sau của căn nhà, ngày nay mang số 17/7 đường Lê Lợi, Thị xã Sa Đéc. Sau 30-4-1975, có thể vì gia chủ căn nhà này là một sĩ quan quân đội VNCH đang bị đi “cải tạo”, chánh quyền địa phương thời đó lại ghi nơi ông Nguyễn Sinh Sắc từng trú ngụ là nhà Bà Chín Đường, nằm ở góc đưởng Rue des Pêcheurs và Quai Tân Quy Đông(?). Về sau, phối kiểm lại, chánh quyền có ý định lấy nhà 17/7 đường Lê Lợi làm nhà “Truyền thống” và định gắn Bảng Tri Ân. Nơi đây, ông Nguyễn Sinh Sắc đã từng hành nghề coi mạch. hốt thuốc Bắc và cũng luôn thể, dạy chữ Nho cho con cháu gia chủ. Trong gia đình này, con cháu có lệ gọi cha mình là Thầy. Vì thế nên ông Sắc được mọi người gọi là Thầy Quảng vì ông từ xứ Quảng vào Nam. Người vợ chánh của gia chủ có tên là Trương Thị Sắc nên ông Nguyễn Sinh Sắc đã đổi tên thành Nguyễn Sanh Huy. Tên này ông dùng để tiện cho các tiệm thuốc Bắc ghi trong sổ để hưởng tiền hoa hồng khi các bịnh nhân đem toa thuốc của ông đến các tiệm này để hốt thuốc. Đó là một thông lệ thương mãi của các tiệm thuốc người Tàu. Tiệm thuốc Quản Hòa Sanh ở chợ Sa Đéc có giữ một sổ ghi chú nhiều lần tên ông Nguyễn Sanh Huy.
Ông Nguyễn Sanh Huy có chấm một số tử vi cho cháu gia chủ khi người cháu này ra đời trong thời gian ông Huy đang trú ngụ. Người cháu này tên Võ Ngọc Lang, khi lớn lên là một sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tốt nghiệp khóa 4 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức năm 1953. Tuy đã được giải ngũ vào tháng 11 năm 1974, sau 30-4-1975, ông Lang vẫn bị bắt phải đi “học tập”cho đến tháng Tư năm 1982 mới được thả! Qua Mỹ theo diện HO, ông đang cư ngụ ở Torrance, California và hình như vẫn còn giữ được lá số tử vi viết tay của ông Thầy Quảng.
Tuy được trú ngụ trong gia đình ông nội của ông Võ Ngọc Lang, nhưng ông Nguyễn Sanh Huy lại thân thích, tâm đầu ý hợp với ông ngoại của ông Võ Ngọc Lang tên Hà Văn Ngọ. Nhà ông Ngọ ở miệt Chợ Cồn, tỉnh lỵ Sa Đéc. Ông Nguyễn Sanh Sắc thường đến Cao Lãnh để xem mạch, hốt thuốc cho các gia đình nghèo ở đó. Các gia đình khá giả khác thường chọn các Thầy có gia sản ở địa phương và ít khi mời ông Thầy Quảng. Vào thời đó và cả cho đến cuối thập niên 1940, sự giao dịch giữa Sa Đéc, Cao Lãnh thường được thực hiện bằng loại đò đạp. Đây là một loại đò khá lớn, chuyên chở được trên hai mươi hành khách và hàng hóa. Đò di chuyển do sức đẩy của một bánh xe nước. Bạn đạp đò ít nhất cũng phải đến bốn người. Chợ Cồn là bến đò quan trọng. Ông Nguyễn Sanh Huy thường lên, xuống đò ở bến này và thường nhân dịp, ghé đàm đạo, đánh cờ với ông ngoại của ông Lang. Thêm nữa, mỗi khi đi Cao Lãnh, ông Thầy Quảng thường chỉ ở một vài ngày và khi về thường đem các loại dược thảo ông tìm hái được ở Cao Lãnh, giao lại nhờ ông ngoại của ông Lang phơi sấy để làm thuốc cho thân chủ nghèo.
Một hôm, ông ngoại của ông Lang nhận được thơ do chủ đò đạp đem về từ Cao Lãnh. Ngươi đem thơ đã lơ đãng quên đưa thơ khi cập bến Chợ Cồn nên đã đưa trễ khi về đến bến chót ở chợ Sa Đéc. Trong thơ, người cho ông Nguyễn Sanh Huy tá túc mỗi khi ông đến Cao Lãnh, báo cho ông Ngọ biết tin ông Huy đang bị bịnh nặng. Vì không biết dùng xe đạp, ông ngoại của ông Lang đã đi bộ đến Cao Lãnh để thăm bạn. Vào chiều tối, lúc ông đến nơi thì ông Thầy Quảng đã chết rồi, thân mình còn ấm! Ông cùng chủ nhà tri hô lên, trình cho Hương Quản. Lục giấy tờ trong mình, thấy tên là Nguyễn Sinh Sắc, với số tiền hơn một đồng bạc Đông Dương Ngân Hàng, một số tiền khá lớn thời bấy giờ nhưng chưa đủ để tống táng. Bà con lối xóm đã quyên góp thêm để đủ tiền mua một hòm rẻ để liệm. Ông ngoại ông Lang đã vào Miễu Trời Sanh, xin ông Chủ Chùa cấp cho một mảnh đất nhỏ, mượn luôn đòn và dây luột để khiêng đi chôn cất. Theo tục lệ cổ truyền, đầu hòm đã được chôn hướng về phía mặt trời lặn để hồn sớm được siêu thăng.
Nấm mộ được chôn gần với nhiều mộ vô danh khác nhưng mộ Thầy Quảng đã được nhiều gia đình trong giới cách mạng Sa Đéc chăm lo. Có một giai thoại lý thú ít người biết là vào khoảng 1946, sau khi Thỏa Hiệp Án (Modus Vivendi) được ký kết giữa Hồ Chí Minh và Marius Moutet sau Hội nghị Fontainebleau ở Paris, viên Quận trưởng quận Cao Lãnh là Trung úy người Pháp tên Menut đã cho người đắp đất, làm cỏ cho ngôi mộ!. Trước đó, một nông dân tên Tư Quyết, có việc đi từ Sa Đéc về Cao Lãnh bằng xe ngựa. Cùng đi trên có một lính Lê Dương. Anh lính này có trang bị một súng máy. Khi gần đến vùng Cao Lãnh là nơi tương đối an toàn, anh lính lơ đĩnh bỏ súng xuống trên sàn xe. Tư Quyết nhân cơ hội, giựt súng lủi nhanh vào xóm và đem nạp cho ủy ban kháng chiến địa phương. Để chứng tỏ tinh thần tôn trọng thỏa ước vừa được ký, ủy ban cho người đánh tiếng với viên Quận trưởng và cho người đem trả lại súng. Việc Trung úy Menut cho người sửa sang ngôi mộ đã chứng tỏ ông ta cũng biết ngôi mộ là mộ của thân phụ Hồ Chí Minh.
Sau ngày 30-4-1975, vào khoảng 1976, tất cả các nấm mồ phía sau Miễu Trời Sanh, nơi an nghỉ cuối cùng của những người tứ cố vô thân được chôn cất nơi đây đã được chánh quyền mới bốc lên đem cải táng nơi khác. Riêng mộ ông Thầy Quảng giờ đây được xây cất huy hoàng bằng đá hoa theo mô hình một lăng tẩm rộng lớn. Cây kiểng quý được chăm sóc từ nhiều đời của dân chúng đã được đem cốâng hiến để trang trí trong lăng. Băng ghế công viên do các Công ty ghi tặng là để khách tứ phương có nơi dừng lại nghỉ chân. Cơ quan địa phương trong xứ đều đem sản phẩm quý báu về đây chưng làm kỷ niệm. Cây cối, thư viện, nhà cửa, đường đi... đã được bố trí rất mỹ thuật để nơi đây được xứng đáng vớùi danh xưng mới: Lăng Cụ Phó Bảng.
Từ một nấm mộ đất nhỏ đơn sơ, không bia, không tường vôi, đá chắn, giữa những nắm mồ vô chủ, mộ ông Thầy Quảng giờ đây đã trở thành một lăng tẩm uy nghi, rộng lớn, một công trình kiến trúc mỹ thuật. Các nấm mộ vô danh đã được dời đi cải táng nơi xa nào đấy để lấy đất xây lăng Cụ Phó Bảng. Tuy vậy, cầu mong sao cho hương linh của những nấm mộ hoang trước kia, nếu chưa được siêu thoát và hiện đang còn vất vưởng quanh Lăng, đã được Cụ Phó Bảng cho họ được tá túc trong lăng của Cụ, như ngày nào Cụ đã được những tấm lòng người miền Nam cho tá túc, trên bước đường lưu lạc của Cụ.

Trần Nguơn Phiêu
Amarillo, Texas
Tết Ất Dậu, 2005   

Monday, July 30, 2012

VĂN HÓA XÃ HỘI VIỆT NAM

Mì Quảng ở Hội An Bistro – San Jose

Kỷ niệm Mì quảng tại Hội An Bistro: (từ trái) Hoàng Ngọc Tuấn, Võ Quốc Linh, Tâm Nguyên Vũ Thế Ngọc, Rose Nguyễn, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Hưng Quốc, Vương Ngọc Minh

CỠ CHỮ
Nhân nói đến chuyện “bún mắng cháo chửi” ở Hà Nội, lại nhớ đến chuyện ăn uống ở Mỹ trong chuyến đi chơi với Hoàng Ngọc-Tuấn và Võ Quốc Linh vừa rồi. Suốt chuyến đi hơn hai tuần, chúng tôi được ăn nhiều món ngon. Ở nhà cũng như ở tiệm. Bạn bè, khi đãi khách đến từ phương xa, thường có hai tâm lý: một, vì tình thân, đãi những món đặc biệt; và hai, vì tự ái địa phương, thích giới thiệu những tiệm ăn nổi tiếng nhất trong vùng mình ở. Vì vậy, chúng tôi thường xuyên được thưởng thức những món ăn thật khoái khẩu. Tuy nhiên, về lại Úc, nhớ lại, món ăn để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất vẫn là món mì Quảng ở tiệm Hội An Bistro ở San Jose.

Không thể chối cãi, ấn tượng ấy là một sự thiên vị.

Thật ra, có đến hai sự thiên vị: thiên vị đối với món ăn và thiên vị đối với chủ tiệm.

Với món ăn, sự thiên vị đã quá hiển nhiên. Tôi sinh ở Quảng Nam, được ăn mì Quảng từ nhỏ, rất lâu trước khi cầm đũa gắp những sợi phở hay bún bò Huế, mì và hủ tiếu. Tôi ăn mì Quảng chủ yếu do mẹ hoặc bà con tôi nấu trước khi ăn ở một tiệm nào đó tại Quảng Nam - Đà Nẵng và những nơi khác. Vì vậy, mì Quảng lắng thật sâu vào ký ức của tôi. Nó không còn là món ăn nữa. Nó là kỷ niệm. Nhìn những sợi mì vàng óng trong tô, tôi không những thấy thực phẩm mà còn thấy cả hình ảnh của mẹ tôi, của anh em tôi, của tuổi thơ tôi. Chính vì vậy, mặc dù tôi vẫn thích và thường ăn phở và bún bò Huế, món ăn có sức lôi cuốn tôi một cách mãnh liệt nhất vẫn là mì Quảng. Đi lang thang trên các khu chợ người Việt, mỗi lần thấy tiệm mì Quảng, ít khi tôi cầm lòng được. Phải vào ngay. Như có tiếng gọi nào từ quá khứ xa xôi mời mọc. Nhưng thành thực mà nói: thường, tôi khá thất vọng. Rất ít khi nào tôi bước vào đó lần thứ hai. Lý do chính: dở. Có khi không những dở mà còn không phải là mì Quảng như cái tôi biết và chờ đợi.

Nhớ, có lần, ở Melbourne, nơi tôi sống, thấy một tiệm ăn trương bảng lớn “Mì Quảng”, tôi vào ngay. Đến lúc tô mì Quảng được bưng ra, tôi ngơ ngác. Không có vẻ gì là mì Quảng cả. Sợi mì trắng nuột. Bên cạnh những con tôm lột vỏ là những miếng thịt bò được thái mỏng. Nửa giống như hủ tiếu, nửa giống như phở. Khác, một chút xíu: một ít hột đậu phông rang giã nhỏ và một mảnh bánh tráng nướng. Hết. Tôi nếm thử. Chắc chắn không phải là mì Quảng. Cố lắm, tôi cũng chỉ ăn được một chút. Rồi bỏ. Khi tính tiền, người chủ tiệm thấy vậy, bèn hỏi: “Anh thấy mì Quảng ở đây thế nào? Tệ lắm hả?”. Tôi, một mặt, không muốn phũ phàng, nhưng mặt khác, lại không muốn nói dối, nên lừng khừng: “Ăn, cũng thấy ngon, nhưng hình như… không phải là mì Quảng.” Người chủ thật thà: “Vậy mì Quảng nấu sao hả anh?” Tôi ngạc nhiên, chưa biết trả lời thế nào, ông ấy nói tiếp: “Thực tình bọn em thấy khách hay hỏi nên nấu đại chứ không ai biết mì Quảng ra sao cả. Hỏi, mỗi người chỉ một cách khác nhau.”

Thực tình, tôi cũng không biết nấu mì Quảng ra sao cả. Tôi hoàn toàn dốt về chuyện nấu nướng. Chưa bao giờ tôi tự nấu một món ăn bình thường, kể cả kho thịt hay kho cá, đừng nói gì đến chuyện nấu một món phức tạp như phở hay mì Quảng. Hơn nữa, mì Quảng cũng khác hẳn các món nước khác ở Việt Nam. Khác, chủ yếu ở điểm này: mì Quảng dù có truyền thống khá lâu vẫn chưa được định hình một cách rõ rệt. Phở, hủ tiếu hay bún bò Huế đã được công thức hóa: mỗi món có loại thịt riêng, gia vị riêng, loại rau riêng. Chỉ cần lạc điệu một chút, người ta thấy ngay. Mì Quảng thì khác. Nó có thể dung hợp mọi thứ. Nó có thể được nấu với thịt heo, tôm, lươn hay cá lóc. Tôi còn nghe nói có người nấu mì Quảng với cả thịt vịt hoặc thịt chó nữa. Về nước lèo cũng vậy. Cũng không nhất định. Có người chan nước ngập cả tô. Lõng bõng như tô phở. Có người, đông hơn, nấu nước lèo thật sánh, rồi rưới một ít vào tô, vừa đủ để ướt các sợi mì. Đại khái giống như mì hay hủ tiếu khô.

Chưa được công thức hóa, mì Quảng có ba đặc điểm nổi bật: Một, rất đa dạng; hai, có tính chất thủ công, hiểu theo nghĩa là chưa được công nghệ hóa: nó thay đổi theo từng gia đình, và trong từng gia đình, theo đổi theo từng điều kiện kinh tế; và ba, thường trấn thủ trong gia đình. Để ăn một tô phở hay hủ tiếu ngon, người ta phải ra tiệm. Với bún bò Huế, cơ hội được ăn ngon ở nhà và ở tiệm tạm cho là ngang ngửa với nhau. Nhưng với mì Quảng, thường ở nhà ngon hơn hẳn ở tiệm. Chưa bao giờ tôi được ăn một tô mì Quảng nào ở tiệm ngon hơn những tô mì Quảng tôi được ăn trong gia đình. Của vợ con. Của anh em. Của bạn bè. Của người quen. Đây đó.

Chưa bao giờ.

Trừ ở tiệm Hội An Bistro ở San Jose.

Đến đây cần nói một chút về sự thiên vị thứ hai kể trên: thiên vị đối với chủ tiệm.

Chủ tiệm Hội An Bistro là Nguyễn Tâm (còn gọi là Tâm Nguyên), một nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng. Tâm không những là một luật sư thành đạt mà còn là một nghệ sĩ tài hoa trên nhiều mặt: âm nhạc, nhiếp ảnh và… nấu ăn. Lần nào chúng tôi đến San Jose cũng được Tâm đãi bằng các món ăn anh tự nấu, nhiều nhất là mì Quảng. Chưa bao giờ tôi thấy một người đàn ông nào nấu ăn một cách say sưa như Tâm. Anh nấu ăn như đang làm nghệ thuật. Đó không phải là một công việc. Mà là một cảm hứng. Tôi từng chứng kiến cảnh Tâm nấu nướng nhiều lần, nhưng nhớ nhất là vào tháng 7 năm ngoái, lúc tôi, Hoàng Ngọc-Tuấn và một số bạn bè văn nghệ khác đang ngồi uống bia ngoài vườn sau của Triều, em trai tôi, thì Tâm lui cui nấu mì Quảng. Đứng trong bếp, buồn; anh mang cái bếp gas ra vườn, gần chỗ chúng tôi, để có thể vừa nấu vừa chuyện trò. Lúc ấy anh mới ở tòa án về, còn nguyên bộ đồ vét và cà vạt. Chiều, trời lành lạnh, anh cởi cà vạt nhưng vẫn mặc áo vét. Thái thịt. Lột tôm. Lặt rau. Xào xào nếm nếm. Tay anh lúc nào cũng thoăn thoắt. Rất điệu nghệ. Mấy tiếng đồng hồ sau, chúng tôi mỗi người một tô mì Quảng vàng ruộm và thơm ngát. Ăn ngay ngoài vườn. Ngay bên cạnh nồi nước lèo còn nghi ngút khói.

Lần này, lúc chúng tôi đến San Jose, Tâm đã có tiệm Hội An Bistro nên không nấu ở nhà nữa. Anh mời chúng tôi đến tiệm. Chín giờ rưỡi sáng, Tâm phải ra tòa án; xong, anh vội vàng về tiệm, lúc chúng tôi đã đến và uống cà phê chờ. Anh tháo cà vạt và vắt chiếc áo vét trên ghế rồi chạy ngay xuống bếp, bảo người đầu bếp chính đứng qua một bên, tự nấu món ăn mà anh tâm đắc để đãi chúng tôi. Rất nhanh. Chỉ hơn nửa tiếng đồng hồ sau, mỗi người chúng tôi đều có một tô mì Quảng nghi ngút khói trước mặt. Vẫn màu vàng óng. Vẫn những sợi bắp chuối nõn thái mỏng. Và vẫn cực kỳ ngon. Ngon đến độ một người bạn tôi đề nghị thêm một tô thứ hai. Anh nói: Chưa bao giờ ăn sáng mà ăn đến hai tô. Nhưng ăn xong tô đầu, cứ thấy thòm thèm. Lại sợ về lại Úc, không có dịp ăn một tô mì Quảng ngon đến vậy.

Trong lúc chúng tôi ăn, Tâm vẫn chạy lăng xăng lấy cho người này một ít ớt, người nọ một ly nước. Anh làm việc như một người bồi bàn đầy tận tụy. Miệng lúc nào cũng cười tươi. Bạn bè anh ai cũng biết anh mở tiệm ăn không phải vì lý do kinh tế. Nghề luật sư đủ để gia đình anh sống một cách sung túc, hơn nữa, trưởng giả. Anh mở tiệm chỉ để có cơ hội đàn đúm với bạn bè.

Có thể thêm lý do này nữa: để có dịp làm nghệ thuật trên bếp. Và với lửa. Nhất là với món mì Quảng anh học được từ người mẹ mới qua đời cách đây mấy năm.

 * Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

TIN VIỆT NAM



Mẹ nhà báo Tạ Phong Tần đã chết do tự thiêu

2012-07-30
Sáng sớm ngày 30 tháng 7, thân mẫu của nhà báo đang bị giam giữ Tạ Phong Tần, bà Đặng Thị Kim Liêng, tự thiêu trước trụ sở Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bạc Liêu .


timthumb.php-200.jpg
Bà Đặng Thị Kim Liêng, thân mẫu chị Tạ Phong Tần đã chết do tự thiêu sáng 30/7/2012. Photo courtesy of nguoiviettudoutah.org
Bà Đặng Thị kim Liêng đã qua đời trên xe từ Bạc Liêu về Sài Gòn. Hiện nay xe cứu thương chở bà đã quay trở về Bạc Liêu. Bà Đặng Thị Kim Liêng là mẹ ruột nhà báo Tạ Phong Tần, bị công an thành  phố Hồ Chí Minh bắt đi từ nhà ở thành  phố Hồ Chí Minh ngày 5 tháng Chín năm 2011. Sau đó gia đình ở Bạc Liêu được báo là cô Tạ Phong Tần bị giam giữ tại số 4 Phan Đăng Lưu .
Vào khi còn tám ngày nữa, tức đến ngày 7 tháng Tám tới, nhà báo Tạ Phong Tần sẽ ra trước phiên xử cùng ngày với blogger Điều Cày, thì sáng sớm hôm nay công an  báo cho gia đình biết  bà Đặng Thị Kim Liêng tự thiêu và bị phỏng rất nặng.
Đến 12giờ 30 phút trưa  từ Bạc Liêu, nơi thân mẫu nhà báo Tạ Phong Tần cư ngụ, chị Tạ Minh Tú, con gái bà Đặng Thị Kim Liêng và là em ruột cô Tạ Phong Tần, báo cho biết:
"Đưa bà cụ đi thành phố, bệnh viện người ta kêu chuyển đi, phỏng nặng quá, vết thương nặng quá cho nên phải đi thành phố."
Vụ việc xảy ra từ lúc sáng sớm mà gia đình không hay biết, chị Tạ Minh Tú kể lại:
"Thì 5 giờ sáng tính cũng như  mọi lần là tưởng ba cụ đi uống cà phê, một hồi mới hay bà cụ tự thiêu trước trung tâm ủy ban tỉnh. Thành phố Bạc Liêu. Cũng có người quen báo, rồi một hồi công an lại báo tin, nói là người nhà của em là bà lão Đặng Thị Kim Liêng bà cụ tự thiêu nằm ở trong bệnh viện người nhà có hay không,  thì em mới biết.
Thì mới cho người anh vô thăm, điện thoại hỏi thì người anh nói là cháy toàn thân đen hết trơn, em cũng không dám vô luôn cũng sợ tâm thần mình không được ổn định. Giờ người anh  công an người ta mời đặng người ta  hỏi chuyện. Em thì không dám vô nhưng nghe công an Bạc Liêu, ông phó công an phường, cho biết là nặng, không biết có qua khỏi không."
Vẫn theo lời chị Tạ Minh Tú, hai nguyên nhân khiến bà cụ âm thầm quyết định đi tự thiêu  trước trụ sở ủy ban nhân dân tỉnh sáng nay là vì:
"Thì tranh chấp đất đai nhà cửa với người hàng xóm, đi làm đơn thưa kiện mà nghe bà cụ nói là người ta không giải quyết thỏa đáng cho nên tức, bức xúc  vì trên phường người ta giải quyết không thỏa đáng. Cái thứ hai nữa là vì chị thì bị mang tội như vậy thì bà cũng suy nghĩ là do ảnh hưởng cái vụ đó. Tại vì người ta cho người theo dõi hoài, em vừa đi Sài Gòn một cái là có người theo dõi liền, đi thăm nuôi là có người theo dõi liền".
Khi tìm cách liên lạc thì phó công an phường mà chị Tạ Minh Tú nhắc đến xác nhận :
Công an: Có mà đưa đi bệnh  viện cấp  cứu rồi.
Thanh Trúc: Thưa anh Nhuận, hiện giờ tình hình bà làm sao, có nguy kịch lắm không?
Công an: Cái đó bác sĩ biết chứ mình sao mà biết.
Thanh Trúc: Nhưng mà qua điều tra sơ khởi hay là qua con mắt nghiệp vụ đầu tiên của anh thì  anh nghĩ làm sao bà cụ phải đi tự thiêu như vậy?
Công an: Cái đó chưa biết nguyên nhân, giờ muốn gì thì một giờ rưỡi chị lại gặp đi nghen, chút nữa chị điện nghen.
Nhưng vào lúc 1 giờ 30 trở đi, khi  gọi lại cho phó công an phường là anh Nhuận thì không thể liên lạc được vì người được gọi không bắt máy nữa.
Một người tương đối thân cận nhất với nhà báo Tạ Phong Tần ở thành phố Hồ Chí Minh cũng như với gia đình cô ở Bạc Liêu là bà Dương Thị Tân,  vợ blogger Điều Cày Nguyễn Văn Hải,  cũng đang bị giam tù. Từng nhiều lần bị công an sách nhiễu gây khó khăn cho bản thân bà cũng như con cái bà kể từ khi blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải bị bắt vào tù, bà Dương Thị Tân nói rằng bà hiểu chính sự căng thẳng và lo sợ là  nguyên nhân khiến mẹ cô Tạ Phong Tần  tự thiêu:
"Theo tôi được biết nỗi bức xúc này của bà có từ lâu rồi. Bà cũng thường gọi điện thoại tâm sự với tôi, nói rằng người ta tức là công an luôn luôn đến nhà đe dọa, nói là sẽ bắt tù cả nhà. Người ta rất sợ những cái việc dọa nạt như thế, bị đi tù bị đuổi ra khỏi nhà , cướp nhà cướp đất. Luôn luôn bà có một tư tưởng là người ta sẽ làm việc đó vì người ta đã dọa rồi.
Khi căng thẳng quá, trầm uất quá, mà đến những cơ quan chịu trách nhiệm giải thích việc này việc kia thì người ta không tiếp, thậm chí người ta xua đuổi , thậm chí người ta giám định là bà thế này thế kia. Bà đã từng nói người ta giám định bà tâm thần, trong khi đó bà là một người, nếu xét về trình độ ở thôn quê, thì bà có học hành, bà là cô giáo.
Chính xác là cái sự đe dọa của người ta ghê gớm qua, căng thẳng quá. Cách đây độ khoảng một tuần bà có gọi cho tôi, nói người ta dọa người ta sẽ đưa ra đảo, cho cả nhà đi tù và người ta sẽ lấy nhà. Mà người dân quê cả đời lam lũ, chỉ có cái nhà nhỏ để ở, bây giờ người ta rất sợ cho nên bà bị căng thẳng".
Từ lúc 2 giờ trưa cùng ngày trở đi đường điện thoại viễn liên  đã không thể nào kết nối được nữa với gia đình bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ ruột nhà báo Tạ Phong Tần.
Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và cập nhật tin tức đến quí thính giả.

 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/tpt-mother-setfire-died-tt-07302012094303.html

 

 Công an ngăn chận biểu tình
 chống TQ ngày 29/7
2012-07-29
Tuy không có lời kêu gọi biểu tình chống Trung Quốc trên mạng cuối tuần này, thế nhưng từ thứ Sáu ngày 27 thì công an Hà Nội đã đến tận nơi ở của những người hay đi biểu tình để ngăn cản họ.

Photo courtesy of Aquilaria Vy Tong's facebook
Công an đứng ở công viên 30/4 tại Sài Gòn sáng 29/04/2012 để ngăn chận biểu tình chống Trung Quốc.

Thanh Trúc hỏi chuyện một vài người bị công an đến nhà làm việc từ hôm thứ Sáu.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A là người thường tham gia biểu tình chống Trung Quốc và tuần trước ông cũng đã có mặt tại cuộc biểu tình với khoảng hai trăm người trước vườn hoa cạnh đại sứ quán Trung Quốc:
“Tuần này trên mạng không thấy nói gì có biểu tình cả. Thì ngày thứ Sáu người ta hai lần, một lần buổi chiều bốn người danh nghĩa là đến thăm ông bố vợ tôi nhưng lại muốn gặp tôi. Lúc đấy tôi đang ở bên ngoài.
Tôi bảo với họ rằng như vậy là xếp của các cậu không chịu khó tìm hiểu thông tin, hôm nay không ai đi biểu tình cả, như vậy làm gì phải khổ sở ngày Chủ Nhật mất công như thế này.
TS Nguyễn Quang A
Đến năm giờ chiều họ quay trở lại, lần này đến hơn một chục người, chủ tịch phường, Mặt Trận, dân phố, đủ loại người. Công việc của tôi xong thì tôi về đến nhà lúc ấy độ chín giờ tối rồi thì họ vẫn ở đấy. Tôi về thì họ nói rằng nhân ngày Thương Binh Liệt Sĩ thì họ muốn trao đổi với tôi.
Tôi bảo tôi sẵn sàng trao đổi tất cả mọi thứ, nhưng có một điều như năm ngoái, cũng với một đoàn lớn như thế này thì nếu nói đến chuyện đi biểu tình thì đừng bao giờ đặt vấn đề đấy. Các bác không được quyền khuyên tôi hay là tuyên truyền về chuyện đó vì tôi đã trình bày với ông bí thư thành ủy Hà Nội, ông chủ tịch Hà Nội, ông công an trưởng của Hà Nội cách đây một năm rồi.
Rồi họ cứ nói chuyện chung chung thôi, nhưng lúc nào họ ám chỉ đến chuyện biểu tình thì tôi chặn lại. Về sau thì ông chủ tịch phường có mời tôi là đến hôm nay ra phường để trao đổi. Đấy là tối thứ Sáu, họ ngồi mãi đến 10 giờ thì họ cũng chán và họ đi về.”

000_Hkg7588600-250.jpg
Người dân tiếp tục xuống đường biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 22-07-2012. AFP PHOTO.
 
Khi đó, tiến sĩ Nguyễn Quang A cho biết tiếp ông trả lời chủ tịch phường là ông không nhận lời mời đó, đồng thời ký vào giấy mời mà chủ tịch phường đưa là ông sẽ không ra. Đến sáng hôm nay, Chúa Nhật 29 tháng Bảy, công an kéo đến canh gác ngay đầu ngõ nhà tiến sĩ Nguyễn Quang A:
“Hôm nay mãi đến gần 9 giờ thì người nhà bảo có rất nhiều người đang canh ở ngoài kia. Tôi cũng đi ra xem thế nào và tôi cũng có nhắn trên mạng với anh em là có cái chuyện như thế.
Tôi ra đầu xóm khoảng một trăm mét thì đúng là có một chục người mặc thường phục mà thực sự tôi biết mặt vài cậu đã đến nhà tôi năm ngoái. Tôi quay trở lại thì họ cũng quay trở lại, sau họ lại gọi thêm cả bảo vệ, dân phố với những người khác ra nữa. Tôi bảo với họ rằng như vậy là xếp của các cậu không chịu khó tìm hiểu thông tin, hôm nay không ai đi biểu tình cả, như vậy làm gì phải khổ sở ngày Chủ Nhật mất công như thế này.”
Đó là trường hợp tiến sĩ Nguyễn Quang A là người có nơi cư trú cố định ở Hà Nội. Trường hợp nhà báo tự do Dương Thị Xuân thì khác. Chị báo cho biết:
“Họ cũng đi kiếm tôi đấy, nói chung họ tìm tôi rất nhiều. Đợt vừa rồi tôi tham gia biểu tình liên tục nhưng bởi vì do nhà ở của tôi bị chính quyền cản trở không cho dựng nhà nên tôi phải đi ở nhờ. Tôi cứ ở nhờ đến đâu thì an ninh họ đến họ gây khó dễ chủ nhà nên chủ nhà cũng không cho tôi ở. Nay tôi ở nhà này, vài hôm lại đi ở nhà khác.
Tôi cũng nghe nhiều người gọi điện, thí dụ chồng tôi, anh ấy ở một nơi khác, gọi điện cho tôi bảo an ninh hỏi tôi có đến đấy ở không, nếu đến phải ra trình báo cho họ. Nhưng mà vì tôi không có chỗ ở cố định nên họ không thể nào cản trở được tôi.”

Chủ nhà gọi điện cho tôi nói là không đi biểu tình nữa, công an có đến nói nhiều chuyện lắm.
Cựu chiến binh Tạ Trí Hải
Vẫn theo lời nhà báo tự do Dương Thị Xuân thì sáng nay Hà Nội mưa to gió lớn do ảnh hưởng của bão, hơn nữa từ tuần trước bà con đồng ý với nhau là cuối tuần này không biểu tình để bảo vệ sức khỏe cho mọi người tham dự.
Người thứ ba thường xuyên có mặt cùng đoàn biểu tình chống Trung Quốc, được gọi là nghệ sĩ đường phố, cựu chiến binh Tạ Trí Hải, hôm thứ Sáu cũng bị công an đến chỗ ông tạm trú, tạo áp lực với chủ nhà, bảo phải nói với ông không được đi biểu tình nữa:
“Chủ nhà gọi điện cho tôi nói là không đi biểu tình nữa, công an có đến nói nhiều chuyện lắm. Cái thứ hai nữa tức là sáng hôm nay công an họ đến kiểm tra hộ khẩu giấy tờ, bắt kê khai lý lịch đủ thứ đến mười giờ . Họ khuyên tôi là đủ rồi, đừng nên đi nữa, khuyên là bác đã đi biểu tình mấy lần rồi, thôi đi, tuổi già sức yếu rồi, đi làm gì nữa. Đại để thế. Tôi mới cười, tôi bảo bao giờ đòi lại Hoàng Sa Trường Sa thì thôi.”
Mãi đến hơn 10 giờ thì công an mới ra về, ông Tạ Trí Hải đã xách xe chạy ra đại sứ quán Trung Quốc và người dân ở đó cho biết hôm nay không có đoàn biểu tình chống Trung Quốc tập họp ở đó.
Thanh Trúc tường trình từ Thái Lan.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/police-no-anticn-rally-this-weekend-ttruc-07292012135437.html
 


Bao nhiêu người dân Việt còn tin Trung Quốc?

2012-07-30
Một bài báo mới đây trên mạng “Trung Quốc Binh khí Đại đoàn” của xứ đàn anh “4 tốt”, “16 chữ vàng” và “môi hở răng lạnh”, kêu gọi “hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa” – tức Trường Sa.

AFP photo
Người dân Việt Nam tiếp tục xuống đường biểu tình chống Trung Quốc hôm 22/7/2012

Vừa ăn cướp vừa la làng

Qua bài mang tính chất “vừa ăn cướp vừa la làng” tựa đề “Trung Quốc Lâm Nguy”, bài báo lưu ý rằng “Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công VN, VN cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa”.
Sau khi mô tả “ VN vốn xưa là phiên thuộc” của Trung Nam Hải, bài báo lớn tiếng rằng “VN…vong ơn bội nghĩa, đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất”, “Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công”, và bài báo kết luận rằng “Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa”.
Theo blogger Huỳnh Ngọc Chênh thì Bắc Kinh ngày càng có hành động cụ thể xâm lấn chủ quyền biển đảo của VN, chẳng hạn như vừa thiết lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa của VN, thao dợt quân sự bằng đạn thật trên vùng Trường Sa, kết hợp với phương tiện truyền thông kêu gọi và thúc giục “giết chết và tiêu diệt” nhân dân VN.

 Trong khi đó, theo nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh:
"Nhà cầm quyền Việt Nam, một mặt im thin thít nuốt nhục, một mặt thẳng tay trấn áp, gây khó dễ những người dân biểu tình hoặc biểu lộ thái độ chống lại quân xâm lược Trung Quốc. "
Qua bài “Quan hệ Việt-Trung ra khỏi vòng tranh tối tranh sáng”, blogger Trần Kinh Nghị kể lại kinh nghiệm qua các giai đoạn chiến tranh biên giới năm 1979 và Trường Sa năm 1988, thì Hoa Lục thường “vu oan giáng họa” trước khi muốn phát động chiến tranh. Bây giờ, sách lược đó đang tái diễn. Và phương cách ném đá giấu tay “miệng nói hòa bình tay vung binh hỏa” của TQ cũng nằm trong khuôn khổ ấy. Blogger Trần Kinh Nghị hỏi thẳng rằng Bắc Kinh muốn gì nếu không phải để gây sự và kiếm cớ phát động một đợt chiến tranh lấn chiếm biển đảo?

Và tác giả trích dẫn lời một GS Philippines lưu ý rằng “TQ chỉ chờ chúng ta bắn phát súng đầu tiên là hùng hổ trấn áp và tuyên bố chỉ tự vệ”. Blogger Trần Kinh Nghị báo động:
"Thế giới không thể lại mất cảnh giác trước những động thái quá lộ liễu của Bắc Kinh . Và hơn ai hết, người Việt Nam cần nhận rõ các thế lực hiếu chiến ở TQ đang đẩy trạng thái quan hệ Trung -Việt sang thời kỳ mấp mé bờ vực chiến tranh. Giờ đây hãy bớt suy nghĩ về TQ theo lô-gíc thông thường, mà hãy nghĩ đến thứ lo-gíc của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán; nó không đại diện cho nhân dân TQ mà chỉ đại diện cho bộ phận hiếu chiến của đất nước đông dân nhất thế giới này. Nó nhắc nhớ đến chủ nghĩa phát xít Hít le đã một thời gây bao tai họa cho nhân loại như thế nào. Qua cái cách mà Đặng Tiểu Bình đã "thiết kế" cuộc chiến tranh đẫm máu chống VN năm 1979, thì chiến tranh đối với TQ chỉ là một trò "diễn tập" của một đội quân đang ngứa ngáy chân tay và thừa súng đạn."

Dân tộc VN sẽ về đâu?

image.jpg
Người dân tiếp tục xuống đường biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 22-07-2012. AFP PHOTO.
Trước cảnh “Tổ Quốc lâm nguy” như vậy, tác giả Nguyễn Văn Thiện nêu lên câu hỏi rằng “Ai còn tin TQ là bạn (thì) giơ tay lên?”. Tác giả nhắc lại theo dòng lịch sử với biết bao ‘biến cố thăng trầm, đánh nhau máu chảy thành sông, xác chất thành gò”, thì đến năm 1990, VN và TQ lại “làm lành với nhau” khi 2 nước tận dụng “nội công thâm hậu” của bộ máy tuyên truyền để “nhả ngọc phun châu” nào là bạn “16 chữ vàng”, “4 tốt”, nào là “môi hở răng lạnh”…nghe rất nhàm tai. Rồi tác giả giả sử rằng nếu bây giờ bất ngờ tập trung một nhóm người dân Việt không phân biệt thành phần, tuổi tác, nam nữ, và hỏi rằng “ai còn tin TQ là bạn thì giơ tay lên”, thì liệu có bao nhiêu người dân Việt giơ tay ? Tại sao như vậy. Tác giả giải thích:
"Đơn giản, vì thằng trẻ con nó cũng thừa biết thế nào là Trung Quốc. Hàng giả từ đâu vào Việt Nam? Trung Quốc. Sữa, thực phẩm chứa chấn ung thư từ đâu tới? Từ Trung Quốc. Phụ nữ bị bắt cóc rồi thì bán đi đâu nhiều nhất? Sang Trung Quốc. Ai khai thác Bô xít ở Tây nguyên? Trung Quốc. Ai bắt bớ đánh đập ngư dân Việt Nam? Vẫn là Trung Quốc. Ai chiếm biển đảo của ta? Trung Quốc chứ ai nữa. Thế thì tại sao ta vẫn gọi Trung Quốc là bạn? Chịu, không biết, nghe nói thế thì biết thế, nhưng không bao giờ tin thế. Không bao giờ Trung Quốc là bạn của Việt Nam, đừng tiếp tục lừa dối nhau điều đó!"
Blogger Nguyễn Văn Thiện cũng không quên các quan lãnh đạo đảng và nhà nước của VN, để rồi hình dung một cuộc họp Bộ Chính trị, qua đó, ông hỏi “Ai còn tin TQ là bạn, giơ tay lên?”. Tác giả không rõ sẽ có bao nhiêu quan Việt giơ tay ? Và đó là những cánh tay của ai ?
Blogger Thái Hiền nhìn thấy dân tộc VN hiện đang đứng trước một “Bước rẽ định mệnh”, mà theo tác giả, thì “tất cả đều phụ thuộc vào quyết định lựa chọn của những người cầm cân nảy mực cho số phận của dân tộc”. Họ - những người “cầm cân nảy mực” – có thể là những “anh hùng dân tộc vĩ đại nhất” nếu “rẽ sang phải” trong “bước rẽ định mệnh” ấy, hoặc trở thành tội đồ dân tộc, tội đồ lịch sử của mọi thời nếu “rẽ sang trái”. Như vậy, rẽ sang phải và rẽ sang trái là như thế nào. Tác giả mô tả:
Trước tình hình căng thẳng trên biển Đông, các nhà lãnh đạo Việt Nam hình như muốn chứng minh cho cả thế giới thấy khả năng chịu nhục của mình đã đạt đến cấp độ cao.
Blogger Mẹ Nấm
"Rẽ sang Phải: Việt Nam sẽ là thành viên ưu tú của một thế giới văn minh, tiến bộ và phát triển bền vững. Người Việt Nam được ngẩng cao đầu với một vị thế xứng đáng trên trường quốc tế, được hưởng trọn vẹn quyền thiêng liêng của con người trong môi trường công bằng, dân chủ, tự do và bác ái.
Rẽ sang Trái: Việt Nam sẽ trở thành thành chư hầu vĩnh viễn của một Bành trướng Phuơng Bắc, cái quái thai của chế độ Phong kiến đang thời kỳ quá độ, một xã hội vẫn còn nguyên sự man di mọi rợ, nhưng đã manh nha ôm mộng trở thành trung tâm vũ trụ, nóc nhà thế giới. Có lẽ không cần phân tích thêm những chứng cứ về mối đe doạ hiện hữu mà chế độ Bành trướng Phương Bắc đang áp đặt cho chính dân nước họ, rồi tiếp đến là các nước trong khu vực và cuối cùng sẽ là cả thế giới.
Sẽ không có kịch bản thứ ba cho ý đồ rẽ sang cả hai bên hay đứng yên tại chỗ. Bởi bánh xe lịch sử nhân loại sẽ nghiền nát những gì là vật cản trên đường đi của nó."
Blogger Mẹ Nấm nhìn thấy thành phố gọi là “Tam, Sa” do “mẹ mìn TQ” nặn ra thể hiện mốc lịch sử quan trọng cho tiến trình từng bước xâm chiếm VN trong chiến lược bành trướng bá quyền phương Bắc. Mẹ Nấm lại báo động rằng “sự ‘bức sinh’ của Tam Sa là một hình thức ‘bức tử’ Hoàng Sa và Trường Sa một cách chính thức”, và nêu lên câu hỏi rằng “ người ta thấy gì về phản ứng ở tầm lãnh đạo quốc gia ? Và từ đó thấy gì ở bản chất qua những phản ứng này?” và “Đảng và Nhà nước VN đã ‘lo’ gì trước hành động xâm lược chính thức này” của phương Bắc ?

Chính phủ và dân không cùng tiếng nói

035_20120724_40487-250.jpg
Hải quân Trung Quốc trong lễ bổ nhiệm các quan chức cho cái gọi là TP Tam Sa. AFP photo
Qua bài “Thấy gì qua những phát ngôn”, blogger Mẹ Nấm khi nhắc lại việc giới cầm quyền quả quyết hãy để “đảng và nhà nước lo” khiến từ Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc cho tới Hoàng Sa, Trường Sa của VN hiện giờ đều mang cái mộc “Made in China”, thì nay “đảng hoàn toàn im lặng mặc dù mọi hiệp ước ký kết giữa 2 nước đều do ông Tổng bí thư đảng đặt viết ký”, trong khi nhà nước thì không có động thái nào khác hơn là luôn để cho người phát ngôn Bộ Ngoại giao “phát đi phát lại đoạn băng rè được thâu sẵn từ năm 2007 cho đến nay” để phản đối suông Thiên Triều. Trong khi các ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng ở đâu trong lúc “Sơn Hà nguy biến” hiện giờ ? Họ “mắc nghẹn” cái gì mà không nói nên lời ? Blogger Mẹ Nấm nhận xét tiếp: "Trước tình hình căng thẳng trên biển Đông, cùng với câu “trấn an” lòng dân bất hủ “mọi việc đã có đảng và nhà nước lo”, các nhà lãnh đạo Việt Nam hình như muốn chứng minh cho cả thế giới thấy khả năng chịu nhục của mình đã đạt đến cấp độ cao."
Vẫn theo blogger Mẹ Nấm thì trên thực tế, việc bỏ qua các hành động xâm chiếm ngày càng leo thang của phương Bắc trong bối cảnh đàn áp người dân biểu tình yêu nước, mà nổi bật là các phiên toà kín xét xử 3 bloggers Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Anh Ba Saigòn Phan Thanh Hải, Công lý và Sự thật Tạ Phong Tần - những người từng tham gia biểu tình chống TQ xâm lược và thường viết bài mạnh mẽ về chủ quyền biển đảo VN – là bằng chứng hùng hồn rằng “chỉ có người dân VN phản đối chính sách bành trướng bá quyền của TQ, còn chính phủ VN thì không”.
Sau khi nêu lên câu hỏi rằng những người lãnh đạo VN có đi chung một con tàu với dân tộc này trong việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ hay không, blogger Mẹ Nấm lưu ý:
"Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Biên giới Việt Trung, Hoàng Sa, Trường Sa là câu trả lời.
Những bản án, những cú đạp, cái đấm vào mặt nhân dân, những hàng rào người quanh nhà lẫn những những hàng rào song sắt với áo xanh lá cây, áo vàng, lẫn áo xanh da trời ngăn chận người dân thể hiện lòng yêu nước, khẳng định chủ quyền và phản đối Trung Quốc xâm lược là câu trả lời.
Những Đại hội đại biểu toàn quốc hội hữu nghị VN-TQ, những cuộc thi Tiếng hát hữu nghị Việt-Trung là câu trả lời. Và sự im lặng của những người đang nắm quyền lãnh đạo cao nhất nước trước sự việc Tam Sa là câu trả lời."
Đừng lợi dụng nhân dân thêm nữa. Chính nhân dân là người làm nên chiến thắng trong các cuộc chiến tranh xưa nay. Và hãy nhớ quân thù đã ở ngoài biên ải, dày dặc trên Biển Đông.
Nhà văn Thùy Linh
Blogger Thùy Linh cũng kêu gọi giới cầm quyền là “đừng lợi dụng nhân dân” thêm nữa cho “mục đích tồn tại của chế độ vốn đã bộc lộ quá nhiều sự xấu xa, tồi tệ, bất chấp nguy nan về chủ quyền đất nước”, đừng lợi dụng nhân dân để “bắt họ cam chịu vô tận những bất công”, đừng lợi dụng nhân dân theo kiểu “bầy cừu được dẫn dắt bởi cơ chế xin-cho”. Và nhà văn Thùy Linh nhấn mạnh rằng:
"Đừng lợi dụng nhân dân thêm nữa. Chính nhân dân là người làm nên chiến thắng trong các cuộc chiến tranh xưa nay. Và hãy nhớ quân thù đã ở ngoài biên ải, dày dặc trên Biển Đông. Khi Tổ quốc lâm nguy, liệu cách sử dụng, lợi dụng nhân dân như hiện nay có động viên được con em họ ra trận? Lời thần Kim Qui:“Giặc chính là người ngồi sau lưng ngươi đó”. Trảm giặc ngoài biên ải cũng quan trọng như phải trảm giặc đang hoành hành ngay trong lòng Tổ quốc này."

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vns-pp-still-trust-cn-raise-their-hands-07302012132938.html