Mạn Đàm Với Bs Nguyễn Tường Bách
Lâm Lễ Trinh
Năm 1988, bác sĩ
Nguyên Tường Bách và gia đình di cư từ Trung quốc qua Californie. Một
thời gian sau, chúng tôi có dịp tiếp xúc với nhau và trở nên đôi bạn tâm
giao. Sau khi phổ biến năm 1995 quyển tiểu thuyết "Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn", Bs Bách cho ra mắt độc giả năm 1999 "VN, Một thế kỷ qua. Hồi ký cuốn một, 1916-1946". Tiếp theo là tập ký ức phần 2 "Việt Nam, Một thế kỷ qua. 54 năm lưu vong Trung quốc (1946-1988) và Hoa kỳ (1988-2000)" mà tôi đã nhận lời giới thiệu trong buổi ra mắt sách ngày 23.9.2001 tại Hội quán Little Sàigon Radio, Californie.
Từ nhiều năm, hai chúng tôi là Cố
lvấn của tổ chức bất vụ lợi "Mạng Lưới Nhân quyền" thành lập tháng 11.1997. Bs Bách (NTB) là một thành viên trong nhóm sáng lập. Ngày 24.9.2005, anh chị Bách mới chấp nhận cho tôi (LLT) thực hiện một cuộc mạn đàm thân mật trên hai giờ đồng hồ tại tư thất của anh chị thuộc thành phố Westminster. Cuộc mạn đàm này được Đinh Xuân Thái, Đài Little Saigon TV, đích thân thu hình.
lvấn của tổ chức bất vụ lợi "Mạng Lưới Nhân quyền" thành lập tháng 11.1997. Bs Bách (NTB) là một thành viên trong nhóm sáng lập. Ngày 24.9.2005, anh chị Bách mới chấp nhận cho tôi (LLT) thực hiện một cuộc mạn đàm thân mật trên hai giờ đồng hồ tại tư thất của anh chị thuộc thành phố Westminster. Cuộc mạn đàm này được Đinh Xuân Thái, Đài Little Saigon TV, đích thân thu hình.
Sau đây là những đoạn có thể tiết lộ trong cuộc phỏng vấn:
LLT: Xin anh vui lòng cho biết vài nét chính về vị trí của anh trong gia tộc Nguyễn Tường.
NTB: Tôi sinh năm 1916 tại
huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Con út trong một gia đình 7 người con trong
đó có Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long
(Hoàng Đạo), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) và Nguyễn Thị Thế, định cư và
qua đời ở Hoa kỳ. Hai anh Tam và Long từng giữ chức Bộ trưởng Ngoại
giao và Bộ trưởng Kinh tế trong Chính phủ Liên Hiệp Kháng chiến VN thời
Hồ Chí Minh. Anh Hai Nguyễn Tường Cẩm bị Việt Minh thủ tiêu khi mới 44
tuổi tại Bắc Việt mặc dù không từng tham gia đảng phái nào.

Sau khi xong tiểu học tại Hải Dương và Thái Bình, tôi về
Hà Nội, đường Hàng Vôi, để tiếp tục chương trình sơ học. Tôi vào trường
Bưởi, tức Chu Văn An, để luyện thi Tú tài nhưng sau một thời gian, tôi
xin thôi, về nhà mua sách để tự học vì không thích không khí giáo dục
bảo hộ. Đổ Tú tài 1 Pháp lối năm 1930, tôi trợt Tú tài 2. Tại trường
Albert Sarraut, ban Triết, tôi được Giáo sư Bourguignon chú ý vì ông
nhận thức tôi có một cái vốn Triết khá vững nhờ nghiên cứu riêng. Đậu
hạng ưu, tôi ghi tên vào Trường Y khoa Hà Nội. Tôi thích văn chương hơn
nhưng gia đình khuyên nên có một chọn lựa thực tế, bảo đảm đời sống
tương lai.
LLT: Lúc ấy, ngành y đòi hỏi mấy năm học? Anh thi đậu năm nào?
NTB: Bảy năm, gồm có một
năm chuẩn bị PCB. Tôi nạp luận án năm 1943 và qua năm sau lãnh cấp bằng
bác sĩ, trước ngày 3.9.1945 Nhựt đảo chính Pháp. Trong lúc học y khoa
cũng như sau khi ra trường, tôi hoạt động hội kín trong Đảng Đại Việt
Dân chính, làm thơ, viết báo với nhóm Tự lực Văn đoàn và phụ trách -
trong cương vị hoặc chủ nhiệm, hoặc chủ bút - các tờ báo Ngày Nay Tập
mới, Bình Minh, Việt Nam Thời báo và sau hết, tờ Việt Nam, cơ quan ngôn
luận của Việt nam Quốc Dân Đảng.
LLT: Căn cứ vào ba tác
phẩm của anh kể ở đoạn trên thì cuộc đời anh có thể chia ra thành ba
giai đọạn: 1) thời niên thiếu và đấu tranh văn hóa và cách mạng trong xứ
(1916-1946) 2) giai đọan lưu vong tại Trung quốc (1949-1988) 3) di cư
qua Hoa kỳ năm 1988 đến nay.
Truớc hết, xin anh vui lòng cho biết về chủ trương và hoạt động của nhóm Tự lực Văn đoàn, đặc biệt vai trò cốt cán của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
Truớc hết, xin anh vui lòng cho biết về chủ trương và hoạt động của nhóm Tự lực Văn đoàn, đặc biệt vai trò cốt cán của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
NTB: Lúc còn trẻ, anh Tam
đã bắt đầu viết lách và được dân chúng biết qua hai sáng tác Nho Phong
và Người Quay Tơ. Khi đi học ở Pháp về với bằng cử nhân vật lý, anh trở
thành chủ nhiệm tờ Phong Hóa do một người bạn nhường lại năm 1932. Cùng
với một số anh em gồm có Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mở,
Cù Huy Cận, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Cát Tường tức hoạ sĩ Lemur...., anh
thành lập Tự Lực Văn Đoàn. Chủ trương của TLVĐ là canh tân xã hội, chế
diễu các tệ đoan và chống hủ lậu, phong kiến. Riêng về tôi (lúc đó là
người trẻ nhất trong nhóm), tôi cũng tập tành làm thơ mới như Bàng Bá
Lân, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận.. Thơ của tôi đăng báo dưới bút hiệu
Tường Bách. Bài thơ được chú ý nói về Tết. Tuy nhiên tôi không thể tiếp
tục lâu. Phong Hoá bị đóng cửa. Tôi phải thay thế anh Nguyễn Tường Cẩm
quản lý tờ Ngày Nay.
Hoàng Đạo có bằng cử nhân luật, làm tham tá lục sự,
chuyên viết bài bình luận thời cuộc và nổi tiếng, đặc biệt trong giới
thanh niên, với tác phẩm Mười Điều Tâm Niệm. Hoàng Đạo không liên hệ gì
đến phong trào hướng đạo của Hoàng Đạo Thúy. Về sau, Thúy là cha vợ của
Tạ Quang Bửu, Tổng trưởng Quốc phòng Việt Minh, người thay mặt Bắc Việt
ký vào Hiệp định Genève. Thạch Lam không làm chính trị, chỉ chuyên về
văn chương, viết truyện ngắn và lo việc quản trị toà soạn. Thạch Lam
chết sớm, lúc 33 tuổi, vì bệnh phổi, trong hoàn cảnh thiếu thốn.
Nhất Linh là lãnh tụ Đại Việt Dân chính. Tổ chức này hợp
nhất với Việt Nam Quốc dân Đảng năm 1943. Năm 1945, VNQDĐ nhập với Đại
Việt Quốc Dân Đảng dưới danh xưng chung Quốc Dân Đảng. Hoàng Đạo và Khái
Hưng từng bị bắt và tra tấn ở Vũ Bản. Anh Tam cũng bị giam bốn tháng ở
bên Tàu và được thả ra nhờ sự can thiêp của cụ Nguyễn Hải Thần.
LLT: Chúng ta hảy đề cập
đến giai đọan 2: giai đoạn lưu vong. Trong trường hợp nào, năm 1946, với
tư cách Chỉ huy trưởng Đệ tam chiến khu của Quốc Dân Đảng (gồm từ Vĩnh
Yên tới Lào Kay), anh rút lên Yên Báy và từ đó, qua Trung Hoa? Chiến khu
này có bao nhiêu quân? Tàn quân qua Tàu gồm có ai? Lúc đó, Nguyễn Tường
Tam ở đâu? Anh giải thích như thế nào lực lượng Việt Minh có ảnh hưởng
mạnh trong quần chúng? Vì sao phiá quốc gia năm 1946 tan rã mau chóng
trước đám quân Việt Minh?
NTB: Tháng 8.1945, Việt
Minh cướp chính quyền. Cùng với VN Cách Mệnh Đồng Minh Hội, VN Quốc Dân
Đảng xuất hiện đấu tranh công khai. Tôi là ủy viên trung ương, phụ trách
tờ Việt Nam để tuyên truyền chống CS. Mặt khác, tôi tổ chức Quốc gia
Thanh niên Đoàn. Tháng 6.1946, Việt Minh tăng cường áp lực. Sau khi cầm
cự lối nửa năm, đảng trưởng Vũ Hồng Khanh, tôi và Lê Khang, trong Bộ Chỉ
huy, phải rút lên Việt Trì, rồi Yên Báy và Lào Kay. Lực lượng Đệ tam
khu lúc đó gồm có lối một nghìn người: hai, ba trăm chí nguyện quân từ
Trung Hoa về, cọng với một số cựu lính khố xanh của Pháp, võ trang khá
thô sơ. Thành phần kể sau không có ý chí tranh đấu mạnh. Phiá ta không
có đài phát thanh, thiếu phương tiện quảng bá, chỉ có tờ báo Việt Nam.
Quân ta đóng chốt tại các tỉnh lỵ nên bị Việt Minh bao vây.
Việt Minh không đông nhưng ảnh hưởng mạnh quần chúng vi
họ có tổ chức, biết đọat thời cơ, tuyên truyền sâu rộng và lôi cuốn đồng
bào với các chiêu bài ăn khách như đả thực, chống đế quốc và áp bức.
Phiá quốc gia xích mích nội bộ, chủ quan, coi thường đảng CS và đặt hết
niềm tin vào sự hỗ trợ của quân đội Trung hoa nên thua là phải. Tháng
7.1946, khi hay tin Việt Minh nhóm đại hội tại Thái Nguyên và Nhật bản
sắp đầu hàng, cánh quốc gia đã không tổng hành động kịp thời, tiến tới
khởi nghĩa. Bị kẹt giữa Pháp và Việt Minh, các đảng quốc gia không chiếm
được địa bàn đủ rộng và không có đủ sức chống lại hai thế lực đó từ Nam
ra Bắc.
Một ngày cuối tháng 7.1946, toán anh em chúng tôi gồm có
8 người vượt qua cầu sắt Lào Kai - Hà khẩu để sang Trung hoa. Khi ấy
anh Tam đã có mặt tại Côn Minh. Như Nam Ninh và Quảng châu, Côn Minh là
nơi ẩn thân của nhiều nhà đấu tranh VN. Hội nghị đảng viên bầu một Hải
ngoại Bộ để tiến hành công tác ngoại vận và gây lại các cơ sở địa
phương. Thành phần lãnh đạo gồm có anh Nguyễn Tường Tam (chủ nhiệm),
Nguyễn Tường Long (ngoại vụ) và Xuân Tùng (kinh tài). Tâm trạng chung
lúc đó khá bối rối, phức tạp, có người tỏ ra thất vọng nhưng phần đông
thông cảm tình thế khó khăn.
LLT: Trung tuần tháng
10.1949, Quân đội Mao Trạch Đông "giải phóng" Trung Hoa lục địa, Tưởng
Giới Thạch rút qua Đài Loan. Lúc đó anh đã kết hôn với một sinh viên
người Việt gốc Hoa, có quốc tịch Pháp, tên Hứa Bảo Liên quen từ Hà Nội.
Anh chị được giấy lưu trú tại Phật Sơn. Một dư luận cho rằng chị Bách đã
thuyết phục anh ở lại Trung quốc. Đúng hay không? Lý do nào khiến anh
không trở về tranh đấu ở Việt Nam? Sống 40 năm dưới chế độ Tàu Đỏ có
phải là một sự phí phạm hay không?
NTB: Cô Hứa Bảo Liên là
một tình nguyện viên Hoa kiều Việt Nam làm việc tại Nhà thương Phủ Doãn
Hà Nội trong lúc tôi tập sự nơi đây cùng với Phạm Biểu Tâm, Trần Đình
Đệ... Cô cũng có hợp tác viết lách và phiên dịch trong các tờ báo do tôi
phụ trách, vì thế cô quen nhiều với gia đình Nguyễn Tường. Cô là một
phụ nữ có tinh thần phóng khoáng, tự lập và dấn thân. Lúc tôi vượt biên
sang Trung hoa năm 1945 thì cô đang học môn văn chương tại Đại học Côn
Minh, CS chưa chiếm lục địa. Chúng tôi thành hôn ở thành phố này vào
giữa năm 1947. Chuyện ở lại Trung hoa là quyết định cá nhân tôi, tôi
không chấp nhận về nước sống trong khu Pháp kiểm soát. Nhà tôi nhiệt
tình san sẻ kiếp lưu vong của chồng.
Tôi không nghĩ đã phí phạm cuộc đời ở Trung Hoa. Anh em
đồng chí chúng tôi rút kinh nghiệm để nghiên cứu tại chỗ một con đường
đấu tranh mới trong thế bí của các phái quốc gia. Tháng 3.1949, chúng
tôi thoát ly Quốc Dân Đảng và thành lập nhóm "Cách Mệnh Xã hội" với chủ
trương chống chuyên chính vô sản và tư bản bốc lột; thực hiện một chế độ
"xã hội chủ nghĩa" nhưng không độc tài theo lối Bắc Âu. Tờ báo Cách
Mệnh Xã hội ra được vài số rồi ngưng xuất bản.
Tháng 2.1950, tôi được nhận làm việc tại Đệ tam Y viện
tỉnh Quảng Đông. Trước dó, năm 1948, Liên được tuyển dạy văn hoá và toán
ở một trường tiểu học Phật Sơn, lương trả bằng gạo. Quy chế của chúng
tôi là ngoại kiều cư trú, phải đi học tập chính trị. Đời sống chật vật
vì đông con. Tôi đã chứng kiến tận mắt tất cả các trận bão táp của chế
độ Mao: cải cách ruộng đất, kế hoạch đấu tố tư sản, phong trào học sinh
lên núi xuống đồng, cuộc vận động "ba chống, năm chống", Đại hội 8 của
Trung cộng, Cách mạng văn hóa 1968, Đại Nhảy vọt về nông nghiệp, nạn đói
kinh khủng, sự phản đối khuynh hướng "hữu khuynh, xét lại" v..v..
Năm 1963, Lê Duẩn ngả hẳn về phiá Bắc kinh. Trung Cộng
tự phong là "hậu phương môi hở răng lạnh" với Bắc Việt. Dân Tàu lẫn Việt
đồng hát vang "Việt Nam, Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông!"
LLT: Nhất Linh nghĩ sao về
đường lối chính trị và họat động của anh tại Trung Quốc? Xin cho biết
chi tiết về cái chết của Nhất Linh và Hoàng Đạo. Quyết định tự vẫn của
ông Tam có hợp lý hay không?
NTB: Tháng 7.1947, tôi rời
Côn Minh đi Quảng châu để cùng với Nguyễn Hải Thần, hai anh Tam, Long
và một số nhân vật đến từ VN như Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Bảo Toàn, Lưu
Đức Trung.. v..v... hội nghị với cựu hoàng Bảo Đại tại Hồng kông về
những điều kiện thương thuyết của Cao ủy Pháp Bollaert. Phiên họp không
đi đến đâu vì một số - trong đó có chúng tôi - cho rằng thoả hiệp với
Pháp là mất chính nghĩa.
Giữa 1948, Trung ương Quốc Dân Đảng VN cử Vũ Hồng Khanh
và tôi đi Nam kinh cầu viện với Chính phủ Tưởng Giới Thạch. Chúng tôi
tiếp xúc với một số nhân vật Quốc Dân Đảng và Liên Minh Á châu chống
Cộng, đặc biệt với Phó Tổng thống Lý Tôn Nhân. Chuyến đi này không đem
lại kết quả vì, trước sự tấn công ồ ạt của CS, một số cơ quan chính phủ
đã bí mật dọn đi Đài Loan.
Anh Tam chủ trương không thể cộng tác với Pháp dù là tạm
thời và cũng không thể liên hiệp với CS dù là kháng chiến. Về ý kiến
của chúng tôi đi tìm một sinh lộ mới cho Đất Nước, anh không tán thành
hay phản đối. Xưa nay, anh không có thói quen áp đặt quan niệm của mình,
có thể vì thế mà anh không tổ chức được hàng ngũ đấu tranh cò kỷ luật
chặt chẽ. Vả chăng, lúc ấy, anh Tam đã yếu, suy nhược thần kinh, đau dạ
dày nên cần tịnh dưỡng một thời gian.
Tháng 8.1948, Hoàng Đạo qua đời đột ngột, lúc 42 tuồi,
vì bệnh tim trên chuyến xe lửa đi từ Hồng kông về Quảng châu sau khi gặp
vợ ở VN đưa con qua thăm. Được thông báo tin dữ, anh Tam, tôi và năm
đồng chí đến ga Thạch Long để nhận xác và tống táng với tất cã lòng đau
xót và thương tiếc.
Tháng 7.1963, chúng tôi đột nhiên nhận được điện tín của
một người bạn tên Vũ Đức Văn gởi từ Thượng Hải cho biết Nhất Linh đã tự
vẫn ngày 6 tháng 7 tại Sàigòn để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm. Anh Tam
đã trở về Việt Nam để viết sách và làm báo. Anh bị điều tra trong vụ
đảo chính hụt Chính phủ nhưng không có bằng chứng. Sức khoẻ của anh
không tốt, bệnh đau dạ dày hành hạ. Trong lúc khủng hoảng tinh thần, anh
đã lấy một quyết định đáng tiếc. Trong thâm tâm, tôi không mấy tán
thành. Anh Tam qua đời lúc 59 tuổi. Anh còn có nhiều khả năng giúp đỡ
Quê hương. Rất uổng! Đám táng của anh khá trọng thể, quần chúng tham gia
đông đảo. Cái chết của Nhất Linh, dù sao, làm giảm uy tín chế độ đương
quyền giữa lúc vấn đề Phật giáo sôi sục.
LLT: Tháng 10.1977, anh có
về Việt Nam sau nhiều thập niên lưu vong. Vì lý do gì? Tiếp xúc với ai?
Anh nhận xét ra sao về Đất nước thời ấy?
NTB: Đúng vậy, tôi và đứa
con trai có về VN hai tháng, đi bằng xe lửa, từ Bắc Kinh đến Hà Nội, qua
ngả Mạc Tư Khoa. Lý do giản dị là nhớ nhà, thăm mồ mả gia tiên và muốn
biết thực trạng Quê hương. Tôi viếng nhiều chỗ: Lạng Sơn, Bắc Giang, Nam
Định..vv... Tại Hà Nội, tôi bùi ngùi thấy không còn bao nhiêu dấu vết
cũ của ngôi nhà từng được dùng làm toà soạn báo Phong Hoá, Ngày Nam và
Việt Nam. Quê hương nghèo đói, tụt hậu và rách nát thảm thê! Buổi giã từ
họ hàng và thân hữu để trở về Phật Sơn thật vô cùng cảm động, tôi nhớ
mãi. Tôi không có tiếp xúc với ai cả ngoài bạn bè và thân quyến.
LLT: Bây giờ hãy nói đến
giai đọan ba trong cuộc đời sôi nổi của anh chị: giai đọan định cư tại
Mỹ. Vì sao lại chọn Hoa kỳ? Anh đã có những hoạt động văn hoá vá chính
trị nào từ ngày đặt chân trên xứ này?
NTB: Tháng 3.1988, sau 40
năm sinh sống tại Trung Quốc, vợ chồng chúng tôi quyết định di cư qua Mỹ
để đoàn tụ với hai con Hứa Anh và Hứa Chân. Lưu vong đâu nữa cũng là
lưu vong. Tuổi tôi đã quá 72. Thủ tục giấy tờ phiền toái nhưng cuối cùng
cũng vượt qua. Máy bay đáp xuống phi trường Los Angeles. Chúng tôi xúc
động trùng phùng với người thân và đặt chân trên đất của Nữ thần Tự do.
Nơi đây tôi sẽ sáng tác theo ý muốn vì đối với tôi, từ xưa nay bác sĩ là
chức nghiệp, cách mạng là sự nghiệp, văn nghệ mới là ước nguyện chính.
Thời gian đầu để dành đi thăm bà con và bạn bè tản lạc ở nhiều tiểu
bang. Đăc biệt, tôi còn một người chị ruột là Nguyễn Thị Thế ở Virginia,
gần 80 tuổi, chưa gặp quá 40 năm.
Sớm du nhập vào nếp sống Hoa kỳ, cập nhật hoá tin tức và
nghiên cứu tài liệu là những nhu cầu khẩn thiết đối với tôi. Quốc tịch
Hoa kỳ giúp làm thủ tục xin cho các con khác ở Trung Quốc sang định cư
nếu chúng muốn.
Tôi bắt đầu viết lách lại và xuất bản được trong các năm
1995, 1999 và 2000 ba sáng tác kể ở phiá trên: một quyển tiểu thuyết và
hai hồi ký. Ngoài ra, tôi hợp tác với nhiều báo Việt ngữ dưới bút hiệu
Viễn Sơn. Tôi cũng tiếp xúc với nhiều hội đoàn và tổ chức người Việt.
Ngày 12 và 13 tháng chạp 1988, một Đại hội đảng phái quốc gia nhóm sơ bộ
tại Santa Ana, Californie, chỉ định tôi trình bày mục tiêu. Một Văn
phòng phối hợp ra đời để nghiên cứu và thảo kế hoạch. Ngày 16.9.1989,
một Đại hội chính thức được triệu tâp, tôi đọc diễn từ khai mạc, Nguyễn
Long Thành Nam thuyết trình về mô thức kết hợp, Trần Đức Thanh Phong về
lập trường chính trị và nội quy, Phạm Đình Đệ về kế hoạch công tác. Ngày
hôm sau, Đại hội biểu quyết lấy danh xưng là "Uỷ ban Điều hợp các tổ
chức đấu tranh cho VN tự do". Văn phòng điều hợp Trung ương được thiết
lập và một Thông cáo chung được thông qua. Ngày 25.5.1991, cũng tại
Santa Ana, Mặt trận Dân tộc Dân chủ Việt Nam, gồm có 8 đảng và một số
nhân sĩ, ra mắt quần chúng. Cơ quan ngôn luận của Mặt trận là tờ Tiếng
Dân. Tiếc thay, về sau, một tổ chức trong Mặt trận vi phạm cương lĩnh
bằng cách chủ trương thoả hiệp với cộng sản, đối thoại vô nguyên tắc,
đầu cơ. Để tránh những xung đột vô ý nghiã giữa các thành viên, Mặt trận
đã ngưng họat động vào năm 1995. Một lần nữa, giấc mơ kết hợp gây thất
vọng.
LLT: Thành phần tham gia
Đại hội gồm có đảng phái, chính khách nào? Tổ chức nào đã cổ động hòa
giải hoà hợp với CS. Sau hết, một cách vắn tắt, anh nghĩ sao về tương
lai của Việt Nam?
NTB: Theo thứ tự trong
biên bản, các tổ chức tham dự là VN Quốc Dân Đảng, Mặt trận VN Tự do, VN
Dân chủ Xã hội Đảng, Liên Minh Dân chủ VN, Lực lượng VN Tự do, Liên
Minh Toàn Dân VN Quốc gia, Tổ chức Phục Hưng, Cơ sở Dân quyền Canada, Tổ
chức Phục Việt Âu châu... Đại diện đảng và nhân sĩ gồm có Hà Thúc Ký,
Nguyễn Ngọc Huy, Bùi Diễm, Lê Duy Việt, Lê Phước Sang, Trần Minh Công,
Trần Văn Sơn, Nguyễn Văn Trần, Nguyễn Long Thành Nam, Hà Thế Ruyệt, Hoa
Thế Nhân, Trần Huỳnh Châu, Phạm Ngọc Lũy, Lưu Trung Khảo, Trần Đức Thanh
Phong, Nguyễn Văn Tại..v..v..
Sau khi Gs Nguyễn Ngọc Huy qua đời, Liên Minh Dân chủ VN
vỡ làm đôi. Cánh Stephen Young tiếp xúc với Hà Nội để tìm giải pháp
thoả hiệp. Tôi tin tưởng CS không tồn tại lâu ở VN vì chủ nghĩa Mác Lê
đầy mâu thuẫn, tự diệt và xa dần quần chúng. Đấu tranh cho Nhân quyền có
thể dấy động đại chúng và thúc đẩy áp lực của quốc tế đối với Hà Nội.
Bởi thế từ 1996, tôi nhiệt liệt cổ động việc thành lập "Mạng Lưới Nhân
Quyền VN". Tổ chức này được hợp thức hóa trong Đại hội thế giới triệu
tập vào tháng 10.1997 tại Californie và đang hoạt động hữu hiệu
Kết luận
Sự hấp tấp quyên sinh của Nhất Linh và bốn thập niên cố
tình ẩn tích của Bs Bách tại một nước CS láng giềng là những điểm nêu
câu hỏi trong giới người Việt từng dành nhiều cảm tình cho gia tộc
Nguyễn Tường. Gia tộc này đã hiến cho Đất nước những người con ưu tú
trong lãnh vực chính trị lẫn văn hóa.
Hồi tưởng quá khứ, Bs Bách đã bộc trực thú nhận như sau
trong quyển ký ức 2 "VN, Một thế kỷ qua, 54 năm lưu vong", trang 417:
"... Dù sao việc ở lại Trung Quốc trong bốn mươi năm cũng không khỏi gây
ra thắc mắc, hiểu lầm, thậm chí công kích từ một số người Việt quốc
gia, trong đó có cả thân hữu. Tôi nghĩ việc này cũng là tự nhiên thôi.
Mỗi người trong biến cố phức tạp của cuộc đời, có thể có những sai lầm
nghiêm trọng." Nơi trang 251 của tập Hồi ký 1 "VN Một Thế Kỷ qua", anh
Bách cũng không ngại nhắc đến câu Nhất thất túc thành thiên cổ hận, Lỡ
một bước đành hận ngàn thu.
Thất bại tuy nhiên có thể là mẹ của thành công nếu biết
rút những bài học thích đáng để sửa sai kịp thời. Chỉ có những kẻ khiếp
nhược sợ hành động mới không bao giờ sai lầm. Bs Bách đã chọn dấn thân
không sờn lòng, không mệt mỏi. Trong một trang khác của Hồi ký nêu trên,
anh viết - như một lời nhắn nhủ: "Đời là một cuộc đấu tranh. Thua keo
này, bày keo khác, đó là quy luật của cách mạng. Bỏ cuộc tức là chịu
thua." (trang 471).
Nguyễn Tường Bách đáng là tấm gương cho thế hệ trẻ trong công cuộc đi tìm con đường sáng để phục vụ lý tưởng và dân tộc.
TƯ LIỆU: 1- "Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn", của Nguyễn Tường Bách, nxb Tân Văn 1995, Californie
2- "VN Một thế kỷ qua. Hồi ký I (1916-1946)" của Nguyễn Tường Bách, nxb Thạch Ngữ, Californie 1999
3- "VN Một thế kỷ qua, Hồi ký II. 54 năm lưu vong, Trung quốc (1946-1988) - Hoa kỳ (1988-2000)", nxb Thach Ngữ 2000.
4- "Nguyễn Tường Bách và Tôi" của Hứa Bảo Liên, tác giả tự xuất bản, Westminster 2005.
5- "Hồi ký về Gia đình Nguyễn Tường" của Nguyễn Thị Thế, nxb Văn Hoá Ngày Nay, 1996.
2- "VN Một thế kỷ qua. Hồi ký I (1916-1946)" của Nguyễn Tường Bách, nxb Thạch Ngữ, Californie 1999
3- "VN Một thế kỷ qua, Hồi ký II. 54 năm lưu vong, Trung quốc (1946-1988) - Hoa kỳ (1988-2000)", nxb Thach Ngữ 2000.
4- "Nguyễn Tường Bách và Tôi" của Hứa Bảo Liên, tác giả tự xuất bản, Westminster 2005.
5- "Hồi ký về Gia đình Nguyễn Tường" của Nguyễn Thị Thế, nxb Văn Hoá Ngày Nay, 1996.
LÂM LỄ TRINH
Thủy Hoa Trang
Ngày 6.6.2006
Thủy Hoa Trang
Ngày 6.6.2006
No comments:
Post a Comment