Thursday, December 20, 2012

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG * NGUYÊN SA *

NGUYÊN SA
Công Tử Hà Đông

Viết Từ Rừng Phong Ông cất tiếng khóc chào đời ở thị xã Hà Đông, thành phố ngày xưa có dòng Nhuệ Giang êm đềm, thời hoa niên, tưcù thời ngày xưa còn bé, ông sống nhiều ở Hà Nội hơn ở Hà Đông. Tôi chỉ được quen biết ông, được chơi với ông, có mấy tháng hè năm 1945 khi phi cơ Đồng minh, đúng ra là phi cơ Mỹ, nghe nói từ Côn Minh bên Tàu bay sang ném bom quân Nhật ở Hà Nội, ông và nhiều người Hà Nội tản cư vào Hà Đông để tránh bom. Năm ấy tôi được biết tên ông là Phúc, Trần văn Phúc.
Những ngày như lá, tháng như mây..Cuộc đời đi một đường dâu biển. Chiến tranh Việt Pháp đến, thời ấy, những năm 1946, 1947, người ta thường nói là “chiến tranh bùng nổ”, đôi khi ngắn gọn là “..bùng nổ.., ngày bùng nổ..” Tuy cùng ra đời một năm ở thị xã Hà Đông bên hông Hà Nội nhưng tôi đẻ bọc than, ông đẻ bọc điều, những năm 1947, 1948, 1949 tôi làm liên lạc viên đi bộ, đã đi bộ mà còn đi chân đất, đưa thư ở vùng gọi văn huê là Bắc-Bắc, tức Bắc Ninh, Bắc Giang, ở Hà Nội ông lên phi cơ Air France bay sang Pháp du học. Mười năm sau, trong một buổi sáng chủ nhật trời trong, nắng vàng, tôi gặp lại ông trên hè phố Lê Lợi. Ông vừa từ Pháp quốc trở về. Bây giờ tên ông là Trần Bích Lan, ông là giáo sư, là thi sĩ, bút hiệu của ông là Nguyên Sa.

Từ Pháp về ông không mặc chemise dài tay, không bouton manchette, không cravate, không quần Dormeuil, không đi giày da verni bóng loáng con ruồi đậu lên té vỡ mặt, ông không đeo đồng hồ Oméga, không bút máy Waterman hay Parker nắp vàng gài ở túi ngực áo như những ông du học ở Pháp về, ông bận chemisette trắng, tức sơ-mi cụt tay, áo bỏ ngoài quần kaki, đi sandalle. Có khi đi phố ông còn đội cái nón casque, ngày xưả ngày xưa cái nón này có tên là casque coloniale: cát cô-lô-nhần, chỉ những quan Tây ở các xứ thuộc địa mới đội cái casque này. Sau 1975 những cái nón này xuất hiện ở Sài Gòn với cái tên “nón cối” – vì hình dáng nó giống cái cối giã cua, gọi nó là nón cối quá đúng – nhưng vào những năm 1956, 1957 khi ông Giáo sư Triết Tây Trần Bích Lan kiêm Thi sĩ Nguyên Sa đem nó từ chính quốc về Sài Gòn thì nó chưa có cái tên là “nón cối”, như đã nói năm xưa ấy nó là cái casque coloniale, phiên âm là “cát cô-lô-nhần.


Tôi kể lại chuyện năm mươi năm xưa để nói lên chuyện, theo tôi nghĩ, ngày về nước ông Thi sĩ Nguyên Sa có ý ăn mặc giản dị như thế không phải vì lập dị, mà là để ngầm nói với mọi người: “Ta sang Pháp du học, ta không sang Pháp để ăn chơi. Ta đã sống ở giữa nơi thanh lịch nhất nước Pháp, ta không cần phải có cái mã hào nhoáng như bọn đi Pháp về..!” 


Lại nhiều năm qua đi…Cuộc biển dâu tôi phải chịu lần này mới đúng là biển dâu, biển dâu năm chăm phần chăm, biển dâu đến nỗi không có cuộc biển dâu nào trên cõi đời này có thể biển dâu bằng được. Như đã nói, ông Nguyên Sa đẻ bọc điều, tôi đẻ bọc than, trong ngày xe tăng của bọn Bắc Cộng xâm lăng đến cửa ngõ Sài Gòn, ông và vợ con ông tếch lên phi cơ bay đi, tôi và vợ con tôi cũng tất tả tìm đường bỏ nước ra đi nhưng đi không được, chúng tôi lếch thếch trở về Ngã Ba Ông Ta.ï Một chiều Tháng Bẩy năm 1976, trời mưa, thành phố Sài Gòn bị chiếm đóng tơi tả, âm u, Sài Gòn và người Sài Gòn rách hơn cái mền Sakymen – Sài Gòn Kỹõ Nghệ Mền Len, xưởng dệt ở chân cầu Bình Triệu – ủ rũ, méo mó, xiêu vẹo, tủi nhục, chán đời, mặt mũi không giống con giáp nào, ngồi suôi sị trong Nhà Hát Lớn Sài Gòn dự cái gọi là Khoá Bồi Dưỡng Chính Trị do bọn Bắc Việt Cộng tổ chức cho đám văn nghệ sĩ Sài Gòn bại trận hàng thần lơ láo đến nghe chúng chửi, chúng lên lớp, nhìn anh cán Cộng Cù Huy Cận đứng trước micro nói chuyện, anh mập mập, lùn lùn, người bè bè, nước da nâu, bận áo sơ-mi trắng cụt tay bỏ ngoài quần, quần kaki xanh mầu bộ đội, tức xanh lá cây, đi giép nhựa, tôi bỗng thấy hiện lên hình ảnh ông Thi sĩ Nguyên Sa hai mươi năm xưa, ngày ông mới du học ở Pháp về. Một sáng nào xưa trên hè phố Lê Lợi lung linh nắng thu vàng, tôi gặp Thi sĩ Nguyên Sa mặc sơ-mi cụt tay trắng bỏ ngoài quần kaki, đi sandalle, Thi sĩ Nguyên Sa đã ăn bận như thế hai mươi năm trước anh Cán Cộâng Cù Huy Cận.

Rồi thời gian lại qua đi..Bị cuốn vào cuộc biển dâu 1975 tôi năm chìm, chín nổi, mười mấy cái lênh đênh, tuy đẻ bọc than xong vẫn còn đôi chút may mắn, tôi không bị chìm nghỉm trong cuộc nổi chìm khủng khiếp ấy. Tôi vẫn sống. Rồi những ngày như những cánh lá lìa cành, những tháng bay qua đời như những làn mây bay ngang trời..Một ngày cuối năm 1994 bánh xe lãng tử đưa tôi đến California, tôi gặp lại Nguyên Sa ở thành phố Santa Ana, hay Westminster, hay Fountain Valley, không phải là cư dân Quận Cam, tôi không nhớ rõ. Đã hai mươi năm tôi mới gặp lại ông, lần này tôi gặp lại ông ở xứ người.

Thấm thoắt vậy mà từ ngày gặp lại Nguyên Sa ở Mỹ tới hôm nay tôi đã sống ở Mỹ mười năm! Nguyên Sa đã ra người thiên cổ! Hôm nay liêu lạc xứ người, hồi ức, viết lại chuyện xưa, tôi nhớ ngày gặp lại nhau ở Cali Nguyên Sa nói với tôi mấy chuyện:
- Thằng S. nó cũng bị tù như mày, nhưng nó còn có các bạn nó đánh bóng cho nó, mày thì có ai!
Và:
- Đồng ý là đồng bào mày nó chia rẽ, nó nhỏ nhen, đồng bào mày nó không ra làm sao cả, nhưng nó là đồng bào của mày, mày là thằng viết văn, mày phải sống gần đồng bào của mày mày mới viết được.
Tôi nói với ông:
- Tao không phải là nhà văn, tao là thằng viết tiểu thuyết..


Tôi vẫn lẩm cẩm, gàn dở, nghĩ rằng có sự lạm dụng tiếng “nhà văn” trong giới viết truyện Việt Nam. Theo tôi “nhà văn” dịch từ tiếng “văn gia”, như tiếng écrivain của người Pháp. Người viết tiểu thuyết giải trí vô thưởng, vô phạt như tôi chỉ đước gọi, cao lắm, là romancier theo tiếng Pháp, novelist theo tiếng Mỹ, tức người viết truyện, huê mỹ Ba Tầu là tiểu thuyết gia. Mỗi lần nghe ai gọi tôi là “nhà văn”, tôi ngượng. Nhưng Nguyên Sa vẫn quả quyết tôi là “nhà văn”, ông nói chắc như đinh thép mười lăm phân đóng vào cột gỗ lim tôi phải sống ở Cali giữa đồng bào tôi tôi mới viết được.
Thôi thì tôi cũng chiều ông, cãi ông làm quái gì. Người ta gọi mình là “nhà văn”, mình không phải là “nhà văn” thì thôi. Mất mát gì đâu. Sang Mỹ sống nhờ, ở đâu mà chẳng được. Không viết được thì ngồi cả ngày ở tiệm phở Nguyễn Huệ, nhà Phúc Lộc Thọ lúc nào mà chẳng đông người Việt nhất Cali, nơi đông người Việt nhất Cali là nơi đông người Việt nhất Mỹ Quốc, vẫn không viết được. Viết được thì càng ở nơi vắng vẻ lại càng viết được. Ông bạn bảo mình phải sống ở Cali, mình không sống ở Cali cũng đâu có sao. Khi tôi nói tôi định lấy cái tên “Viết ở Rừng Phong” cho những bài tùy bút của tôi, ông có cái tên nào hay hơn ông cho tôi, 

Nguyên Sa nói:
- Mày lấy “Viết ở Rừng Phong” là hay quá rồi, còn tên nào hơn nữa!
Về chuyện người văn nghệ sĩ bị cộng sản bỏ tù ở quê nhà, ở Mỹ có nhiều bạn văn thỉnh thoảng viết đến, kể chuyện xưa, ca ngợi trên báo, hay không được ai nhắc nhớ gì cả, tù mòn chết bỏ, Nguyên Sa nói đó tôi hiểu ông muốn nói tôi không được nhắc đến ở Mỹ trong suốt hai mươi năm tôi sống giở, chết giở ở Sài Gòn. Tôi tự an ủi với ý nghĩ trong hai mươi năm tôi sống khổ sở ấy, dù trong hai mươi năm tôi không được viết, dù trong hai mươi năm ròng rã những độc giả của tôi không được đọc truyện của tôi, nhiều độc giả của tôi vẫn không quên tôi. Nhiều độc giả của tôi vẫn tưởng nhớ tôi, vẫn thương xót tôi. Được thế là ấm lòng quá rồi, tôi chẳng đòi hỏi hay chờ mong gì hơn. Nhưng…

Bài “Viết ở Rừng Phong” hôm nay không viết về chuyện tình cảm giữa người đọc và người viết tiểu thuyết. Tôi chắc nhiều người viết tiểu thuyết cùng thời với tôi cũng có những độc giả ái mộ như tôi, trong số có những nữ độc giả ái mộ thơm như múi mít, nhiều người còn có nhiều độc giả hơn tôi, nhiều liên hệ tình cảm người viết - người đọc ly kỳ hơn tôi, nhưng họ không viết ra những chuyện ấy, còn tôi, tôi hay viết ra những chuyện ấy. Tôi sẽ viết một loạt bài về những “Nữ Độc Giả Ái Mộ” của tôi, bắt đầu từ người nữ độc giả ái mộ thứ nhất của tôi năm 1956, khi tôi mới viết cái gọi là phóng sự – tiểu thuyết “Vũ Nữ Sài Gòn” đăng trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, những tháng đầu khi tôi mới có cái tên Hoàng Hải Thủy.

Tháng Tư 2004 khi đăng loạt bài gọi là “Nếu đi hết biển” tôi được một số độc giả liên lạc qua thư, qua điện thoại, bầy tỏ ý kiến về loạt bài. Tôi xin phép đăng một trong những bức thư của quí vị độc giả gửi đến toà soạn tuần báo Sàgòn Nhỏ:

Kính gửi chị Hoàng Dược Thảo
Chủ nhiệm & Chủ bút Hệ thống Tuần báo Sàigòn Nhỏ,
Tôi xin tự giới thiệu tên là Lê Đ. S cư ngụ tại Oakland, miền Bắc California. Tôi là một độc giả thường xuyên của quý báo, tôi rất thích những bài viết về các sinh hoạt của cộng đồng người Việt Hải ngoại của ông Tú Gàn, thời sự của ông Nguyễn đạt Thịnh và nhất là những bài phiếm của chị dưới bút hiệu Đào Nương. Thật tình mà nói tôi không những thích mà phải nói mê (những bài phiếm của chị) mới đúng. Lối viết của chị thật thâm thúy và rất “cay” cho những sự việc hay những nhân vật được đề cập. Xin kính gửi đến chị lòng ngưỡng mộ (của tôi) và thành thật tri ân chị về những bài viết cùng tấm lòng hiếm có của một người cầm bút phụ nữ viết về những vấn đề liên quan đến đất nước và dân tộc Việt Nam. Có những vấn đề “úy kị” mà nếu chị không lên tiếng có thể người ta hiểu lầm là người Việt Hải ngoại “có miệng ăn mà không có miệng nói”! Kính chúc chị nhiều sức khoẻ để tiếp tục “sứ mệnh” của mình.

Thưa chị, gần đây tôi (và chắc nhiều người khác) lại được đọc một số bài viết của nhà văn Hoàng Hải Thủy dưới bút hiệu Công Tử Hà Đông trên tờ tuần báo Sài Gòn Nhỏ của chị. Xin cảm ơn chị một lần nữa vì nếu không có tờ báo của chị thì làm sao tác giả có diễn đàn. Tôi đã từng đọc các tác phẩm của ông và mến mộ ông hồi trước năm 75 trong đó có truyện phóng tác Kiều Giang. Cũng như nhiều độc giả khác dù hồi đó tôi cũng ở Sài Gòn nhưng tôi chưa được gặp mặt hoặc thưa chuyện với ông, kể cả hiện tại.

Tôi đã đọc những bài viết của ông về những vấn đề liên quan đến những ông, bà “nhà văn, nhà tư tưởng sâu sắc, đáng kính, nhân vật dũng cảm đứng đầu gió” mà ông gọi nôm na là loại “cỏ đuôi chó”. Đọc những bài viết của ông mà tôi “lặng người” sung sướng vì ông đã nói hộ cho nhiều người và riêng tôi (tôi đã cắt bài ra để dành). Lòng cảm phục dâng lên tôi tự hỏi: tại sao lại có người viết hay đến mức “thượng thừa” như vậy? Chữ nghĩa mà ông dùng làm tôi thấy hãnh diện mình là người Việt Nam có thể “đọc” và “thấm” những gì tác giả muốn diễn đạt. Ai lại đi khen “phò mã tốt áo”! Nhưng tôi biết nói gì bây giờ để tỏ bày lòng ngưỡng mộ và sự biết ơn của tôi đối với những bài viết (tôi không dùng chữ hay nữa vì sợ thừa) và tâm huyết của tác giả với Quốc Gia và Dân Tộc. Thật tình mà nói không phải lúc nào mọi người Việt cũng im lặng, nhất là với những sự việc liên hệ tới thể diện người Quốc Gia. Sự im lặng nếu có này chắc hẳn không phải là sự đồng lõa thường tình mà vì người ta không có điều kiện và khả năng lên tiếng. Đâu phải ai cũng có cơ may cầm bút, mà giới cầm bút thì liệu có mấy người có khả năng và can đảm như chị hoặc tác giả Công Tử Hà Đông.
Một lần nữa, xin chị chuyển đến nhà văn Hoàng Hải Thủy lòng biết ơn sâu sắc của riêng tôi và xin kính chúc nhà văn cùng quý quyến luôn bằng an để tiếp tục cung cấp cho độc giả bốn phương món ăn tinh thần vô giá.
Oakland ngày 23 tháng 4, năm 2004.

Cám ơn ông Lê Đ.S., cám ơn các vị đã viết thư, đã gọi điện thoại, cám ơn tất cả các vị đã đọc những bài tôi viết, tình cảm của quí vị làm tôi cảm động. Đa tình khước tự tổng vô tình! Khi tình nhiều quá người ta không nói được nữa!
Cám ơn tất cả các vị.

Rừng Phong, Xứ Tình Nhân,
Kỳ Hoa Đất Trích. Tháng Sáu 2004.
CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

No comments: