Saturday, December 8, 2012

NGŨ LANG * CHUYỆN DÀI TRONG NHÀ TÙ CỘNG SẢN




CHUYỆN DÀI TRONG NHÀ TÙ CỘNG SẢN

Ngũ Lang

Tôi định cư trên đất Mỹ tới nay cũng gần 19 năm. Trong thời gian này tôi được ông cảnh sát “thưởng cho hai cái tickets” Lần đầu lúc mới sang bị over speeding, lần thứ hai “coi cái bảng stop như pha!”. Thực ra tôi có ngừng xe lại nhưng chưa ngừng hẳn. Đêm hôm đó tôi phải làm overtime, lúc ra khỏi hãng cũng đã gần 3 giờ sáng nên cứ nghĩ trong đầu là mấy vi “bạn dân” đã say giấc nồng cả rồi. Lần này tôi gặp một “bà bạn dân” Vừa vượt qua cái ngã tư thì u nhà báo “Cảnh sát quay đèn phía sau kìa anh” Tôi ngừng lại sát lề đường quay kính xe xuống. Chờ!


 -Tôi có vi phạm gì đâu, thưa bà?
-Ông “ignore stop sign” nghĩa là không chịu ngừng xe ở bảng stop!
-Tôi có ngừng lại ở ngã tư mà.
-Ông chưa “full stop”
-Tôi nhớ là đã đạp thắng ngừng lại rồi cơ mà.
-Ông nói nữa tôi tăng tiền phạt…!
Tôi nín khe vì biết gặp phải bà chằng lửa! Tôi có than với bạn bè sang Mỹ trước, ai cũng cười ngất an ủi:

“Ở Mỹ mà chưa lãnh ticket hay chưa chạy xe lạc thì chưa là người… Mỹ!”
Chợt nhớ thời gian ở trong tù sau khi mới ra khỏi nhà cùm. Buổi tối bị mấy vết thương hành hạ đau nhức quá, tôi thở ngắn than dài làm anh bạn cùng phòng mắng cho tơi tả.


“Ở tù cộng sản mà chưa bị đi cùm thì chưa phải đi tù!”
Thế là tôi đành nằm im thin thít, không dám than thở nữa. Anh bạn ở Mỹ và anh bạn trong tù đều có lý cả. Nhân ngày tết ngày nhất, các cụ nói là “ăn cơm mới nói chuyện cũ” xin kể hầu quý vị một ít mùi vị của nhà cùm cộng sản.


Lần đầu tôi bị đi cùm lúc mới từ trong Nam ra trại tù quân đội Vc trên Hoàng Liên Sơn. Lúc đó cái cùm làm bằng gỗ nên dễ chịu hơn nhiều, nhưng cái lạnh lẽo của vùng núi rừng Việt Bắc mỗi đêm thật là khiếp đảm. Hồi còn nhỏ tí teo lúc còn ở Hà Nội ông nhà văn nào đó có tả cái lạnh là “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế”


 Nhưng lúc ở tù cộng sản anh em còn bị nhốt phía trên cả hai địa danh đó nữa!  Khi mặt trời vừa khuất sau những rặng cây là lúc gió thổi hồng hộc, người nào cũng co ro trong manh áo mỏng. Phần vì đói triền miên nên cảm thấy càng lạnh hơn! Trại giam bên quân đội cộng sản ngoài miền Bắc lúc đầu chỉ là những dãy nhà vách nứa trống lơ trống lốc. Tôi đã trải qua cơn sợ hãi muốn đứng tim lúc đang bị cùm.

Buổi sáng hôm đó trong lúc cả thân mình nằm dính trên cái sàn bằng nứa, gió rừng lạnh buốt run lẩy bẩy trong manh áo phong phanh. Tôi nghe tiếng động nhè nhẹ, rôi một con rắn dài cả thước bò ngang người. Đã vậy khi nằm vắt vẻo ngang thân tôi, nó lại ngừng một lúc khá lâu “phùng mang” ngó tôi nữa! Tôi sợ muốn đứng tim luôn vì phải nín thở quá lâu!


Tôi e thở mạnh lỡ con rắn nó “nghe” tiếng, quay trở lại ngoạm cho một miếng là rồi đời! Con rắn trườn qua người tôi trước khi “xéo” còn nghển cổ quay lại ngó tôi, cái lưỡi cứ thụt ra thụt vào trông thật đáng sợ. Quả tình lúc đó tôi muốn la toáng lên nhưng chợt nghĩ lại chẳng có ma nào nghe được tiếng cầu cứu của tôi. Nhà kỷ luật nằm bên kia bờ suối, cách xa mấy dãy nhà dành cho tù nên dù tôi có thét lên cũng chẳng ai nghe thấy.



Sau này kể lại cho mấy tên bạn nghe nỗi kinh hoàng của tôi. Đã chẳng được an ủi còn bị bạn bè nói sóc óc:
“Xà nữ vương muốn tỏ tình với mày, nhưng thấy thân xác mày trơ xương nên xà vương thấy chẳng được nước nôi gì mới bỏ đi đấy…!”
Tháng 5 năm 1982 nhóm tù chúng tôi rời trại tù Vĩnh Quang chuyển vào Nam. Khu trại tù mới là Z. 30A, Xuân Lộc.


 Mỗi buổi chiều nhìn lên rặng núi Chứa Chan để nhớ về Sàigòn một thuở. Cuối cùng mấy anh em ngồi tán phễu đặt cho cái tên là “Trại tù chán chưa!” Dù vẫn còn ở trong tù nhưng về miền Nam mọi người đều cảm thấy vui hơn nhiều vì ai cũng “có cảm tưởng gần nhà” hơn. Tất cả hơn một trăm anh em đều cảm thấy “hồ hởi, phấn khởi!” ra mặt

Hôm đầu tiên lên hội trường nghe tên trại trưởng răn đe thì xảy ra “sự cố!” Lúc đó tôi đang ngồi dựa vào tường ở cuối hội trường cùng mấy người bạn. Một tên mặc thường phục hầm hầm tiến tới. Anh em ai cũng biết là tên công an áp giải từ trại Vĩnh Quang vào. Tự nhiên tên này nắm cổ áo một anh bạn tù nhỏ con nhất trong nhóm quát tháo


. Tất cả nhao nhao lên la lớn “Có người đánh tù, có người đánh tù” Thế là tên này bị “bề hội đồng” nằm một đống. Một nhóm công an với AK. 47 lăm lăm trên tay từ ngoài cổng tiến vào. Tên trại trưởng hỏi lý do, ai cũng chỉ trả lời “Không biết, người này đánh tù!” Tên trại trưởng ra lệnh đem nhốt tên công an này và yêu cầu mọi người trở về chỗ ngồi.

Tưởng mọi chuyện êm suôi. Nhưng lần lượt những người tham gia trong trận “bề hội đồng” theo nhau vào cùm! Cùm ở trại công an trong Nam thật khủng khiếp! Tôi cứ tưởng đã thoát, nhưng cuối cùng một buổi đẹp trời tôi bị kêu lên an ninh trại và… đi cùm!


 Tôi nhớ hôm đó là ngày chủ nhật, hình như ngày 2 tháng 9 thì phải, và rơi đúng vào ngày Lễ Vu Lan. Sở dĩ tôi còn nhớ rõ điểm này vì thời gian đó tôi đã bắt đầu ăn chay. Nghe bạn bè có “kinh nghiệm” trong cùm khuyên nên tôi xin cùm tay vì ống chân của tôi rất lớn. Chính điểm này đã làm tôi chết lên chết xuống.


 Buổi chiều hôm đó khi người tù đưa thức ăn vào và nói nhỏ với tôi:
“Em để một miếng thịt dưới phần cơm. Anh ráng ăn cho hết, không em sẽ bị kỷ luật”
Tôi biết anh bạn đưa cơm là một Hạ Sĩ Quan Cảnh Sát ngành đặc biệt nên dù đã trải qua 8 năm tù vẫn chưa được tha.


Cũng phải đề cập đến quy chế ăn uống trong nhà kỷ luật của Việt cộng rất khắc nghiệt. Phần ăn còn lại một nửa lúc bình thường, dù là cơm hay sắn lát cũng đều mặn chát. Không ăn thì đói, mà ăn vào thì khát. Mỗi ngày chỉ được cấp khoảng 1/5 lít nước!


 Khi chưa có kinh nghiệm trong cùm người nào cũng ăn hết phần ăn, nhưng cơn khát hành hạ thật khủng khiếp còn hơn bị bỏ đói nữa. Rút kinh nghiệm khi bị đi cùm anh em dùng phân nửa số nước được cấp phát “rửa” sạch độ mặn trong thực phẩm trước khi ăn. Như vậy bao tử đỡ đói và vẫn còn chút nước để nhấp môi.


 Bọn Việt cộng rất gian manh, trong những ngày chay tịnh của Phật Giáo chúng thường phát cho tù mấy miếng da trâu hay bò. Hôm nào khá hơn được một miếng thịt heo bằng ngón tay. Ngày tôi đi cùm lại nhằm ngày lễ “độc lập” của Việt cộng trùng hợp với ngày rằm tháng bảy. Không ăn phần cơm thì e liên lụy đến anh bạn tốt bụng, mà ăn thì phạm giới luật. Cuối cùng tôi đành ăn hết chén cơm với miếng thịt heo phía dưới!

Hai điều khủng khiếp nhất cho những người tù biệt giam trong phòng kỷ luật của Cộng sản: Bị tra tấn về tinh thần và cả bị hành hạ về thể xác. Phòng giam hình chữ nhật, có hai miếng ván, mỗi miếng không đủ rộng cho một người nằm.


Trên cao có một ô cửa sổ khoảng một gang tay nên căn phòng thiếu không khí để thở. Khi bị giam tất cả việc đại, tiểu tiện đều tại chỗ nên mùi hôi thối nồng nặc xông lên. Bước vào phòng giam đầu óc đã choáng váng khi cánh cửa sắt đóng lại. Cùm là một thanh sắt hình chữ U có hai khoen phía trên.


 Người bị cùm đặt ống chân hay cổ tay vào thanh sắt hình chữ U này. Một cây sắt dài xuyên qua hai cái khoen từ phía ngoài vào. Người bị cùm nằm như một con cá trên thớt, hết cục cưa! Những đêm đầu tiên đi biệt giam người nào không đủ nghị lực thì dễ dàng tự đi tìm cái chết.  đọc cuốn Papillon, người tù bị biệt giam cũng đã mang tâm trạng như vậy.



 Trong phòng biệt giam như một địa ngục, xa lánh hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Những âm thanh của trại tù vọng lại càng làm cho người tù biệt giam có cảm giác như mình đang ở trong “Thập điện diêm vương”vậy!

Ngay buổi tối đầu tiên bốn tên công an mở cửa phòng giam bước vào, tên nào cũng nồng nực mùi rượu. Đây chính là những người khách không mời vào hành hạ thân xác người tù! Tên an ninh trại gốc Thanh Hóa cầm chiếc khóa cửa bằng đồng khá lớn đánh tôi một cái như trời giáng vào lưng trong lúc tôi chưa kịp có phản ứng gì cả. Thấy thất lợi vì một tay bị dính chặt xuống tấm ván. Hối hận thì cũng đã muộn màng. Vì nếu cùm chân tôi còn có hai tay để chống đỡ, tránh né những vùng yếu của cơ thể.“ĐM mày, hôm nay ông đánh cho mày biết mặt…!”

Tên an ninh lên tiếng chửi. Không biết có phải Trời Phật đã cứu tôi không, nhưng một tên trong bọn lên tiếng:
“May cho mày hôm nay ngày rằm tháng bảy ông tha cho mày, tối mai ông sẽ dần cho nhừ xướng”
Nói xong cả bọn kéo nhau ra khóa cửa lại. Tôi bị tức ngực vì cạnh của cái khóa đồng đánh trên lưng làm tôi ê ẩm.

Trong bóng tối đen như mực, đàn muỗi như bầy ong tấn công tới tấp cộng với tiếng cười nói của bạn bè từ các phòng giam vọng vào đã đẩy tôi vào nỗi cô đơn cùng cực. Cũng may trong thời gian bị tù ngoài Phong Quang, Lào Cai tôi đã được một vị Tuyên Uý Phật Giáo truyền cho phương pháp thiền định. Tôi nằm nghiêng, gối đầu trên cánh tay bị cùm bắt đầu niệm Phật hiệu để từ từ bước vào khoảng không vô tận. Tôi thiếp đi trong giấc ngủ nhẹ nhàng.

Mỗi đêm tôi bị hành hạ đôi ba lần khi người công an đi tuần đạp mạnh vào cái khoen sắt phía ngoài của cây sắt xuyên qua khoen cùm. Càng bị cùm lâu cái vòng sắt càng cứa sâu vào da thit. Cái đau đớn khủng khiếp cứ tăng lên mãi khi “vòng kim cô” quanh cổ tay làm lở loét chỗ bị cùm nhiều hơn. Mỗi cái đạp của người công an phía ngoài làm cho người bị cùm biệt giam đau đớn thấu tim gan


. Khi cái vòng sắt đã ăn sâu vào thịt thì mỗi lần như vậy người thù biệt giam hét lên rồi ngất lịm vì đau đớn! Sau mỗi lần bị hành hạ không làm sao ngủ lại ngay được. Đêm nào cũng vậy người bị cùm biệt giam cứ thấp thỏm chờ đợi sự đau đớn thể xác đến bất cứ lúc nào. Chính thời gian này phương pháp thiền định của nhà Phật đã giúp tôi chống trả lại những đợt hành hạ khủng khiếp hàng đêm này.
Có điều sau đêm áp đảo tinh thần đầu tiên thì mấy tên công an không còn vào phòng biệt giam để đánh tôi nữa. Khi ra khỏi cùm tôi mới biết là bạn bè phía ngoài đã “hối lộ” mấy tên công an này để tránh cho tôi những trận đòn thù.    

 
Tôi thuộc dạng tù lè phè ngoài trại tù Vĩnh Quang, tháng nào cũng nằm trong danh sách “ăn hạng C” của đội. Thân xác tôi thì to kềnh to càng mà mỗi tháng có 12 cân (cân chứ không phải ký) củ mì luộc thì chịu trời sao thấu. Người miền Nam chúng tôi kêu là củ mì, còn các bác “Bắc kỳ di cư kêu là củ sắn” Bữa nào may mắn gặp mấy khúc mì tốt thì đỡ khổ, được tí bột tráng bao tử. Còn bửa nào “số con rệp” gặp khúc mì toàn sơ thì coi như uống nước suối cầm hơi!


Cũng may là năm 1980 Việt cộng bắt đầu cho thăm nuôi. Chẳng phải bọn chúng nhân đạo gì cả. Khi chúng đưa tù ra rừng núi biên giới Việt Hoa với mục đích âm thầm giết toàn bộ Quân Dân Cán Chính miền Nam. Chẳng may chúng bám đít Liên Xô nên bị tên đàn anh Trung cộng dạy cho một bài học vào năm 1979. Cuối năm 1978 chúng vội chuyển toàn bộ tù về miền trung du. Việt cộng cho gia đình thăm nuôi để chúng bớt gánh nặng vì thực phẩm rất khan hiếm trong thời gian này và nhất là tiếp tế thuốc men vì anh em bắt đầu bị bệnh nhiều hơn .


 Chúng mượn sức gia đình tù nuôi tù để chúng tiếp tục bóc lột sức lao động phục vụ cho chúng. Những tên “con bà phước” như tôi cũng nhờ vậy mà sống ngấp ngoải. Các anh em có thăm nuôi cũng tiếp tế cho cục đường, miếng bánh, gói mì. Phần ăn của trại cũng được san sẻ cho những người không được thăm nuôi.

Năm 81 vợ tôi cũng ráng nhịn ăn đi thăm nuôi tôi một lần. Thăm thì đúng hơn là nuôi, vì gói quà của vợ tôi mang ra chỉ vừa hai xách tay nhẹ tâng. Tôi chỉ gặp mặt vợ được tổng cộng khoảng 45 phút vì lúc đó tôi đang bị “kỷ luật.” Khi gặp mặt vợ tôi đã phải cố gắng lắm để không rơi nước mắt. Nhìn gương mặt bơ phờ còm cõi sau mấy ngày ngồi trên xe lửa, và đi bộ đoạn đường từ ngoài Vĩnh Phú vào trại để chỉ gặp mặt chồng trong khoảng thời gian ngắn ngủi làm tôi thật đau xót! Dáng đi siêu vẹo của người vợ thân yêu lúc chia tay là hình ảnh không bao giờ phai mờ trong tôi.


Ở trại tù Vĩnh Quang có nhiều giai thoại vui đáo để. Hình như ở đội làm gạch có anh đốc sự hành chánh tên Lân, anh em đặt cho biệt danh là “Lân đầu trần chân đất”  Quanh năm suốt tháng, bốn mùa xuân, hạ, thu, đông đi lao động đầu không đội mũ; chân không guốc dép! Một buổi đội của anh tăng phái cho đội cày của tụi tôi. Trong lúc tất cả đã tập họp ra sân chuẩn bị “hành quân” tới khu vực lao động thì vắng mặt anh. Tên công an vào quát mắng thì anh chỉ mẩu sắn đển trên miếng lá chuối trước mặt nhấm nhẳng:
-“Buổi sáng cho ăn mẩu củ mì chó còn chê này thì làm sao lao động?”

 Tên công an ức ói máu, hùng hổ:
-“Anh không đi nao động tôi đưa anh đi cùm bây giờ”
“Lân đầu trần chân đất” vẫn trả lời một cach thách thức:
-“Tôi đâu có quyền gì cấm anh cùm tôi…”
Anh em đang lo cho anh bị đi cùm thì anh lững thững đi ra chỗ tập họp. Tới khu lao động “Lân đầu trần chân đất” ngồi lì ở chỗ “Anh nuôi nấu nước”
Tên công an quản giáo lại bước tới hùng hổ ra lệnh:

-“Anh Nân đi nao động để còn nghỉ với mọi người chứ.”
-“Anh em lao động thì anh em nghỉ, còn tôi không lao động thì tôi… hỗng nghỉ!” Tôi đang lõm bõm dưới ruộng cùng “con trâu đi trước cái cày theo sau” cũng phải thán phục sự lì lợm của Lân. Ai cũng lo lắng cho anh, nhưng cuối cùng anh vẫn bình an vô sự. Thế mới là lạ.
Khi di chuyển về trại Z. 30A trong Nam được vài tháng thì “Lân đầu trần chân đất” được thả. Không biết giờ này anh chàng lang thang ở tiểu bang nào trên nước Mỹ.


Ở đội 6 cày Vĩnh Quang có anh chàng Th. với biệt danh là “Ông thu dụng cụ” Nghe nói anh chàng này là dân Biệt Hải, đã từng xâm nhập ra Bắc để bắt mấy tên cộng sản. Anh chàng này cũng ở nhóm cày với tôi. Chẳng là “đội nông nghiệp” của tôi chia làm hai nhóm. Một nhóm vạc bờ ruộng gọi là “nhóm cuốc”, còn nhóm tụi tôi là “nhóm cày”. Mà từ thuở cha sanh mẹ đẻ tới lớn tôi có biết cày bừa gì đâu. Lúc ra ngoài Hoàng Liên Sơn một ông bạn muốn cứu tôi khỏi bị cùm đã giới thiệu tôi với tụi “răng đen mã tấu” tôi là “thợ cày chuyên nghiệp!” Cũng may anh bạn của tôi lanh trí không là cả hai đứa đi cùm đếm rệp mút mùa rồi.

Khi từ trại tù Phong Quang trên Lào Cai chạy về Vĩnh Quang vào cuối năm 1978 vì “người anh em môi hở răng lạnh” chuẩn bị dạy cho thằng đàn em phản phúc một bài học. Về Vĩnh Quang tháng nào cũng nằm trong danh sách ăn khẩu phần C, chịu đời không thấu. Cuối cùng tôi phải trở lại cái nghiệp “vắt dziệt…” con trâu!

 Từ lúc vào nghề trở lại tôi bắt đầu tâp luyện xử dụng “cây nhuyễn tiên” để… đập ngóe! Cây roi đánh trâu của tôi tung ra là một chàng ngóe nằm phơi bụng. “Cô nàng trâu” của tôi cũng rất “thông cảm” Mỗi lần nghe tiếng roi là “cô nàng” ngừng lại đủ thời gian để tôi cho con ngóe vào cái túi ny lông đeo ở lưng quần! Tôi gọi là “cô nàng trâu” vì tôi được phân cho một con trâu cái.

Mỗi buổi đi cày tôi “thu hoạch” được vài chục chú ngóe. Tội lỗi, tội lỗi! Không biết bao nhiêu mạng ngóe đã chết dưới cây “nhuyễn tiên” của tôi. Chiều về nếu không có bạn nào “hùn vốn” thì tôi bỏ tất cả vào “cái lon gô” cùng với mấy cộng rau tập tàng hái ngoài bìa rừng, thêm phần nước muối trại phát là có chén canh “nghiêm chỉnh”


 Nhưng không phải ngày nào cũng “Thuận buồm suôi gió “ đâu. Tôi đã phải viết “bàn tự kiểm” không biết bao nhiêu lần vì vụ “cải thiện ninh tinh” này!
Tôi xin trở lại với anh chàng bạn tù Th. Anh chàng này người miền Trung và là một con chiên ngoan đạo. Khi gần đến giờ nghỉ ai cũng nghe nghe tiếng anh la ong ỏng “Thu dụng cụ” Riết rồi ai cũng gán cho anh cái biệt danh “Ông thu dụng cụ”

 Một buổi trưa trời nắng như đổ lửa. Nước ruộng gần như nước sôi. Tôi đang bì bõm theo sau con trâu ở thửa ruộng bên cạnh, tự nhiên thấy chàng “ông thu dụng cụ” nhẩy lên bờ ruộng, hai tay dang ra giống như Chúa Jesus, và bắt đầu chửi. Không còn thiếu một “lãnh tụ anh minh cộng sản” nào mà không bị lôi ra chửi. Từ Lê-Nin, Mác cho đến Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh cả Phạm Văn Đồng cũng đều bị chửi tuốt. Mấy tên công an súng dài súng ngắn nhốn nháo bao vây lấy anh. Mọi người đều lo cho anh không thoát khỏi bị lãnh đạn AK. Nhưng anh em đều mừng vì cuối cùng anh chỉ bị trói tay dẫn về trại cùm đâu khoảng nửa tháng.

 
Cái nhà “Ông thu dụng cụ” này hiện định cư ở thành phố Nashville, tiểu bang Tennessee.
Tháng 7 năm 2010 những người cựu tù đã hội ngộ lần đầu tại Nam California. Hôm đó có cả hai “Ông Tây” từ bên Paris cũng vội vã bay về. Trên E-Mail yahoogroups hoangliensonphongquangvinhquang anh em đang “ới” nhau về họp mặt lần thứ hai cũng tại Nam California vào cuối tháng 5 này. Các bạn bè cứ lo lắng “Không mau mau về hội ngộ, lỡ thuyên chuyển về vùng 5 bất tử thì đâu còn dịp nào để gặp lại nhau nữa…!”
“Ông thu dụng cụ” cũng gửi E-Mail hứa với tôi:
“Lần này tao cũng về…”
Ngũ Lang

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Ðồng Bào Ðau Khổ

 

No comments: