Saturday, December 1, 2012

NGUYỄN THIÊN THỤ * VIỆT NAM NIỀM THƯƠNG NỖI NHỚ

 

VIỆT NAM NIỀM THƯƠNG NỖI NHỚ
NGUYỄN SONG ANH
VÕ PHƯỚC HIẾU

HƯƠNG CAU-PARIS-2011
332 trang,
Song Anh 7 bài , Võ Phước Hiếu 3 bài


Nội dung gồm bảy bài viết của Song Anh và ba bài viết của Võ Phước Hiếu. Phần lớn là biên khảo.
Bảy bài đầu của Song Anh là bảy bài biên khảo về lịch sử Miền Nam và tư tưởng của các bậc tiền nhân Lý Trần, Nguyễn. Bảy bài này cũng nói lên cảm nghĩ của tác giả đối với nưóc Việt Nam gồm  Biên Hòa, Bình Dương, Hà Nội.
Ba bài của Võ Phước Hiếu là những bài:
+Tập Tành Chữ Nghĩa
+Khuê Phụ Thán, Một Thể Loại Liên Hòan đặc thù Miền Nam
 +Chút Tình Tưởng Nhớ anh Võ Thu Tịnh

Bài mở đầu của Song Anh, "Vào xuân lá rụng" là một hồi ký về thuở đi dạy học ở "một tỉnh lỵ vừa mới được thành lập giữa chiến khu D miền Đông đất đỏ", bốn bề là rừng núi cao su bạt ngàn" (14)
Song Anh đã sống ở nơi đó, đã qua Phước Thành, Phú Giáo, Tân Uyên, Hớn Quản, Lộc Ninh, Bình Long, Dầu Tiếng, Lai Hưng, Lai Khê... và Dĩ An (18).

Sống trong rừng cao su, tác giả đã cảm thông cho nỗi khổ của dân nghèo, nỗi khổ của những người thợ cao mủ cao su, và gia đình họ, cụ thể là đám học trò của ông, con của những công nhân cao su miền Đất Đỏ: "Từ rừng núi bạt ngàn cao su với bao nỗi đắng cay, nghèo khổ, tôi đã sống những năm tháng vui buồn nơi mảnh đất khô cằn cùng đồng bằng và lam lũ" (19).

Bài viết thứ hai trong tập là "Bước đầu tìm hiểu cuộc đất", Song Anh viết về lịch sử miền Đất Đỏ như Dĩ An, Châu Thới, và công trình khai phá của chúa Nguyễn. Ông cũng ghi lại cuộc chiến giữa chúa Nguyễn và Tây Sơn... Những bài tiếp theo, Song Anh viết về thi ca Lý Trần, về Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Tản Đà.. .

Bài "Thiết thực kỷ niệm nghìn năm Thăng Long" của Song Anh rất đặc sắc. Ông phê phán cái phô trương dối trá "Ngàn năm Thăng Long" của Việt Cộng. Ở trời tây nhưng Song Anh đã nhìn thấy rõ thực trạng ế chề của Thiên Đường Cộng sản Việt Nam. Ông nhận định rất chính xác:
"Những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, phẩm giá và nhân cách của con người Việt Nam bị coi thường, rẻ rúng, nhất là hình ảnh người phụ nữ. Một nền giáo dục chỉ đào tạo những " con người mới xã hội chủ nghĩa" phản ánh thực chất phi tự do , phi nhân bản mà hậu quả tệ hại từ bao thập niên vẫn còn tiếp diễn ngày càng xấu hơn.

Con người "lao động xã hội chủ nghĩa" tự mãn, khoe khoang số sản xuất lao động phổ thông nhưng thực chất họ không có trình độ học lực, không có trình độ chuyên môn. Ra nước ngoài, số lao động này phải bán hoặc thế chấp ruộng vườn nhà cửa hoặc vay nợ để có 15 ngàn đô la mua lấy hộ chiếu qua đám môi giới lao động. Mà họ rất xấu hổ khi cầm hộ chiếu Việt Nam ( lời Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt)

Bên Á châu, phụ nữ Việt Nam ra nước ngoài chỉ để giữ em, làm việc nhà. . nhưng thực tế đau lòng là "lấy chồng" ngoại quốc hoặc bi thảm hơn phải sa vào con đường trụy lạc khác đề có tiền trả nợ "hộ chiếu".

Bên Âu châu, Mỹ châu, mang "hộ chiếu doanh nghiệp" hoặc hộ chiếu lao động nhưng rồi đến nơi thì đứng bán thuốc lá lậu, bán áo quần giả nhãn.. . rồi đi " trồng cỏ" (trồng cần sa) cho các Mafia Việt Nam, để có tiền trả nợ hộ chiếu" và hy vọng có chút vốn liếng hồi hương. Ở NewYork, Texas, Houston,. . . ở cộng hòa Tiệp , ở London, ở Đức, báo chí ngoại quốc đã đưa tin không biết bao nhiêu vụ người lao động Việt Nam bị bắt vì" trồng cỏ" (193-94).


" Tập tành chữ nghĩa" là thiên hồi ký của Võ Phước Hiếu. Võ Phước Hiếu từ trước đến nay vẫn theo đường lối văn học đồng quê, văn học miền Nam.  Từ tác phẩm đầu tay cho đến tác phẩm này, Võ Phước Hiếu vẫn nhất quán về  chủ đề đời sống thôn quê Miền Nam.  Có hai cảnh thôn quê trong tác phẩm của Võ Phước Hiếu, một là cảnh thôn quê thanh bình trước 1945, và một thôn quê đau khổ sau 1945 là khi có lá cờ máu phất phơ ở thôn quê và thành thị. 

Trong VIỆT NAM NIỀM THƯƠNG NỖI NHỚ, Tập Tành Chữ Nghĩa là một thiên hồi ký  về Miền Nam trước 1945. Đó là  nơi ông sinh trưởng,  xóm Phú Thứ, làng Phước Lợi, miệt Gò Đen, gần Sài Gòn. Ông nói về cuộc sống bình dị nhưng ấm áp tình người ở nơi thôn quê.

Ông đã nói về các trò chơi của trai trẻ nơi thôn quê.
Bất quá chiều chiều, lúc trời êm nắng dịu , mặt trời thoi thóp chưa kịp phụp hẳn xuống cuối chân trời xa, đám thanh niên trang lứa " bẻ gãy sừng trâu" hú gọi nhau, tốp năm, tốp ba lần lượt đổ ra mấy gò đất hoang hay đồi trọc để đánh trống. Chủ yếu của họ là lấy sức lực và mưu mẹo ganh đua, ăn thua nhau. Rồi nhóm nào thua bị phạt chạy tiếp sức băng đồng, vừa chạy vừa u không đượt đứt hơi.

Hoặc họ tụ tập ở sân phơi lúa khang trang rộng rãi của mấy ông đại điền chủ để u mọi, quến mấy cụ già chăm nom theo dõi để nhung nhớ một thời vàng son đã qua. Họ bắt giò, bắt cẳng, vật nhào lăn cù, giúp họ lùa xa những phiền nhiễu vướng bận hàng ngày . ( 203)

Ông cho biết sơ lược về sinh hoạt văn hóa của dân chúng vùng này. Dù là vùng thôn quê, các trẻ cũng được học hành :
Đám trẻ nhóc con nầy bập bẹ đọc ạch đụi, đọc trật vuột, nhiều câu phản nghĩa trầm trọngmà chúng một mực phây phây tỉnh bơ, xem như không có chuyện gì xảy ra. Đôi khi lộn đầu lộn đuôi, thậm chí chúng lộn luôn cả dấu giọng rất ngây ngô nhưng dễ thương, khiến bao nhiêu người nghe đang ngồi chung quanh đâu đó không nín được cười nghiêng cười ngửa đến trào nước mắt, không cách nào cầm lại được. (205)

 Dân chúng rất thích nghe truyện, đọc sách những tác phẩm thời danh lúc bấy giờ:
 Nào là Phong Thần Diễn Nghĩa, Thuyết Đường, Thiết Nhơn, Quý Chinh Đông, Tiết Nhơn Quý Chinh Tây, Tam Quốc Chí, Thủy Hử v.v... Những thiên truyện được mến mộ một thời này được các nhà xuất bản lớn ở Sài Gòn in từng tập định kỳtrên giấy mỏng te trắng phau, giống như giấy quyến hút thuốc, được bày bán dẫy đầy, không thiếu một tập nào ở chợ quận. (205-206)

Thiên Hồi Ký này cũng là một nét phác họa xã hội Miền Nam thời đó về mặt văn hóa.  Đình làng là một văn hóa của chung Việt Nam. Đó là nơi sinh hoạt chung của dân chúng, là nơi gìn giữ phong tục, tín ngưỡng cũ. Văn hóa đó là tôn trọng tiền nhân đã lao động và chiến đấu. Đó cũng là nơi sinh hoạt tập thể của dân làng, không phân biệt già trẻ, tôn giáo, tuổi tác, đẳng cấp. Linh hồn của văn minh đình làng là lễ tế thần, Kỳ Yên, các cuộc vui chơi tập thể.
Trước đây, một số người chỉ trích và cấm đoán việc cúng thần.. Họ cho đó là mê tín, dị đoan, phong kiến, lạc hậu. Họ không biết rằng các tục lệ về lễ hội là sợi dây liên lạc nối liền quá khứ với hiện tại, nhất là mối thân thiết giữa những người trong thôn xóm. Nó đề cao tinh thần trách nhiệm, nó đề cao mối liên lạc xã hội, đó mới là tinh thần xã hội thực sự. Trước đây, từ Ngô Tất Tố, các nhà " cách mạng", các chiến sĩ "duy tân" và duy vật đã chỉ trích tục ăn uống ở thôn quê, nhất là tục cúng tế, xôi  thịt, rượu chè ở các đình, miếu, nhưng nay thì ta thấy dưới chế độ cộng sản thì nạn ăn uống kèm theo hối lộ, và mua bán dâm lên cao độ. Té ra "phong kiến" khá hơn cộng sản nhiều. Các ông chạy theo cộng sản rồi bị cộng sản giết như Ngô Tất Tố, thiệt là thảm thiết! Chửi thực dân để thấy thực dân tốt hơn cộng sản, mạ lỵ phong kiến để rồi thấy phong kiến có tình người hơn, tao nhã hơn, văn minh hơn cộng sản!
Cộng sản phá đình chùa coi như là phá tàn tích phong kiến hủ lậu nhưng với quan niệm chung của các nhà dân tộc học cũng như quan điểm của tác giả đình làng là một trung tâm văn hóa.

Hôm nay, quả là ngày vui thường niên trong làng, ngày cúng Kỳ Yên mà mọi người nam nữ lớn nhỏ đều mỏi mắt trông đứng trông ngồi từ nhiều tháng trước. Đồng bào nơi thôn quê nôm na gọi là ngày cúng đình thần. Mỗi năm, ngày này được dân làng chung sức chung lòng, kẻ có công người có của chung lo tổ chức rất linh đình trọng thể. Vì theo tín ngưởng lâu đời còn lưu truyền lại không biết từ đời thuở nào, hẳn là từ thuở thất tổ huyền tổ xa xôi của họ đã tiên phuông dấn thân xuôi miền Nam mở đất, khẩn hoang lập ấp. Họ cho rằng vị thần đình là một mẫu người vượt lên trên hết. Ngài đã có công to hiển hách lúc sinh tiền nên được dân làng kính yêu, ngưỡng mộ và trọng vọng. (209)

Đình làng là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi cả làng vui chung, nơi tập tinh thần trách nhiệm, tinh thần tập thể và sự đoàn kết trong cộng đồng:
Theo thông lệ ấy đã được liên tục tiếp nối mãi cho đến nay, hằng năm bà con làng tôi chọn ngày cúng đình nhằm vào những ngày lọt thỏm trong tháng giêng ta. Tức khi họ đã gặt hái xong xuôi đâu vào đó, không còn sót bao nhiêu nơi dang dở, để trơ cánh đồng một màu bát ngát vàng mơ những rơm rạ. Và cũng theo tục lệ ăn sâu bám rễ đó, mỗi năm, ban tế tự chọn lấy một tráng đinh đứng ra chịu trách nhiệm tổ chức ngày lễ trọng đại nầy. Rồi cứ lần lượt luân phiên nhau cho đến khi không còn sót một tráng đinh nào khác trong làng, họ mới bắt đầu trở lại người khởi đầu. Và theo chu kỳ không thành văn nầy, họ thống nhứt nhau trong việc áp dụng nhuần nhuyễn cho những năm về sau..
Nói chịu trách nhiệm tổ chức buổi lễ cho thêm phần long trọng, có tính cách đề cao để họ kê vai gánh vác một nhiệm vụ công đức có ý nghĩa trong đời. Kể từ ngày đó, họ được xem như chánh thức là người lớn, người đã trưởng thành trong cộng đồng, với vị trí và trách nhiệm minh bạch rõ ràng. Và cũng từ ngày đó, họ cố gắng xử sự vuông tròn theo đúng phong cách và đức độ của truyền thống ông bà, làng xóm. Nhưng thực ra, mọi gia đình đều có đóng góp ít nhiều phần mình trong ngày lễ, tùy hoàn cảnh và khả năng mình, trước cúng dâng thần linh, sau cùng nhau chung vui hậu hỉ. (209)

Xã hội nào, tổ chức nào cũng có sự ăn uống, tôn giáo nào cũng có sự thờ cúng ( cộng sản trước đã thờ cúng ông Mao, nay lại bắt dân cúng ông Hồ) , thế mà trước đây người ta chỉ trích việc cúng tế, ăn uống. Ở đây có  cúng tế,  đó là do tự nguyện, tự giác, là tấm lòng biết ơn tiền nhân, rất cao đẹp:

Người nầy một mâm xôi nếp, xây khéo léo, mô tròn vung hẳn lên. Xôi nếp ngon, vừa dẻo vừa thơm, màu trắng tinh tuyền đồng nhứt, đẹp mắt. Nhưng nhiều bà trọng tuổi còn cầu kỳ khoe tài, vẽ duyên cho thêm chút ít màu vàng vàng óng mượt như nghệ, hoặc màu lá dứa xanh lơ thơm phưn phứt hay màu gấc tim tím u buồn trông lãng mạn nhưng hấp dẫn lắm. Từ lúc sáng trắng, khi chim chóc bắt đầu líu lo bên chòm tre khóm trúc, họ đã đội gọn lỏn mâm xôi trên đầu, khoan thai rảo bước trên đường đê, đường mòn quanh co uốn éo, đôi khi băng qua những thửa ruộng khô nức nẻ, mong cho mau đến cổng vòng nguyệt xây trước mặt đình thật sớm. Sau đó, họ trịnh trọng đặt lên bàn thờ óng ánh lư hương, chân đèn với khói nhang nghi ngút không ngớt quyện xoáy thẳng lên trần nhà.Người kia một mâm trái cây vườn nhà vừa mới hái, loại trái chiến to lớn chín cây no tròn,thơm thơm mùi hoa đồng nội cỏ, căng da đỏ mộng bắt mắt người ngắm nhìn. Người khác đôi ba buồng cau tơ sai trái, ú na ú nú hoặc năm bảy trái dừa khô loại dừa bị to lớn nặng trìu trịu. Thêm vào đó còn có nào bầu, nào bí, dưa chuột dưa gan, các thứ khoai củ như khoai mỡ, khoai lang bí, khoai từ, khoai mì… ngoài rau cải xanh tươi đủ loại, trông thấy phát ham phát thèm v.v... Ai có sản phẩm gì trong gia đình, dù ít dù nhiều, cứ mang đến, nhằm chứng minh tấm lòng mình đối với ngày đại lễ. Tấm lòng của họ quan trọng hơn cả lễ vật. Những người giàu có hoặc thừa thãi khá giả sai người làm công thân tín khúm núm mang đến nào gà nào vịt, loại gà trống thiến mập lút trổ mã, sắc màu tươi mướt, loại vịt xiêm tơ sà đắc tiền, ít người có điều kiện vói tay tới. Mỗi người một con hoặc hai ba con. Chúng bị buộc chân buộc cẳng nằm la liệt nơi mấy hàng cột phía sau đình, thỉnh thoảng vỗ cánh đập
bành bạch chờ chết, kêu la toan toát. (209-210)


Cuối cùng ,tác giả đưa ra lời so sánh, phê phán hai cuộc sống: cuộc sống thanh bình ngày xưa và cuộc sống hối hả ngày nay. Đây cũng là mối ưu tư của các triết gia trước biến chuyển của xã hội mới.  Tác giả đã viết rất chí lý:

Xã hội thời đó đã mất hút trong sâu thẳm dĩ vãng từ lâu rồi. Nhưng dù sao thời gian cũng không thể xóa nhòa những kỷ niệm. Bây giờ chỉ chớp tắt thoáng hiện trong trí nhớ của một số người còn nhung nhớ, quan tâm đến cội nguồn gốc rễ. Cái thuở con người thanh thản thư thả, không hề vướng bận với những ràng buộc giờ giấc, không bị căng thẳng với cái ăn cái mặc và những đòi hỏi bức bánh về tiện nghi vật chấttrong đời sống hằng ngày…

Cái thuở mà con người không chút ngần ngại đắn đo bỏ ra cả ngày cả buổi để giang ca dong dài, bàn thảo tranh luận về mọi chuyện trên trời dưới đất, nhất là trong lãnh vực tao nhã thơ ca thi phú, dù là tập tành qua sự hiểu biết quá giới hạng của họ…
Cái thuở đó ngày nay hầu như không thể bắt gặp được nữa. Tiếc thay! Cuộc sống bây giờ quá đỗi hấp tấp, vội vàng đến chóng mặt. Con người hầu như tất cả đều tranh nhau dẫm đạp chạy đua theo giờ giấc hằng ngày, mà khốn thay họ không bao giờ thành công bắt kịp cái bóng thời gian. Để rồi mãi mãi họ triền miên vướng mắc những phiền hà tâm linh và những phiền toái tinh thần, một khi nhắm mắt lao theo đeo đuổi mà không sao thoát ra được. Mặc dù phần vật chất và tiện nghi quá ư đầy đủ dư thừa quá mức. Suy cho cùng, không biết con người thời đại tân tiến hiện nay có thực sự sống sung sướng và hạnh phúc bằng những ông Hai Thắng, thầy giáo Mạnh hay ông thầy thuốc Hai Thiện ngày xưa hay không? Cho dù ở cái thuở xa xưa hun hút ấy, con người không hề được thừa
hưởng trọn vẹn và đầy đủ những tiện nghi và thành quả tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Những người này sống theo thuyết định mệnh do chịu ảnh hưởng của lớp người trước. Mọi việc trên cõi đời đều do ông Trời định đoạt cả. Cho nên họ chấp nhận an phận thủ thường, bằng lòng với hiện tại, nếu có phấn đấu vương lên cũng chỉ bằng mồ hôi thấm đẫm trên hai vạt áo mình. Không hề có sự bon chen ganh tỵ bất chánh, tranh giành quá đáng, ham muốn thậm đa… khiến cho con người không lúc nào bình ổn, thăng bằng trong nội tâm.
Có lẽ nhờ quan niệm sống nhàn nhã trong sự gói ghém, biết đủ biết thiếu chừng mực và hợp lý, họ tạo được niềm vui và hạnh phúc thật sự qua tiếng cười chân chất và phong cách xử dụng giờ giấc thư thả mà con người văn minh tiến bộ ngày nay lắm lúc khó mà tìm được. Mới hay cái quá khứ thuở nào vẫn có nhiều hấp lực lôi cuốn để con người ngày nay mãi mãi nhắc nhở nhớ nhung để tiếc nuối?! Không những chỉ ‘ba trăm năm sau’ mà cả ngàn năm sắp tới nữa, sự nhớ nhung nhắc nhở ấy chắc chắn sẽ còn đậm đà sâu sắc trong tâm khảm của những thế hệ hậu sinh.


Tóm lại, Việt Nam Niềm Thương Nỗi Nhớ là một tác phẩm có thể làm ta nhớ quê hương, nhớ Việt Nam mà hiện nay đang chìm trong quá khứ và trong đau khổ miên viễn  và ta mong ước ngày mai trời lại sáng..

NGUYỄN THIEN THỤ
Ngày  1-12-2012.

No comments: