Việt Nam đi hết chu kỳ
Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2012-12-26
Việt Nam đã đi hết chu kỳ tăng trưởng ngoạn mục sau khi đổi mới kinh tế 25 năm trước. Rồi sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2007 thì cũng hết một chu kỳ hồ hởi để bước vào nhiều sóng gió vì khả năng quản lý vĩ mô quá kém của lãnh đạo.
Một người dân đạp xe ngang qua một bảng
quảng cáo phát triển đô thị cao cấp tại trung tâm thành phố Đà Nẵng vào
ngày 25 tháng 8 năm 2010.
Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu chuyện ấy trong bài tổng kết 2012 của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.
Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Tiếp tục loạt bài tổng kết kinh tế năm 2012 và như đã hẹn, thưa ông, kỳ này chúng ta sẽ nói về tình hình kinh tế của Việt Nam. Theo thông lệ thì xin ông trình bày cho bối cảnh của cả hồ sơ này.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin được đặt câu chuyện kinh tế này trong một bối cảnh dài trước khi nói đến chuyện hiện tại bất trắc và tương lai u ám.
Những người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đã mượn màu dân tộc để
tiến hành việc gọi là "xây dựng xã hội chủ nghĩa trên cả nước" dù rằng
về thực chất, họ không biết xã hội chủ nghĩa ấy là gì. Nhờ khai thác
tinh thần dân tộc, họ chiến thắng năm 1975 và đòi tiến nhanh tiến mạnh
tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội mà vì không biết là gì nên đã xoá
giỏi hơn xây và gây ra khủng hoảng trong 10 năm liền.
Từ đó, họ biết là sai mà chưa rõ thế nào là đúng, cho nên tiến hành
đổi mới một cách cầm chừng và thật ra là thả nổi cho dân chúng làm ăn từ
năm 1987. Rồi họ vừa làm vừa học, và chỉ đổi mới có chọn lọc từ trên
đầu xuống là từ 20 năm trước, khi Liên bang Xô viết đã tan rã.
Vẫn còn lạc hậu
Vũ Hoàng: Tức là trong phần bối cảnh, ông đã phân định ra nhiều thời kỳ khác nhau vì trình độ nhận thức và chính sách?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa vâng, nếu so sánh với quá khứ trên cái
trục thời gian thì tình hình kinh tế Việt Nam đã có thay đổi tương đối
khá hơn 20-25 năm trước. Nhưng nếu so sánh trên cái trục không gian với
các nước Đông Á khác thì Việt Nam vẫn còn lạc hậu - và thực tế thì tụt
hậu từ năm năm qua và hết là một kinh nghiệm được quốc tế khen như rồng
cọp để khuyến khích.
Nhìn trong lâu dài, nếu cứ thả nổi cho người dân tự do làm ăn thì sau
một giai đoạn hỗn loạn kinh tế chừng năm bảy năm, người dân Việt Nam đã
có thể tìm ra con đường khác cho xứ sở, chẳng kém gì các dân tộc Á Châu
khác ở chung quanh. Nhưng vì biến động trong khối Xô viết, đảng Cộng
sản Việt Nam sợ bị mất quyền, họ nhân danh một ý thức hệ đã phá sản mà
tiến hành cải cách có chọn lọc theo kinh nghiệm của Trung Quốc để vẫn
duy trì quyền lực độc tôn của đảng và xây dựng một thứ tư bản chủ nghĩa
nhà nước, cho tay chân và thân tộc của đảng viên. Vì vậy Việt Nam mới
tụt hậu trong khi nền độc lập của đất nước lại bị đe dọa. Nghĩa là người
ta đi tròn một chu kỳ oan nghiệt giữa hai mục tiêu đều không đạt được
là độc lập quốc gia và canh tân xứ sở. Xong phần bối cảnh này ta mới đi
vào cụ thể....
Vũ Hoàng: Thưa ông, đi vào phần cụ thể là như thế nào với số liệu gì làm cơ sở thẩm xét?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Việt Nam vẫn là một nước nghèo của thế
giới, với lợi tức bình quân một đầu người là cỡ ngàn mốt ngàn hai đô la
trong cả năm, đứng hạng 132 trong 185 nước hội viên của Ngân hàng Thế
giới. Nói cụ thể thì hơn hai chục năm sau khi chính thức đổi mới, Việt
Nam mới bước lên cái ngưỡng gọi là có lợi tức loại trung bình thấp.
Nhờ đã có lợi tức loại trung bình, Việt Nam được nâng cấp cho nên hết
được viện trợ ưu đãi và thực tế là đi vay không tiền lời trong khuôn
khổ của Hiệp hội Phát triển Quốc tế IDA thuộc Ngân hàng Thế giới dành
cho các nước nghèo. Từ năm 2007 thì phải vay Ngân hàng Thế giới theo
khuôn khổ tín dụng IBRD của định chế này, dự án lần đầu tiên là vào năm
2009. Then chốt ở đây là đã lên tới mức trung bình, nhưng mà còn thấp!
Cũng vì vậy, hai tuần trước, nhân hội nghị của các cơ quan và quốc gia
cấp viện cho Việt Nam, lãnh đạo Hà Nội mới lại cào mặt ăn vạ rằng mức
gia tăng lợi tức ấy chỉ là giả tạo vì lạm phát, chứ dân Việt Nam vẫn còn
nghèo. Họ nói vậy để kèo nèo xin vay theo điều kiện ưu đãi dành cho các
nước nghèo, dù rằng loại tín dụng IBRD vẫn là quá rẻ nếu so với điều
kiện thông thường của thị trường.
Chúng ta thấy ra bi hài kịch là lãnh đạo tự khoe thành tích làm cho
dân giàu nước mạnh mà dân còn nghèo và nước thì yếu. Tuần qua, lãnh đạo
xứ này còn tưng bừng kỷ niệm việc đánh thắng nước Mỹ vào năm 1972 với
cái gọi là "Điện Biên Phủ trên không" trong khi các đại gia thì lái xe
du lịch bạc triệu mà hơn 70% dân chúng vẫn chưa kiếm ra năm đô la lợi
tức trong một ngày và nếu biểu tình để phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh
thổ thì bị bỏ tù.
Nguyên nhân
Một góc dự án bất động sản lớn ở Hà Nội chụp hôm 04/10/2012. AFP photo
Vũ Hoàng: Bây giờ ta mới đi vào nguyên nhân của tình trạng ấy. Vì sao lại như vậy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Việt Nam đã đi hết chu kỳ dễ dãi của việc
chuyển hướng kinh tế ra khỏi chế độ tập trung quản lý theo kế hoạch máy
móc và duy ý chí của nhà nước. Nhưng sau đó lại theo cái gọi là "định
hướng xã hội chủ nghĩa" do nhà nước đặt ra, mà bên trên thì chẳng ai
biết định hướng ấy là gì. Vì không hiểu ra, nên bên trong hệ thống lãnh
đạo, người có chức có quyền đã có thể tự tiện vạch ra những hướng có lợi
cho cơ sở, gia đình hay vây cánh của họ.
Đã vậy, Việt Nam lại bước vào chu kỳ hồ hởi khi gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới năm 2007 mà không thấy thời điểm ấy cũng là khởi đầu
của cơn chấn động lớn trên toàn cầu với ảnh hưởng dội vào Việt Nam, làm
bể bóng đầu tư và đánh sụt mức đầu tư của nước ngoài. Vẫn theo nếp cũ
học được từ Trung Quốc, Hà Nội đã lại gia tăng đầu tư và bơm tín dụng
như liều thuốc đổ bệnh nên kinh tế vừa bị suy trầm vừa lạm phát. Lý do
cơ bản của hoạn nạn này là khả năng quản lý vĩ mô quá kém với nhiều biện
pháp co giật thất thường của các cơ quan chức năng. Nhưng người dân còn
thấy ra rằng đấy là cơ hội cho một số đại gia bành trướng ảnh hưởng và
thu vét phương tiện cho họ. Nghĩa là vì tư lợi mà làm lệch chính sách
công quyền.
Lý do cơ bản của hoạn nạn này là khả năng quản lý vĩ mô quá kém với nhiều biện pháp co giật thất thường của các cơ quan chức năng.
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Vũ Hoàng: Thưa ông, dường như là từ đầu năm ngoái,
lãnh đạo của Việt Nam cũng có thấy ra điều ấy với Nghị quyết 11 và một
gói chính sách để đẩy lui lạm phát.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng đấy là quyết định đạp thắng để ổn
định vật giá với cái giá phải trả là lãi suất quá cao làm doanh nghiệp
thiếu vốn và chết kẹt khiến các ngân hàng cũng bị rủi ro mất nợ.
Sâu xa hơn thế, lãnh đạo Hà Nội cũng thấy ra những thất quân bình
trong cơ cấu kinh tế, nên từ Tháng 10 năm ngoái, Hội nghị Ban chấp hành
Trung ương mới đề ra ba yêu cầu tái cơ cấu, là thứ nhất đầu tư của khu
vực công, thứ hai là hệ thống tài chính và ngân hàng và thứ ba là doanh
nghiệp nhà nước, trong đó, nổi cộm hơn cả là phải tái cấu trúc lại các
tập đoàn kinh tế nhà nước, những trung tâm có khả năng quản trị thấp mà
quyền lợi cao. Một năm đã qua rồi mà yêu cầu tái cơ cấu ấy vẫn chưa tiến
hành. Bàng bạc ở trên và lồng lên tất cả là nạn tham nhũng, một thuộc
tính kinh tế của chế độ độc tài.
Hậu quả
Chính quyền thành phố
Hà Nội phá các chung cư cũ có niên đại từ năm 1960 để xây những tòa nhà
hiện đại. Ảnh chụp hôm 21/11/2012. AFP
Vũ Hoàng: Thưa ông, hậu quả ngày nay là như thế nào?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Hậu quả là ngày nay, Việt Nam đã hết thời
kỳ tăng trưởng trên 7% một năm, tức là cứ 10 năm lại nhân đôi lợi tức,
mà sẽ quanh quẩn ở mức 5% một năm, là phải 14 năm nữa thì lợi tức bình
quân mới vượt mức hai ngàn một năm và từ nay đến đó sẽ là nhiều bất
trắc. Các con số trừu tượng ấy thật ra vô nghĩa với mấy vạn doanh
nghiệp của tư nhân bị vỡ nợ và hàng triệu người đang thất nghiệp. Nhiều
cơ sở tư doanh không chỉ bị ngộp nợ và hàng hóa ế ẩm, tồn kho chất đống
mà đã gặp cảnh ngộ gọi là "chết lâm sàng" và thị trường địa ốc bị đông
lạnh.
Nhìn lại thì Việt Nam có tăng trưởng mà thiếu phẩm chất, tương tự như
Trung Quốc và thua xa các nước Đông Á khác. Đó là sự tăng trưởng bất
công, không bền mà gây ô nhiễm, là làm hư hao tài nguyên quốc gia cho
các thế hệ về sau. Ngay cho thế hệ này thì khoảng cách về lợi tức đã đào
sâu và bị thiệt hại nhất chính là các sắc tộc thiểu số ở miền sơn cước.
Đấy là vấn đề đạo lý và cũng là mối nguy khác về an ninh mà không xuất
hiện từ biển Đông.
Về viễn ảnh cho năm tới thì gánh nợ của nhà nước, kể cả các tập đoàn
kinh tế nhà nước, đã thành vấn đề, nhưng nặng đến mức nào thì không ai
rõ. Và hệ thống ngân hàng thì có thể sụp vì mất nợ, mà mất đến cỡ nào và
ai sẽ trả thì chẳng ai hay. Mà đấy chỉ là một phần của rủi ro thôi.
Vũ Hoàng: Theo nhận định của các định chế quốc tế
như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và Ngân Hàng Thế Giới, thì năm tới đây Việt Nam
có thể bị ba loại rủi ro như kinh tế toàn cầu bị đình trệ, vẫn còn gặp
bất ổn về quản lý vĩ mô, và nếu lãnh đạo Việt Nam có cải cách thì vẫn
gặp trở ngại trong thi hành. Ông nghĩ sao về những nhận định ấy?
Về viễn ảnh cho năm tới thì gánh nợ của nhà nước đã thành vấn đề, nhưng nặng đến mức nào thì không ai rõ. Và hệ thống ngân hàng thì có thể sụp vì mất nợ, mà mất đến cỡ nào và ai sẽ trả thì chẳng ai hay.
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Các định chế quốc tế ấy vẫn phải có những
khuyến cáo với ngôn ngữ ngoại giao, trên cơ sở của những đánh giá tương
đối vẫn là lạc quan.
Quả thật rằng Việt Nam đã lầm lẫn nặng khi tìm sức tăng trưởng cao
bằng đầu tư của công quyền trút vào khu vực kinh tế nhà nước và bằng tín
dụng được cấp phát theo diện chính sách nên cũng ưu tiên trút vào các
doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy xứ này mới gặp các rủi ro trong năm tới
như ông vừa nhắc đến. Nhưng rủi ro lớn nhất lại không nằm ở ba lĩnh vực
đó mà là tình trạng tê liệt về chính trị vì quyền lực phe phái ở bên
trong.
Cả ba cái đầu là đảng, chính phủ và quốc hội đều nói đến cải tổ kinh
tế và thực sự có những phát biểu hay can thiệp vào lĩnh vực kinh tế, tài
chính và ngân hàng mà không đưa ra được một chính sách rõ rệt và nhất
quán. Trong khi ấy, tay chân của ngần ấy phe phái vẫn tranh giành ảnh
hưởng với nhau để bòn rút tài sản và bỏ chạy ra ngoài trước khi cả hệ
thống bị sụp đổ. Tôi thiển nghĩ rằng mối nguy lớn nhất trong năm tới nằm
ở đó và một thước đo của mức độ nguy ngập này chính là giá vàng. Đâu
biết chừng vét vàng bỏ chạy là chính sách mà nhiều người có chức có
quyền đánh giá là khôn ngoan hơn cả?
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn kỳ này
Mất một thập niên?
Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2012-12-19
Tiếp tục loạt tổng kết về tình hình kinh tế năm 2012, chúng ta khởi đầu với nền kinh tế giữ vị trí số một của thế giới là Hoa Kỳ với tổng sản lượng trị giá chừng 22% sức sản xuất của toàn cầu.
Những người biểu tình kêu gọi tăng thuế đối
với người giàu có và yêu cầu không cắt giảm an sinh xã hội, Medicare,
và Medicaid trước Federal Building Plaza hôm 06 tháng 12 năm 2012 tại
Chicago, Illinois.
Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, cho đến mấy ngày cuối của năm 2012 đầy biến động này, lãnh đạo của đảng Dân Chủ và Cộng Hoà trong cơ chế Hành pháp và Lập pháp Hoa Kỳ vẫn chưa đạt thỏa thuận về giải pháp ngân sách hầu tránh rủi ro suy trầm kinh tế vì trôi vào một vực thẳm tài chính là khi công chi sẽ giảm và thuế suất sẽ tăng kể từ đầu năm tới. Trong bối cảnh đình trệ kinh tế của toàn cầu mà nhiều người đã cảnh báo, sự kiện đó khiến dư luận phân vân không ít về sự sáng suốt của giới lãnh đạo đệ nhất siêu cường kinh tế. Khi tổng kết về tình hình kinh tế toàn cầu trong năm 2012, ông giải thích thế nào về sự việc này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nếu nhìn trong bối cảnh dài của nhiều thập
niên thì ta không ngạc nhiên về sự thể đó. Hoa Kỳ đang trải qua giai
đoạn chuyển hướng với yêu cầu cải tổ toàn bộ cơ chế chi thu trong cả
chục năm nên sẽ còn gặp nhiều khó khăn làm dư luận bất bình, thất vọng.
Trước hết, như các nền kinh tế công nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật, Hoa Kỳ đã
vay mượn quá sức và đến hồi trả nợ. Thời điểm của việc trả nợ đó bắt đầu
từ cuối năm 2007. Khi xảy ra cách nay đúng năm năm thì người ta lầm hậu
quả là vụ bể bóng đầu tư địa ốc và khủng hoảng tài chính ngân hàng.
Nguyên nhân là đi vay và phải trả nợ vì thế mới bị khủng hoảng và suy
trầm kinh tế. Khi kinh tế bị suy trầm và phải trả nợ cả công lẫn tư,
giới lãnh đạo rơi vào thế kẹt là làm sao vừa trả nợ vừa kích cầu để ra
khỏi nạn suy trầm? Đó là bài toán nan giải của việc phải kích cầu mà
đồng thời thắt lưng buộc bụng, xảy ra cho toàn khối công nghiệp hoá đã
phát triển.
Năm năm sau, là thời điểm hiện nay, Hoa Kỳ và các nước Âu Châu hay
Nhật Bản đang đứng trước sự thể vô cùng bất thường này. Nếu không ý thức
được vấn đề và dứt khoát cải cách, Mỹ sẽ giống như Nhật Bản, là mất toi
một thập niên, tức là phải sau năm năm nữa mới khá hơn. Vì thế, tổng
kết chuyện kinh tế năm nay thì ta vẫn chưa ra khỏi hố nợ như một hố đen
của thiên văn học là khi mà mọi quy luật vận hành bình thường đều ít
công hiệu. Và nếu năm tới kinh tế Mỹ có sụt vào vực thẳm ngân sách như
nhiều người e ngại thì đấy chỉ là liều thuốc đắng để cải thiện tình hình
công chi thu cho năm 2014 và tìm lại nền tảng lành mạnh hơn cho sau
này.
Vũ Hoàng: Trên diễn đàn này của chúng ta, ông nhiều
lần nhắc đến cái hố nợ và còn giải thích vì sao lãnh đạo các nước đều
gặp điều mà ông gọi là "khủng hoảng niềm tin" vì tìm không ra giải pháp
cho một vấn đề bất thường. Tuy nhiên, thính giả của chúng ta có thể ngạc
nhiên là vì sao mà các nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Âu Châu,
chưa nói gì đến Trung Quốc hay Việt Nam, lại để bị trôi vào cảnh nợ nần
như vậy? Ông giải thích thế nào về hiện tượng này?
Có một quy luật gần như là bài kinh tế nhập môn. Đó là người ta thường chỉ thấy "cái được" trong kinh tế mà khó nhìn ra "cái mất", nhiều khi là mặt trái, mặt ẩn và chỉ xuất hiện về sau.Nguyễn-Xuân Nghĩa: Có một quy luật gần như là bài kinh tế nhập môn mà nhiều người ít nhìn ra nên chúng ta đã nói tới và còn phải nhắc lại. Đó là người ta thường chỉ thấy "cái được" trong kinh tế mà khó nhìn ra "cái mất", nhiều khi là mặt trái, mặt ẩn và chỉ xuất hiện về sau.
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Từ ba chục năm nay, chính người dân Mỹ, cả trăm triệu hộ gia đình và doanh nghiệp, đã đi vay liên tục và qua nhiều cách khác nhau, từ thẻ tín dụng đến tài trợ địa ốc hay đầu tư đủ loại. Từ 1.500 tỷ đô la vào năm 1980, gánh nợ tư nhân đó đã tăng gấp bốn trong 20 năm và vượt 6.000 tỷ vào năm 2001, lại còn tăng gấp hai tới đỉnh cao là hơn 13.000 tỷ vào năm 2007. Đấy là phần "được" của giai đoạn lạc quan về sự sung mãn. Cái mất là gánh nợ tích lũy ấy sẽ có ngày đổ.
Sở dĩ như vậy và đây là một trong nhiều lý do giải thích tình trạng lạc quan kéo dài là cả thế giới vui mừng với triển vọng toàn cầu hóa trong một địa cầu thu hẹp. Khi Trung Quốc từ bỏ chế độ tập trung quản lý và bế quan toả cảng để theo kinh tế thị trường từ năm 1979 và 10 năm sau, khi Liên bang Xô viết tan rã rồi sụp đổ, cả khối kinh tế cộng sản cũng cải tổ theo quy luật tự do và mở rộng thị trường hàng hóa, dịch vụ và tài chính cho mọi quốc gia. Vì thế, người ta làm ăn vay mượn dễ dàng, với tiền nhiều và rẻ hơn từ các nền kinh tế đang lên mà thổi lên bong bóng và quên dần nhu cầu trả nợ. Cũng nhìn trong trường kỳ thì ta còn thấy một lý do khác.
Vay mượn quá sức
Một người Mỹ đang mua hàng trên mạng bằng thẻ tín dụng. AFP photo
Vũ Hoàng: Chúng tôi xin nhắc lại hai ý
kiến ông vừa trình bày về lý do hoạn nạn kinh tế của Mỹ, mà hình như
cũng là hoàn cảnh chung của nhiều nước khác, là vay mượn quá sức và lạc
quan về viễn ảnh toàn cầu hóa. Chi tiết về nguyên nhân và thời điểm là
năm 2007 khiến thính giả của chúng ta nhớ lại năm 2007 cũng là khi Việt
Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Khi ấy, diễn đàn này cũng
cảnh báo về nhiều rủi ro bất trắc của toàn cầu hóa và nhắc nhở một yêu
cầu là gia tăng sức nặng của thị trường nội địa và tránh nhiều dao động
của quốc tế. Bây giờ, ông còn nêu ra một lý do khác về những khó khăn
của Hoa Kỳ. Thưa ông, đó là gì vậy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Ta còn nhớ là hơn chục năm về trước, cả thế
giới đã nói đến những hứa hẹn của nền kinh tế tri thức và cuộc cách
mạng về công nghệ tin học. Với lợi thế của thời gian là có dịp nhìn lại
chuyện cũ, mình thấy rằng khoa học kỹ thuật, hay "thuật lý" là chữ tôi
dùng để phiên dịch từ "technology" thay vì dùng chữ "thao tác" ngớ ngẩn
của Trung Quốc, có nâng cao năng suất kinh tế.
Đấy là "cái được" mà ai cũng có thể thấy vì sản xuất ra cùng một
lượng hàng hóa dịch vụ mà tốn ít nhân công hơn và có thể đương đầu với
sự xuất hiện của các nền kinh tế tân hưng của Đông Á với nhân công rẻ
hơn. Cái mất của sự thay đổi là người dân trong các nước tiên tiến dễ bị
thất nghiệp nếu không theo kịp sự đổi thay của thuật lý và nền giáo dục
lẫn cả xã hội phải thi đua để cập nhật với những đổi thay này. Hậu quả
là xáo trộn kinh tế và bất mãn xã hội khi thất nghiệp sẽ nằm ở mức rất
cao trong một giai đoạn khá lâu. Hoa Kỳ đang bị tai họa đó. Mà chưa hết
vì chẳng khác gì khối công nghiệp hoá, nước Mỹ cũng có đổi thay về dân
số.
Vũ Hoàng: Trong những bài toán chồng chất của Hoa Kỳ
để khỏi mất cả một thập niên như ông vừa trình bày, chúng ta còn thấy
một đổi thay khác về dân số. Thưa ông, đó là gì vậy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Các quốc gia công nghiệp hoá đều tiến qua
hình thái kinh tế và xã hội khác, điều ấy có ảnh hưởng đến yếu tố mà
giới kinh tế gọi là "định mệnh", đó là cơ cấu dân số.
Nói chung, trong các xã hội tiên tiến đó, người dân lập gia đình trễ
hơn và có con ít hơn nên về dài thì thành phần ở tuổi lao động, xin hãy
tạm lấy tiêu chuẩn là từ 18 đến 55 tuổi, sẽ ít dần so với tổng số cư
dân. Song song, tiến bộ về thuật lý trong y học và dưỡng sinh cũng kéo
dài tuổi thọ trong các xã hội này. Hậu quả là họ bị hiện tượng gọi là
"lão hóa dân số", với người gia lão đông hơn và cần nhiều dịch vụ và
phúc lợi y tế xã hội lâu dài hơn trong khi tỷ trọng thành phần năng động
về sản xuất và đóng góp cho quỹ phúc lợi ấy sẽ giảm. Nhờ có chính sách
tiếp nhận di dân, là thành phần có sinh suất cao vì đẻ con nhiều hơn,
Hoa Kỳ có dân số tương đối trẻ hơn Nhật Bản và nhiều nước Âu Châu mà
cũng đã bị hiệu ứng của nạn lão hóa dân số. Trung Quốc đi sau mà cũng
gặp định mệnh này do chính sách "mỗi hộ một con" họ ban hành từ 40 năm
trước
Nạn lão hóa dân số
Nạn lão hóa dân số ở Trung Quốc. AFP photo
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Chúng ta sẽ hơi mất công để nhìn ra cùng
lúc hai vế cung cầu của hai khía cạnh sản xuất và tiêu thụ và của hai
lớp dân số, những người năng động từ 25 đến 55 tuổi và giới cao niên
trên 55 tuổi mà có tuổi thọ dài hơn trước. Thành phần năng động bị thu
hẹp sẽ làm giảm năng suất trong địa hạt sản xuất và cũng giảm số cầu về
nhà cửa, xe cộ, v.v... cho cả nền kinh tế. Song song, thành phần cao
niên đông đảo hơn sẽ tiêu thụ ít hơn, ở nhà nhỏ hơn, tiết kiệm nhiều hơn
mà vẫn cần nhiều phí tổn về hưu liễm và sức khoẻ. Tổng hợp lại thì
trong trường kỳ sản lượng kinh tế sẽ giảm, đà tăng trưởng hàng năm không
thể ở mức 5-6% như xưa, với số thất nghiệp cao hơn. Nhật Bản và Âu Châu
có bị tai nạn chậm rãi mà chắc chắn đó, Hoa Kỳ cũng vậy nên sẽ mất
nhiều năm chuyển hướng để thoát xác và trước hết là chấn chỉnh lại việc
chi thu.
Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối, thưa ông, chúng tôi được
biết rằng cuối tuần qua, ông được Phòng Thương Mại Việt Nam tại Oakland
và Vùng Phụ Cận ở miền Bắc California mời lên phát biểu về tình hình
kinh tế Hoa Kỳ. Trong bài phát biểu, ông có trình bày một kết luận tương
đối là khả quan và có thể nói là lạc quan. Ông giải thích chuyện ấy như
thế nào sau khi cho thấy một bức tranh khá u ám của kinh tế Mỹ?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa là sau khi tóm lược về tình hình chung
của thế giới với cái nạn gom tiền trả nợ, tôi nhấn mạnh đến sự khác
biệt. Hoa Kỳ là một quốc gia thống nhất theo thể chế liên bang nên các
cơ chế có thể xoay chuyển chứ không bị phân hóa và tê liệt như Âu Châu.
Thứ hai, Hoa Kỳ năng động biến báo chứ không ù lỳ trì trệ và đình hoãn
cải cách như Nhật Bản trong 20 năm qua. Vì vậy trong khối kinh tế công
nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật, Hoa Kỳ sẽ có hy vọng vượt thoát sớm nhất và thực
tế thì tư doanh Mỹ đã sớm bước qua hướng khác rồi.
Nhờ có chính sách tiếp nhận di dân, Hoa Kỳ có dân số tương đối trẻ hơn Nhật Bản và nhiều nước Âu Châu mà cũng đã bị hiệu ứng của nạn lão hóa dân số.
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Một lý do cụ thể cho giả thuyết lạc quan này là sau năm năm hoạn nạn,
các doanh nghiệp Mỹ đã trả nợ và tích lũy được một khối hiện kim hay
bạc mặt tới cả ngàn tỷ đô la. Trong khi ấy, so với các thị trường khác
thì Mỹ vẫn là nơi đầu tư an toàn và có lời nên tiếp tục đón nhận được
đầu tư hay "tiết kiệm nhập khẩu" của nước ngoài. Khối tư bản dư dôi đó
của tư nhân trong nội địa và quốc tế đang vượt qua mức bội chi ngân sách
của khu vực công quyền, mà mức bội chi ấy sẽ giảm chứ không thể tăng
nữa.
Vì vậy, sau một năm 2013 có nhiều khó khăn không tránh khỏi, tình
hình năm 2014 sẽ khả quan hơn những gì đã thấy từ năm năm qua. Về dài
thì lãnh đạo chính trị xứ này cũng phải ý thức được yêu cầu cải cách đó,
nếu không thì họ sẽ thất cử. Để kết luận, tôi thiển nghĩ là trong trung
hạn từ hai đến năm năm, Mỹ sẽ thoát xác và đấy là lúc ta nên so sánh
với khả năng xoay chuyển của các xứ khác, là điều mình sẽ tìm hiểu trong
mấy kỳ sau.
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.
Bức tranh kinh tế ảm đạm và
năng lực của lãnh đạo Việt Nam

Một góc chợ Đồng Xuân, Hà Nội, ngày 21/12/2012
REUTERS
«Tăng trưởng kinh tế xẹp lép, lạm phát tiếp tục kéo dài,
mô hình phát triển đang bị chỉ trích gay gắt ngay chính trong bộ máy
lãnh đạo : Việt Nam đang trong giai đọan khó khăn ». Trên đây là
nhận định của phóng viên Bruno Philip thông tín viên khu vực châu Á của
báo Le Monde qua bài viết số ra hôm nay (26/12/2012) mang tựa đề « Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng thấp nhất từ 13 năm nay ».
Theo tác giả bài báo, trong những năm 1990, nhiều chuyên gia đã
lạc quan về một tương lai tốt đẹp cho Việt Nam với những dự báo như là
đất nước này sẽ trở thành một « con hổ » mới của khu vực Đông
Nam Á. Thế nhưng, những con số chính thức công bố hôm 24 /12 vừa rồi đã
thừa nhận, trong năm 2012, tăng trưởng kinh tế Việt Nam ở mức thấp nhất
từ 13 năm trở lại đây, chỉ đạt mức 5,3%, không đạt chỉ tiêu chính phủ
đặt ra và còn thấp hơn mức 5,9% của năm 2011. Tờ báo trích dẫn đánh giá
của ông Vũ Đình Anh, Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế Tài chính Việt
Nam : « Tăng trưởng sụt giảm mạnh. Không phải là suy thoái, nhưng các chỉ số như vậy là quá thấp ».
Trong tháng 10 vừa qua, tại Hội nghị Trung ương 6 của đảng Cộng sản
Việt Nam, các lãnh đạo cao cấp nhất đã phải thừa nhận có nhiều sai lầm
trong quản lý kinh tế. Tiếp đó, đầu tháng 11, trước Quốc Hội, đến lượt
thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng phải công khai nhận rằng « tình hình kinh tế vĩ mô không tốt, lạm phát tiếp tục leo thang, nợ xấu ngân hàng chồng chất ».
Tác giả bài viết nhận định, về mặt chính trị, vị thế của người đứng
đầu chính phủ hiện đang rất yếu. Ông đang phải hứng chịu công kích trong
nội bộ Đảng, vấp phải sự đối kháng của chủ tịch nước Trương Tấn San và
tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Trước tình hình như vậy, chính phủ đang phải cố gắng tìm mọi cách
giải cứu các doanh nghiệp, khởi động lại nền kinh tế. Động thái mới nhất
là thông báo hạ lãi suất chỉ đạo xuống 9%, trong lúc lạm phát vẫn tăng ở
mức 7,8%.
Le Monde cũng ghi nhận những vụ bê bối tài chính nổ ra ngay tại những
tập đoàn công nghiệp lớn, con cưng của nền kinh tế, đã khiến Hà Nội
phải đưa ra những chương trình cải cách mang tính sống còn trong năm
2011. Sau vụ Vinashin, chính quyền Việt Nam đang cố lành mạnh hóa hoạt
động của doanh nghiệp Nhà nước. Bằng chứng là một bộ luật trong lĩnh vực
này vừa được thông qua với hy vọng có được minh bạch tài chính trong
hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước.
Le Monde cho rằng, đường lối đổi mới của Việt Nam được khởi xướng từ
giữa những năm 1980 thực chất là việc áp dụng mở cửa kinh tế thị trường
sao chép theo mô hình Trung Quốc.
Tuy nhiên, để kết luận, tác giả bài viết trích dẫn đánh giá của một
chuyên gia thuộc tập đoàn tài chính quốc tế Morgan Stanley Investment
Management : « Các lãnh đạo Việt Nam không có được tầm mức chuẩn bị
cũng như năng lực để đối mặt với nguồn vốn khổng lồ từ nước ngoài đổ vào
Việt Nam trong thập kỷ vừa qua ».
Giáo Hoàng kêu gọi lãnh đạo Trung Quốc tôn trọng tự do tôn giáo
Noel, chủ đề không thể vắng trong các báo Pháp ra hôm nay. Với Le
Figaro, đây là dịp để nói về tự do tôn giáo. Trang nhất của nhật báo
chạy tựa lớn « Tự do tôn giáo- Lời kêu gọi của Giáo Hoàng Benedicto 16 với Trung Quốc ».
Le Figaro chú ý tới trong thông điệp hàng năm Urbi - Orbi nhân lễ
Noel, Đức Giáo Hoàng gửi đến các lãnh đạo cộng sản Trung Quốc lời kêu
gọi tôn trọng tôn giáo.
Theo Le Figaro, hôm qua 25/12, Đức Thánh cha đã gửi đến thế hệ lãnh
đạo mới của Trung Quốc lời kêu gọi hãy đối thoại với 5,7 triệu tín đồ
Công giáo (đây chỉ là con số thống kê chính thức của chính quyền).
Những người Công giáo Trung Quốc đang bị chia rẽ giữa một bên là Giáo
hội chính thống nằm dưới sự chỉ đạo của đảng Cộng sản và một bên là
Giáo hội « thầm lặng » chỉ tuân thủ theo Tòa Thánh Vatican, nhưng lại đang phải chịu đựng sự truy bức thường xuyên của chính quyền.
Le Figaro đặt ra một lọat câu hỏi : Bắc Kinh sẽ phản ứng ra sao về lời cầu chúc công khai gửi đến các vị « tân lãnh đạo
» Trung Quốc của Giáo Hoàng Benedicto 16 trong thông điệp Urbi-Orbi
trong ngày Noel. ? Chế độ Bắc Kinh sẽ nghe lời kêu gọi can đảm và hiếm
hoi về tự do tôn giáo ở Trung Quốc được Giáo Hoàng đưa ra từ ban công
nhà thờ Thánh Saint –Pierre này như thế nào ?
Nguyên văn lời kêu gọi với chính quyền Trung Quốc được Le Figaro trích lại như sau « Cầu
cho vị Vua của hòa bình hãy hướng nhìn về các lãnh đạo mới của nước
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với những trách nhiệm cao đang chờ họ. Tôi
mang rằng đó là trách nhiệm tôn trọng các tôn giáo, sao cho tôn giáo có
thể góp phần vào công cuộc xây dựng một xã hội đoàn kết, vì lợi ích của
nhân dân mình và của thế giới ».
Theo Le Figaro, lời kêu gọi trên sẽ ghi lại trong sách sử của Tòa
Thánh, nhưng Giáo Hoàng, người hiểu quá rõ tình hình tôn giáo ở Trung
Quốc, cũng không trông mong sẽ có sự phúc đáp về chính trị từ phía Bắc
Kinh.
Vẫn trong khuôn khổ đề tài này, Le Figaro có một bài viết khác với hàng tựa : « Bắc Kinh không chịu nới lỏng chi phối người Công giáo ».
Theo bài báo, căng thẳng giữa Vatican và Bắc Kinh không phải là điều
gì mới. Quan hệ ngoại giao giữa hai bên đã bị cắt đứt từ năm 1951. Chỉ
bắt đầu từ năm 2000, hy vọng bình thường hóa quan hệ giữa hai Nhà nước
này mới được khởi động, nhưng con đường có vẻ vẫn còn dài. Nếu như Giáo
Hoàng Benedicto coi hồ sơ Trung Quốc là một trong những ưu tiên thì căng
thẳng giữa Vatican và Bắc Kinh vẫn tiếp tục và thậm chí còn gia tăng
trong năm 2012 bởi những vụ tấn phong các linh mục Trung Quốc.
Chính quyền Bắc Kinh vẫn đặt mọi hoạt động của Công giáo Trung Quốc trong « Hiệp hội những người Công giáo yêu nước
». Hiệp hội này lại nằm trong sự chỉ đạo của Ban tôn giáo trung ương.
Những ai không tuân thủ cơ cấu nói trên đều bị coi là bất hợp pháp.
Chính vì thế mới xảy ra những chuyện như linh mục được chính quyền tấn
phong thì Vatican không công nhận, ngược lại, việc phong chức của
Vatican cho linh mục Trung Quốc thì cũng bị chính quyền phản đối, coi đó
là hành động can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc.
Đối với Le Figaro, sự phát triển cộng đồng Công giáo trong điều kiện như vậy đã làm nảy sinh ra Giáo hội « thầm lặng
». Các con số thống kê chính thức của chính quyền ghi nhận có 5,7 triệu
tín đồ. Tuy nhiên, trên thực tế, con số này có thể lên tới 12 triệu
ngườ,i bởi những tín đồ thuộc giáo hội « ngoài quốc doanh » không được thừa nhận, trong khi họ có ở khắp các tỉnh thành của Trung Quốc.
Chính quyền trung ương vẫn luôn để mắt chăm chú đến mọi hoạt động tôn
giáo. Bắc Kinh vẫn coi tôn giáo là một mối đe dọa tiềm ẩn đối với quyền
lực tuyệt đối của đảng Cộng sản. Bằng chứng, hồi giữa tháng 12, nhật
báo Washington Post đã cho công bố một trích đoạn công văn của chính
quyền đề hồi tháng 5/2011, do tổ chức phi chính phủ ChinaAid có trụ sở
tại Hoa Kỳ cung cấp. Nội dung công văn trên kêu gọi phải đấu tranh « chống
lại các thế lực thù địch ở nước ngoài đang tập trung vào tôn giáo để
xâm nhập đất nước và theo đuổi những mục tiêu chính trị nhằm phương Tây
hóa và chia rẽ Trung Quốc ».
Tờ báo kết luận, như vậy, chính quyền Trung Quốc không hề muốn nới
lỏng việc chi phối toàn bộ của họ với tôn giáo, một vấn đề vẫn còn rất
nhạy cảm.
Tự thiêu, cuộc kháng chiến của người Tây Tạng
Vẫn liên quan đến Trung Quốc, báo Le Monde trở lại với những vụ tự thiêu của người Tây Tạng qua bài phóng sự mang tựa đề « Du hành về miền Tây Tạng bị truy bức, trên con đường của những người tự thiêu ».
Phóng viên của Le Monde đã thực hiện bài phóng sự dài trong một
chuyến đi về Cam Túc, một tỉnh có đông người Tây Tạng sống, để tìm hiểu
về những hành động phản kháng và tuyệt vọng của người Tây Tạng đang ngày
càng nhiều.
Tác giả bài báo đã đến vùng tự trị của người Tây Tạng ở phía nam tỉnh
Cam Túc, nơi từ tháng 10 đến nay đã xảy ra 15 vụ tự thiêu. Điều đặc
biệt, những người tự thiêu đều không phải các sư sãi. Họ, những người
thế tục bình thường, là những nông dân và cả vài học sinh. Tác giả kể
lại, tại một làng nhỏ nằm cách không xa thị trấn Amchok, một người nông
dân chăn nuôi 35 tuổi đã để lại lá thư tuyệt mệnh trước khi tự thiêu tại
khu vực mỏ vàng ở cách nhà anh vài cây số. Lá thư cầu mong cho Đức Đạt
Lai Lạt Ma trở về, cầu mong cho Ban Thiền Lạt Ma, một vị chức sắc cao
thứ 2 của Phật giáo Tây Tạng bị Bắc Kinh bắt giữ từ nhỏ, sớm được trả tự
do, và anh còn cầu mong người ta chấm dứt bóc lột tài nguyên của người
Tây Tạng nữa….
Đó chính là nguyện vọng và cũng là nguyên nhân dẫn đến các vụ tự
thiêu của người Tây Tạng được bùng lên từ năm 2008, sau khi những cuộc
biểu tình của họ khắp vùng bị dập tắt trong bạo lực.
Để lý giải cho những hành động tuyệt vọng của người Tây Tạng, tác giả
trích dẫn bài viết của ông Vương Lực Hùng, một trí thức Trung Quốc
nghiên cứu về những vấn đề Tây Tạng. Từ năm 2000, ông đã kêu gọi chính
quyền Bắc Kinh đối thoại với Đạt Lai Lạt ma. Ông cũng đã nhận thấy
người Tây Tạng rơi vào tuyệt vọng bởi họ luôn cảm thấy bị tước đoạt mọi
thứ, từ văn hóa, tôn giáo đến kinh tế. Học giả Vương Lực Hùng viết : « Nếu người Tây Tạng có được những phương cách cho phép bày tỏ sự bất bình một cách bình thường
thì họ sẽ sử dụng. Năm 2008, họ đã xuống đường biểu tình, nhưng chính
quyền Trung Quốc dẹp phong trào đó. Họ chuyển sang phản kháng cá
nhân.Thế nhưng, một cá nhân kêu gào đơn lẻ với khẩu hiệu hay phân phát
truyền đơn sẽ có tác dụng rất yếu và họ sẽ bị bắt ngay lập tức. Chỉ có
cách tự thiêu thì những người đó mới tạo sự khác biệt và từ đó tự thiêu
trở thành một hành động phản kháng có hiệu quả nhất ». Theo nhà
nghiên cứu này thì giờ đây, mọi người Tây Tạng đã nhận thấy tác động của
hành động tự thiêu và ngày càng có nhiều người tìm đến phương cách phản
kháng này.
Để ngăn chặn làn sóng tự thiêu, chính quyền Bắc Kinh gần đây đã đưa
ra những biện pháp trừng phạt mới hà khắc hơn đối với người tự thiêu
cũng như người hỗ trợ hành động này. Tuy nhiên các biện pháp như vậy chỉ
có tác dụng tạm thời.
Qua các làng mạc, thôn xóm ở tỉnh Cam Túc, nơi làn sóng đã rộ lên
trong tháng trước, tác giả cảm thấy một không khí ngột ngạt của sự kiểm
soát của các lực lượng an ninh ở khắp mọi nơi. Các camera theo dõi được
đặt trong các khu phố chính của thị trấn và trước từng lối vào các ngôi
chùa. Nhân viên an ninh chìm nổi rải khắp nơi.Tối đến sau 22 giờ là lệnh
giới nghiêm, người Hán ra đường thì không sao, nhưng bất kỳ người Tây
Tạng nào ra khỏi nhà là bị theo dõi, kiểm tra giấy tờ. Người dân trong
vùng lân cận khu tự trị Tây Tạng rất khó đến được Lhassa vì mạng lưới
kiểm tra kiểm soát gắt gao và phải có một đống giấy thông hành khác nhau
do chính quyền cấp.
Đe dọa, theo dõi là những việc làm thường trực trong khắp các vùng có
người Tây Tạng sinh sống, người ta có thể bị công an địa phương bắt đi
bất cứ lúc nào và bất kỳ ở đâu. Nhưng những cố gắng của chính quyền vẫn
không thể dập tắt làn sóng ngầm phản kháng của người Tây Tạng. Các vụ tự
thiêu cũng như gia đình của người tự thiêu vẫn nhận được sự ủng hộ về
tinh thần cũng như vật chất của người dân trong vùng, trong đó có cả
những người không phải dân Tây Tạng, thậm chí của cả một số công chức
chính quyền.
Cuộc kháng chiến của người Tây Tạng đang ngày càng được ghi nhận là
một cuộc đấu tranh vì tự do. Hành động tự thiêu của cá nhân là vì tự do
cho mọi người khác.
Tunisia: Tài sản gia đình Ben Ali được đem đấu giá
Mục kinh tế của báo Libération hôm nay dành một bài viết đáng chú ý
về cuộc triển lãm bán đấu giá khối tài sản xa hoa của gia đình cựu tổng
thống độc tài Tunisia, Ben Ali, bị nhân dân vùng lên lật đổ trong cuộc
cách mạng Mùa xuân Ả Rập.
Hội chợ chưa từng có này bắt đầu từ hôm Chủ nhật (23/12) bày bán một
phần trong số đồ dùng xa hoa của gia đình nhà Ben Ali vơ vét của nhân
dân trong thời gian cai trị đất nước, bị chính quyền mới tịch thu.
Người ta thấy trong các mặt hàng được bày bán có từ hàng chục chiếc
xe loại siêu sang với giá từ vài trăm nghìn đến cả hàng triệu đô la của
các thành viên gia đình nhà Ben Ali, đến những vật dụng xa xỉ hàng ngày
của vợ chồng con cái nhà Ben Ali như giầy, túi xách, đồng hồ, tranh
tượng trang trí, thảm …. Đây mới chỉ là một phần rất nhỏ trong số tài
sản của nhà Ben Ali bị chính quyền mới tịch thu.
Dự kiến hội chợ bán đấu giá này sẽ thu về khoảng 10 triệu đô la. Số
tiền này sẽ được xung vào ngân sách Nhà nước dành cho phát triển các
vùng. Như vậy là sau 2 năm lật đổ ben Ali, người Tunisia bước đầu thu
hồi lại những gì họ bị bóc lột trong chế độ độc tài.



No comments:
Post a Comment