Saturday, December 29, 2012

SON TRUNG * TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ PHẠM THIỀU



Phạm Thiều

Thân thế

Giáo sư Phạm Thiều sinh ngày 4 tháng 4 năm 1904, quê ở xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Thân phụ của ông là cụ Phạm Thâm, đậu Cử nhân năm 1909, từng là Huấn đạo ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Từ nhỏ, ông theo học chữ Hán và được thân phụ kèm cặp. Năm 1918, ông tham gia kỳ thi Hương cuối cùng tại Huế nhưng không đậu vì bị coi là phạm trường quy. Trở về quê, ông theo học trường College Vinh, sau đó đậu Primaire và vào học Quốc học Huế. Tốt nghiệp Tú tài, ông thi đậu vào trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, Hà Nội, ngành Văn học.[1]

Sự nghiệp trước khởi nghĩa

Trong những năm học ở Hà Nội, ông đã kết bạn và cộng tác với nhiều bạn hữu tại Đông Dương học xá, mở rộng quan hệ với những người có cùng chí hướng yêu nước hoạt động chính trị, lập hội kín Hương Nam, truyền bá Quốc ngữ trong giới học sinh, sinh viên.
Năm 1927, sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, ông được chính quyền thuộc địa phân công vào Nam dạy các trường ở Cai Lậy, Hà Tiên, Gò Công, Rạch Giá, Gia Định. Ở đây, ông tiếp tục truyền bá Quốc ngữ và đào tạo thanh niên nêu cao tinh thần yêu nước.
Năm 1938, ông được mời về trường Petrus Ký Sài Gòn, dạy các môn Hán văn, Pháp văn và Văn chương Việt Nam. Năng lực chuyên môn và đức độ của ông gây được nhiều cảm tình với giới trí thức Nam Bộ.[2].
Trong thời gian giảng dạy tại trường, ông vừa dạy học vừa hoạt động xã hội, viết văn, viết báo cho tổ chức cách mạng. Xu hướng chính trị của ông thiên dần về hướng Việt Minh.

Tích cực tham gia cách mạng kháng chiến

Đầu tháng 8 năm 1945, ông được Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát cử làm chủ bút của báo Thanh niên Tiền phong, cơ quan ngôn luận chính của Tổng hội Thanh niên Tiền phong. Để tăng ảnh hưởng chính trị cho mặt trận Việt Minh, ông được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch giao nhiệm vụ đi diễn thuyết, tuyên truyền 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh ở Bà Chiểu, Phú Nhuận, Thủ Thừa. Với uy tín và tài hùng biện của mình, ông đã có tác động rất lớn trong việc vận động quần chúng tham gia Việt Minh, tiến tới làm cuộc cách mạng thành công ở Sài Gòn, Chợ Lớn và toàn Nam Bộ.
Khi Pháp tái chiếm Sài Gòn, ông theo bộ đội về miền Đông Nam Bộ và được phân công nhiều chức vụ quan trọng như Trưởng phòng Chính trị Bộ Tư lệnh Khu 7[3], Giám đốc Trường quân chính Biên Hòa, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, Giám đốc Sở Thông tin - Tuyên truyền Nam Bộ, Trưởng phòng Hoa kiều vụ Nam Bộ, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn, Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Phân liên khu miền Đông rồi Giám đốc Nha giáo dục phổ thông Nam Bộ. Trong thời gian kháng chiến, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Trở thành nhà ngoại giao

Tháng 8 năm 1954, ông tập kết ra Bắc, được cử làm Trưởng phòng thông tin - báo chí Bộ Ngoại giao, Phó giám đốc Nha giáo dục rồi Vụ trưởng Vụ Sư phạm Bộ Giáo dục.
Năm 1956, ông được cử làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Tiệp Khắc. Năm 1961, ông được phân công kiêm nhiệm chức vụ Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Hunggari[4].
Ngày 10 tháng 8 năm 1964, ông trở về nước sau khi hết nhiệm kỳ đại sứ.

Vị giáo sư không mang học hàm Giáo sư

Sau khi về nước, ông không tiếp tục làm việc trong ngành ngoại giao mà trở thành Chuyên viên nghiên cứu Viện Văn học, giảng dạy trong các khóa Đại học Hán học. Từ năm 1970-1975, ông được cử làm Trưởng Ban Hán Nôm (tiền thân của Viện nghiên cứu Hán Nôm) thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam.
Sau năm 1975, ông lại vào thành phố Hồ Chí Minh, làm Giám đốc Thư viện khoa học - Viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1976, trong kỳ học quốc hội thống nhất, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa VI nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Ủy viên Chủ tịch đoàn Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Những năm cuối đời, ông tham gia chủ trì nhiều chương trình nghiên cứu khoa học xã hội, và dự định cùng Ca Văn Thỉnh thực hiện công trình nghiên cứu về Nam Bộ và văn hoá Nam Bộ trước thời thuộc Pháp, tuy nhiên khi hai ông mất, dự định vẫn chưa làm được[1].
Ông có nhiều luận văn, bài báo nghiên cứu về Văn học, Hán Nôm, đăng trên tạp chí Văn học và một số tạp chí khác. Hai đề tài lớn ông quan tâm là thi hào Nguyễn Trãi và chủ nghĩa anh hùng trong văn học cách mạng miền Nam. Ngoài ra, ông còn góp phần đào tạo nhiều nhà nghiên cứu Hán Nôm học ở Việt Nam[5].
Ông mất vào ngày 1 tháng 12 năm 1986, thọ 82 tuổi[6].
Ông đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhất. Hiện nay, tên ông đã được đặt cho các con đường ở quận 7 thành phố Hồ Chí Minh, và tại quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng.

Tác phẩm

Sách
  1. Thư tịch cổ và nhiệm vụ mới (nhiều tác giả), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979;
  2. Thơ đi sứ (chủ biên), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983.
Tạp chí
  1. Vài suy nghĩ thêm về thơ văn Nguyễn Trãi. Tạp chí Văn học, số 2 -1969;
  2. Ba nhân vật, một tâm hồn. Tạp chí Văn học, số 5-1976;
  3. Nguyễn Thông, con người ưu tú của đất Gia Định. Tạp chí Văn học, số 2 - 1985.
Và nhiều bài trên các tạp chí và báo khác[7].

 

 Nhớ bác Phạm Thiều


Miễn Trai(1) gắng gìn giữ sự trong sạch, bút hiệu ấy tôi thấy thật ít ai thích hợp hơn Giáo sư Phạm Thiều, người tôi không có vinh dự trực tiếp là trò, nhưng vẫn có may mắn được gần gụi và sinh hoạt với ông trong cùng cơ quan Viện Văn học từ 1965, là năm khai giảng lớp Đại học Hán học, đến 1970, là năm ông được điều động sang xây dựng Ban Hán Nôm vừa mới thành lập, tiền thân của Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay. 

Trước khi được cùng sinh hoạt với ông, tôi đã có “biết” ít nhiều về ông qua thái độ trân trọng của Giáo sư Viện trưởng Đặng Thai Mai - người đồng hương xứ Nghệ và có thời cùng là đồng môn với ông ở trường Quốc học Vinh và trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, ít tuổi hơn Đặng Thai Mai, nhưng Phạm Thiều lại nổi tiếng là học giỏi, luôn luôn đứng vị trí đầu lớp.

 Câu chuyện đó sau này Đặng Thai Mai đã có dịp viết trong hồi ký của mình: “Anh Phạm Thiều” bé như cái đinh mén”, nhưng nói đến chuyện học thì không chê vào đâu được: ngày học, đêm học, nắng hè như thiêu đốt, trời đông giá lạnh vẫn học 11, 12 giời đêm. 

Ngày hè, tháng nghỉ, anh vẫn mê mết với sách vở, với những bài toán của chương trình những năm sắp tới. Đối với anh hình như trong danh bạ của lớp học chỉ có một chỗ ngồi xứng đáng là địa vị đầu lớp”(2).
Có thể nói ở Phạm Thiều là sự chung đúc bản chất, tính cách của một lớp học trò xứ Nghệ, vốn là cả một danh sách dài, có không ít người nổi tiếng những năm 20 và 30, để sau 1945 trở thành đội ngũ cán bộ văn hoá, khoa học cốt cán và đầu đàn của nền Dân chủ Cộng hoà.

 Một điều cũng đáng chú ý là lớp trí thức yêu nước xứ Nghệ ra đi từ nguồn Quốc học Vinh ấy gồm những Hoàng Ngọc Phách, Cao Xuân Huy, Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Phạm Thiều, Nguyễn Xiển, Hoàng Xuân Hãn… tiếp đến là Hoài Thanh, Nguyễn Khắc Viện… số lớn đều hành hương ra Bắc, còn Phạm Thiều lại thuộc số ít vào Nam.
Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Phạm Thiều đã được giao chức trách Giám đốc Sở Thông tin Nam Bộ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Gia Định-Chợ Lớn, rồi Giám đốc Nha giáo dục phổ thông Nam Bộ.

 Không kể trước đó ông đã là bậc thầy nổi tiếng về hai môn Hán văn và Việt văn của trường Trung học Trương Vĩnh Ký. Trên cương vị một trí thức tên tuổi cùng lứa với Đặng Thai Mai, Ca Văn Thỉnh… tuổi 40 của Phạm Thiều đã dành cho Nam Bộ nói chung, Sài Gòn-Gia Định nói riêng. 


Để rồi-chẵn 30 năm sau, sau hai cuộc trường chinh của dân tộc đi đến đại thắng mùa xuân 1975, ông lại cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn tiếp quản những công việc mới mà ông đã có kinh nghiệm trong nhiều năm ở Hà Nội.

 Ở tuổi 70, sau khi rời Ban Hán Nôm của Viện Khoa học xã hội, chuyển vào Sài Gòn, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu Hán Nôm, và phụ trách Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội. 

Trong hơn mười năm cuối đời, sống và công tác ở Thành phố Hồ Chí Minh, ông đã tham gia chủ trì nhiều chương trình nghiên cứu khoa học xã hội, nhiều hội thảo lớn về danh nhân văn hoá như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông…

 Ông lại đang có dự định cùng học giả Ca Văn Thỉnh làm một công trình nghiên cứu về Nam Bộ và Văn hoá Nam Bộ trước khi Pháp sang-rất có thể đó sẽ là công trình có đóng góp cho đề tài 300 năm Sài Gòn. Đáng tiếc là công trình này cả hai ông đều chưa thực hiện được.

Kỷ niệm còn lưu giữ khá sâu về Giáo sư Phạm Thiều đối với chúng tôi là thuộc mấy năm ông về Viện Văn học, sau khi thôi công tác Đại sứ một số nước Đông Âu, để làm thấy lớp Đại học Hán học. 

Gọi ông là Giáo sư là hoàn toàn đúng, dẫu ông chưa hề nhận học hàm Giáo sư. Bởi ông là một trí thức có kiến văn kỹ lưỡng về văn hoá Phương Đông và nền văn hoá cổ dân tộc. 

Là người có phương pháp sư phạm để truyền thụ một cách rất hấp dẫn các kiến thức khó, theo đúng nghĩa một ông thầy. 

Còn hơn thế nữa, đối với lớp thanh niên chúng tôi, thầy Thiều hay bác Thiều, hay Cố Tư, hay Phạm mỗ đều là hiện thân gần như trọn vẹn sự toàn tâm toàn ý với các công việc được giao mà không có chút bận tâm gì về quyền lợi, về đãi ngộ. 

Là người có thẻ gom đủ, hơn thế, là kết tinh cao các phẩm chất: cần cù, giản dị, tận tụy, nghiêm túc, liêm khiết, trong sạch, nhân hậu… 


Khó có thể chê, hoặc bàn tán gì về ông trong tất cả mọi hành vi, ứng xử của đời công và đời tư. Nét sống nổi bật của ông theo như tôi nhớ, là tuyệt đối không làm phiền ai.


 Tuyệt đối không vì uy tín và tuổi tác mà nhờ cậy, hoặc sai khiến ai. Việc chợ búa nơi sơ tán ông tự lo. Hàng căng tin của cơ quan ông nhường hết cho lớp cán bộ nghèo. Ăn cơm tập thể ông cũng sắp hàng như mọi người. Lên xe về Hà Nội ông nhường chỗ tốt cho phụ nữ và trẻ con… 

Tóm lại, đó là tấm gương của sự nhường nhịn, hy sinh, đôi khi đến như khắc khổ và có phần cố chấp, khiến ai không thật hiểu ông đều có thể ít nhiều tự ái hoặc chạnh lòng. 

Có thể nói, Phạm Thiều-như chính bút danh Miễn Trai của ông, là một cán bộ, một đảng viên, một nhà giáo, một người nghiên cứu cực kỳ gương mẫu - tôi có thể cam đoan thế. 

Cũng chính từ sự gương mẫu đó mà có giai thoại về chuyện Cố Tư tu dưỡng bản thân theo lối vận dụng hai lọ đỗ đen trắng của Trình tự-một môn sinh họ Khổng thời Trung Hoa cổ đại.


 Người thầy dạy Hán Nôm cổ ấy lại cũng là người gắn bó rất tha thiết với thời sự chính trị và văn chương. Dường như mọi kỷ niệm trong những tháng năm hoạt động ở Nam Bộ vẫn in đậm và sống động trong tâm trí ông, trong niềm thương nỗi nhớ của ông. 

Đó là lý do để nhà nghiên cứu Miễn Trai-chuyên gia về Hàn, Liễu, Âu, Tô; về Ức Trai và Nguyễn Đình Chiểu vẫn viết, và viết hay những tiểu luận và phê bình nhằm cổ vũ cho cuộc chiến đầu ở Miền Nam, cho Văn học Giải phóng Miền Nam, như bài viết về hồi ký Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận, về Mỹ thì Mỹ cóc cần!

 Khẳng định sức sống của cuộc chiến tranh nhân dân ở Miền Nam.
Chức trách Trưởng ban Hán Nôm, Viện Khoa học xã hội giao cho ông quả ai không xứng đáng hơn. Nhiều dự định lớn ông đang ấp ủ: đào tạo một thế hệ trẻ tinh thông Hán Nôm, làm sách Thư mục Hán Nôm và thơ bang giao đi sứ… Thế nhưng ông đã vui vẻ nhận lãnh nhiệm vụ mới sau bốn năm công tác để vào Thành phố Hồ Chí Minh ở tuổi 70. 

Những gì ông làm cho việc tiếp quản và xây dựng cơ sở học thuật mới này cần được ghi nhận trong Tiểu sử hơn 20 năm của Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh. 

Những năm này chúng tôi quá bận rộn trong nhiều công việc mới; mặt khác, đời sống thời bao cấp ở đỉnh cao lại quá lắm khó khăn, nên sau cuộc chia tay với ông bà ở căn gác nhỏ phố Hàn Thuyên, tôi ít có dịp được gặp ông.

 Mấy cuộc đi công tác phía Nam vào đầu 80, không hiểu sao tôi lại không ghé thăm ông bà- đó là điều mà cho mãi đến hôm nay tôi vẫn không sao nguôi khuây ân hận.

 Cho đến khi đột ngột nghe tin ông mất- cuối năm 1986 - một cuộc ra đi không bình thường, mà lý do không mấy ai muốn dò hỏi, tôi cùng mấy bạn bè thân thiết bỗng quá sững sở. Và cố nhiên là buồn, buồn hơn bất cứ mọi cuộc ra đi nào khác.

Người trí thức, nhà học giả có trên nửa thế kỷ hoạt động cho sự nghiệp văn hoá, khoa học, giáo dục cách mạng là Phạm Thiều rất đáng được chúng ta nhớ đến và biết ơn vào dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 

Suy nghĩ và mong mỏi đó ở tôi bỗng có thêm sự hỗ trợ khi được đọc trên Thế giới mới, số 278, ngày 23-3-1998 bài Vài kỷ niệm khó quên với thầy yêu kính của tôi: cố Giáo sư Phạm Thiều của Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê.

 Bài viết kể lại một kỷ niệm nhỏ mà in dấu rất sâu trong cuộc đời nghề nghiệp của tác giả, sau hơn 40 năm gặp lại thầy Thiều ở Hội thảo khoa học về Nguyễn Trãi tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 1980. 

Ấy là một cuộc gặp gỡ cảm động giữa trò với thầy, cả hai đều thấm nhuần đạo lý “nhất tự vi sư-bán tự vi sư”. Với Phạm Thiều, ông đồ Nho và đồ Tấy xứ Nghệ, chuyên gia hàng đầu về Hán Nôm, người cán bộ cách mạng gương mẫu- dường như lúc nào ông cũng giản dị và nhũn nhặn thế, đúng như trong ký ức của Giáo sư Trần Văn Khê.
CHÚ THÍCH
(1) Bút danh của Phạm Thiều (1904-1986).
(2) Hồi ký, Nxb. Tác phẩm mới, H.1985; tr.265.
Trich VĂN HÓA NGHỆ AN
 
 
TƯỎNG NHỚ PHẠM THIỀU TIÊN SINH


Khoảng 1980, tôi thất nghip, tháng ngày đạp xe đạp đi lang thang phường phố. Lúc đó vào tháng chạp, Noel đã qua, phố phường rộn rã đón Tết. Tôi đi qua viện Khoa Học xã hội Miền Nam, thấy trong viện vắng vẻ, trong phòng giám đốc có một cán bộ ngồi.

Đạp xe vào sân, thấy trên bàn giám đốc có bảng tên Phạm Thiều. Xưa nay, ở Saigon, người ta nhắc nhđến Phạm Thiều, coi như một ngôi sao sáng của cộng sản miền Nam. Nhìn khuôn mặt ông, dáng khắc khổ, tôi nghĩ ông là người Quảng Nam, Quảng Ngãi nhưng sau này< xem tiểu sông mới biết ông là người Nghệ An, đồng hương với bác.

Thấy ông, nghe danh ông, tôi cứ tưởng ông là vô sản chính tông như bao lãnh đạo đảng. Nhưng xem tiểu sử, mới biết ông cũng là một trí thức.  



Ông đỗ trường Cao đẳng Sư Phạm Hà Nội. Trong Nam, tôi biết GS Nghiêm Toản, và GS Ngô Đốc Khánh cũng xuất thân trường Cao Đảng Sư Phạm. Lúc bấy giđỗ Cao đng là danh giá lắm, là đối tượng của nhiều tiểu thơ khuê các, vì tục ngữ thời đó có câu: " Phi cao đẳng bất thành phu ph".Ông là giáo sư trường Petrus Ký, ôi thật là quý hiếm trong hàng ngũ vô sản mà lại có ông là một trí thức.

 

 Phạm Thiều

  


 
Tôi khóa xe và bước vào thăm ông. Ông vui vẻ tiếp tôi. Tôi không còn nhớ tôi và ông trao đổi chuyện gì nhưng tôi còn nhông bảo tôi: "Bác Hồ quý trọng hiền tài. Lênin nói con người là vốn quý. Nhưng tình trạng nước ta, ăn cháo ăn rau mà chưa đủ thì đâu cần đầu bếp Paris hay New York."

Ông nói như thế là ông hé l cho biết Cộng sản không xài trí thức, không có chỗ cho trí thức. Thật vậy, chiếm min Nam thì họ đuổi dân đi kinh tế mới, đưa hàng triệu dân Bắc vào Nam chiếm nhà cửa, đất đai, hãng xưởng. Dân Nam phải đói, phải thất nghiệp. Chỉ những tên nịnh hót mới có cơm thừa canh cặn.

 Tôi chào ông ra về và trong lòng tôi khen ông là người ngay thẳng, khác với những tên cộng sản miệng chính ủy, huyênh hoang tuyên truyền nói tốt cho chế độ.Sau này ra ngoại quốc, tôi cứ nghĩ rằng danh giá như Phạm Thiều tất cũng nhà cao cửa rộng như Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng.

 Nay xem Wikipedia giới thiệu ông tôi cảm thấy cái gì nghẹn ngào. Ông  không được đảng dùng trong chính trường, ông chđược cho vào Viện Khoa Học Xã Hội như cho đồ cũ vào nhà kho đồng loại với Đào Duy Anh, Trương Tửu,  Trần Văn Giàu, Trần Đức Thảo, nhưng ông còn tê hơn vì không được lên bục giảng và được ban danh hiệu giáo sư.

Ông sao mà công danh lận đận như Đặng Thai Mai, như Trần Huy Liệu. Có lẽ vì lưng ông thẳng, ông thiếu chất nịnh, ông mang chất cứng cõi, chính trực  của dân Nghệ an, khác với ông Hồ Ly lưu manh đệ nhấtBất chợt đọc Trần Độ có đoạn viết về Phạm Thiều  như sau: Tôi được nghe một lão thành thuật lại Giáo sư Phạm Thiều trước khi tự vận có trối trăn lại một câu cho đời là: "những kẻ dốt hay làm dại, vì thế nên họ phải dối ". Ba "D" ấy đi liền với nhau: Dốt - Dại - Dối. TRẦN ĐỘ * MỘT CÁI NHÍN TRỞ LẠI

 Ông đã già,  gần 90, địa vị không cao, không thấp, có việc gì đau khổ mà phải quyên sinh? Chúng tôi là kẻ bại trận, phải ngậm đắng nuốt cay,  GS ông là kẻ chiến thắng, là bậc cố cựu lương thần, đệ nhất huân công sao lại khổ như thế? Chúng tôi thật sự không hiểu!
Tôi có bài thơ ai điếu ông.


TƯỞNG NIỆM GS. PHẠM THIỀU 
Ngậm ngùi tưởng nhớ đến tiên sinh
Theo đảng từ ngày khởi chiến chinh.
Ra Bắc thanh danh rất rực rỡ,
Về Nam sự nghiệp cũng linh đình. 
Khi ngàn đồng chí  say mê lạc,
Sao một tôn ông  hủy hoại mình?
Có phải giận quân "dốt, dại, dối",

Giáo sư đoạn tuyệt đảng quang vinh? 
Canada tháng 12, 2012, ngày giỗ Phạm Tiên sinh.  
 

No comments: