Thursday, December 20, 2012

HOÀNG YÊN LƯU * HOÀNG ĐẠO

“Con đường sáng” của Hoàng Đạo

- Hoàng Yên Lưu

Con đường sáng là truyện dài duy nhất của nhà văn Hoàng Đạo trong Tự lực văn đoàn. Tác phẩm này được đăng từng kỳ trên báo Ngày nay trong năm 1938 và được nhà Đời nay xuất bản vào năm 1940. Câu chuyện kể lại biến chuyển tâm lý tạo chuyển biến cuộc đời của một thanh niên trí thức ở Hà Nội trước 1945.
Chàng tên Duy có học thức, gia đình giàu có. Ngày nhỏ Duy có những năm tháng trưởng thành nơi thôn quê, nên tâm hồn mang bản chất trong sạch và mộc mạc, nhưng lớn lên ở giữa thị thành, có tiền bạc trong tay, có trí thức trong đầu, Duy cũng như đa số thanh niên cùng thế hệ sống trong hoàn cảnh đất nước dưới ách đô hộ của thực dân, chán nản nên buông trôi vào trụy lạc. Nhưng Duy có điểm khác với phần lớn những người chung quanh là chàng có nhiều lúc “khi tỉnh rượu lúc tàn canh, giật mình mình lại thương mình xót xa” và tuyệt vọng muốn tự tử. Cứ thế Duy mãi vùng vẫy muốn ra khỏi cái lưới vô hình bao vây quanh mình: “Duy nghĩ đến bao nhiêu bạn của chàng quằn quại ở trong vòng trụy lạc không ra thoát, khác nào như những thiêu thân sa vào màng nhện, càng giãy giụa cánh càng xơ xác và vướng chặt thêm”.

Rồi Duy dần dần tìm ra con đường cứu mình. Con đường này trước tiên là tìm môi trường sống mới, không thể quẩn quanh trong lòng đô thị sa hoa đầy cám dỗ, tiếp đến là tìm sinh hoạt mới, một cuộc sống dấn thân với những người lao động trong bùn lầy nước đọng đang cần cù xây dựng cuộc đời mà xưa nay chàng cho là thấp hèn hơn chàng và cuối cùng là tạo một cuộc đời có ích, đóng góp xây dựng cuộc sống mới cho quảng đại quần chúng đang luẩn quẩn trong vòng nghèo túng và tối tăm. Hạnh phúc của bản thân sẽ ở đấy và “con đường sáng” cũng khởi ở đấy.
Quan điểm “tạo hạnh phúc cho ta bằng cách vun đắp hạnh phúc cho người” hay so sánh như Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại khi ông xếp Hoàng Đạo vào khuynh hướng viết tiểu thuyết luận đề bên cạnh Nhất Linh: “Cái lý tưởng mà tác giả dùng làm luận đề là lý tưởng của nhà Phật: ‘Tự giác, giác tha’, làm sáng cho mình, rồi làm sáng cho người”.
Sau nhiều suy nghĩ chín chắn và quay về dĩ vãng, nhớ lại chuỗi ngày mà chàng cho rằng “thơ ngây và trong sạch”, Duy trở về quê xưa vì ở đó chàng hy vọng tìm được môi trường không vẩn bụi phồn hoa và cũng ở đó có Thơ, một cô gái quê, bạn chàng hồi để chỏm, một hình ảnh chất phác, thánh thiện như ngọn hải đăng dẫn lối cuộc sống đang bấp bênh của chàng.
Quả nhiên, Duy cảm thấy tìm ra hạnh phúc trong việc lập ấp, dựng đồn điền nghĩa là tìm ra con đường sáng cho mình. Việc chuyển biến tâm lý diễn ra từ từ, từ ý hướng vượt khỏi vòng vây trụy lạc, chống lại cám dỗ, ý muốn tự tử, vì chán ngấy cảnh phồn hoa, và rồi ánh sáng đổi mới lóe lên trong tâm tư vào một đêm nhìn nông dân lao động dưới ánh trăng:
Duy nhìn cái cảnh tượng náo nhiệt trước mắt, trong lòng vui sướng. Chàng chợt nảy ra một ý muốn náo nức, cái ý muốn cởi bỏ ngay bộ quần áo tây chật chội và xa hoa, ăn mặc như lực điền để nhập vào bọn thợ, đập lúa ném thi và cười nói với họ, để được hưởng hết cả sự vui vẻ, sung sướng của họ lúc làm việc mệt mỏi. Chàng cảm thấy cái vui trong công việc nặng nhọc ngày mùa, cái vui trong sạch nó đợi chàng từ lâu, như cánh hoa lan ép trong sách chàng đã quên đi, nay ngẫu nhiên giở ra, vẫn thấy y nguyên, còn thoang thoảng hương thơm của một quãng đời chàng tưởng không bao giờ trở lại”.

Diễn tiến tâm lý rất tự nhiên vì trước đây Duy từng có cảm giác này vì có thời gian gắn liền với sinh hoạt nông thôn, nhưng cảm giác đó mong manh chợt hiện chợt biến, nhưng lần này nó ăn sâu vào tâm trí:
Lần này, Duy không thấy lo phấp phỏng nỗi vui nhóm lên trong lòng chàng thấy mạnh mẽ và bền chặt, tưởng chừng mỗi giây phút đến lại nuôi cho mạnh mẽ và bền chặt thêm lên. Duy nhớ đến những lần trước, chàng vui vẻ nhận ra rằng những cảm giác mạnh mẽ dồn dập đến trong lòng mấy hôm nay lần lần gột rửa những tro bụi bám bẩn lên tâm hồn chàng trong năm sáu năm trụy lạc, khiến mỗi lúc một trong sạch hơn. Duy suy nghĩ về cuộc đời trụy lạc kia, không thấy tâm trí bứt rứt nữa, chàng cảm thấy chàng đã thành một con người khác, không rụt rè sợ hãi, cũng không nghiêm khắc với những điều lầm lỗi của mình nữa.

Từ đó, con đường giải phóng cho mình và cho người đồng thời xuất hiện trong tâm trí chàng trai:
Chàng tự bảo thầm: ‘Trong lòng người ta vui sướng, thì người ta sẵn lòng khoan dung với cả mọi người nghĩa là cả với ta nữa’.
Duy nhớ mang máng đọc một câu tương tự như thế ở đâu rồi, nhưng bây giờ chàng mới thấy ý tưởng đó rõ rệt và hiển nhiên như một chân lý. Duy thấy mình trở nên dễ dãi, khoan dung với mình, yêu mến tất cả những người chung quanh, cả những người thợ mạnh khỏe kia đã vô tình đem lại cho chàng một lối sống mới, một con đường đi đến hạnh phúc. Chàng còn mơ màng chưa biết rõ lối sống ấy sẽ phải thế nào, nhưng chàng đã tìm thấy một vài ý tưởng chính soi sáng con đường chàng sẽ đi. Duy thấy làm việc trong sự trong sạch của linh hồn và thể phách là cần thiết cho cuộc đời mới của chàng và vui vẻ để ý nghĩ đi sâu mãi vào con đường sáng ấy.
Duy nhận ra rằng trước kia chàng chỉ nghĩ đến chính thân mình, hôm nay tình yêu của chàng đối với Thơ khiến chàng bỗng nhiên đặt hạnh phúc của Thơ lên trên hạnh phúc của mình, bây giờ tình yêu ấy đã lan rộng ra, trùm lên cả những người thợ mà hôm qua chàng còn coi như không có liên hệ gì với chàng, cách biệt như người ở thế giới khác.
Duy nhìn những người thợ tươi cười hớn hở tự nhủ thầm: Làm cho người ta vui là lòng mình cũng vui theo.

Hoàng Đạo không phải là người theo chủ nghĩa không tưởng, để trí tưởng tượng tạo ra một con đường sáng không bao giờ có, với chủ trương viển vông của cây viết lãng mạn, mà bản thân ông là một trong những người trong Tự lực văn đoàn đã vừa hô hào đổi mới vừa hành động để thực hiện sự canh tân xã hội. Ông tham gia Hội Ánh sáng, Nhà Ánh sáng và là chánh thủ quỹ của chi đoàn Ánh sáng Hà Nội. Đoàn Ánh sáng có mục đích gì? Trong diễn văn của Nguyễn Xuân Đào, một đại diện đoàn Ánh sáng, đọc tại rạp Olympic, Hà Nội cũ, ngày 18/12/1938, đã nhấn mạnh chương trình của đoàn: “Các bạn sẽ thấy cái mộng của đời mình biến thành sự thực, các bạn sẽ thấy vui, thấy Hội Ánh sáng đem ánh sáng chiếu rọi vào tận các làng xa, xóm hẻm và cái xã hội thảm đạm của ta đây nhờ đó không lâu sẽ biến thành một xã hội tốt đẹp, vui tươi, một xã hội ánh sáng”.
Sau năm 1945, các nhà phê bình giáo điều như Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Vũ Đức Phúc... đều chê Tự lực văn đoàn khởi xướng phong trào cải cách là “đường lối cải lương” và “ngây thơ” (chữ Phong Lê chê Khái Hưng và Nhất Linh khi viết về Ngọc Giao). Chẳng hạn trong Con đường sáng, Hoàng Đạo cho biết Duy từng nản lòng khi nhìn dân quê làng xã: “Xung quanh thành kiến mạnh mẽ và kiên cố quá, sự ngu độn dày đặc quá. Duy có cái cảm tưởng mình chỉ là một con ruồi mắc trong một cái màng nhện, vùng vẫy mãi không sao ra thoát được”, thì cải cách kiểu “tiểu tư sản” có công dụng gì!
Và các tay giáo điều hoài nghi đều đặt câu hỏi, chỉ dùng luận đề tiểu thuyết, thứ văn chương lãng mạn của Tự lực văn đoàn thì làm sao cách tân được xã hội? Làm sao tìm ra “con đường sáng”? Đặt câu hỏi loại này phản ảnh thiên kiến, thành kiến và thiển kiến trong phê bình và cố tình quên mất một sự thực: các nhà văn trong văn đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng Hoàng Đạo đã có sẵn câu trả lời bằng hành động dấn thân, can đảm và hy sinh, bất chấp lao tù của thực dân để giải phóng dân tộc ngay vào lúc văn đoàn lên tới đỉnh cao của thịnh vượng và lời hô hào cải cách của họ như một thứ tuyên ngôn cách mạng đã có tiếng vang tới hàng triệu độc giả.

No comments: