Sunday, September 16, 2012

TIN TỨC VÀ BÌNH LUẬN VỀ VIỆT NAM


 Việt Nam tuần qua
Chính phủ Việt Nam lại mở thêm một đợt trấn áp mới nhắm vào giới bloggers và các trang blog “lề trái”.
Screen capture
Một bài viết chỉ trích trang blog "Quan làm báo" trên trang http://nguyentandung.org
Trong một văn bản đăng tải trên trang web chính phủ hôm thứ Tư 12 tháng 9, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các cơ quan chức năng điều tra và xử lý các tổ chức, cá nhân đăng tải thông tin chống Đảng và Nhà nước.
Văn bản của Văn phòng chính phủ cho biết là, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo Bộ Công an phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng phải tập trung điều tra và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân đăng tải thông tin thuộc dạng “lề trái” như các trang thông tin điện tử “Dân làm báo”, “Quan làm báo”, “Biển Đông”…

Cấm blog “lề trái”

dan-lam-bao-250.jpg
Giao diện trang blog Dân Làm Báo ngày 12/09/2012. RFA photo.
Về lý do “xử lý” các trang blog này, chỉ thị của Thủ tướng chính phủ nêu rõ: “Các trang mạng trên đã đăng tải thông tin vu khống, bịa đặt, xuyên tạc nhằm bôi nhọ bộ máy lãnh đạo, chống Đảng và nhà nước Việt Nam”. Ngoài chuyện phải “xứ lý” các trang blog này, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng yêu cầu các lãnh đạo địa phương không được xem, không sử dụng và phổ biến các thông tin trên các trang mạng được xem là “phản động” trên.
Phản ứng trước quyết định trấn áp mới này của chính phủ Việt Nam, giới viết blog trong nước đã ngay lập tức lên tiếng phản đối.
Trả lời Thanh Quang của Đài Á Châu Tự Do, từ Hà Nội, blogger Nguyễn Hữu Vinh bày tỏ:
“Tôi nghĩ rằng văn bản thông báo có những trang này trang khác phổ biến những thông tin bịa đặt, xuyên tạc nhằm mục đích này, mục đích kia thì nói như thế là không phù hợp.
Bởi vì vấn đề là các trang mạng đó nếu đưa lên những nội dung không chính xác, thì hẳn độc giả người ta biết những cái gì đúng và những gì sai.
Nói rằng những trang đó đưa lên những vấn đề bịa đặt, xuyên tạc, do các nhóm thù địch này khác, thì tôi nghĩ điều đó phía chính quyền phải có trách nhiệm, có trách nhiệm ở chỗ là tại sao những thông tin gọi là thù nghịch, những thông tin gọi là bịa đặt như vậy thì được mọi người xem?
Blogger Nguyễn Hữu Vinh
Điều nói rằng trang blog này trang mạng kia nói đúng hay là không đúng thì tôi nghĩ độc giả Việt Nam sẽ có nhận xét tốt hơn và chính những người đó sẽ đánh giá chính xác.
Điều thứ hai là nói rằng những trang đó đưa lên những vấn đề bịa đặt, xuyên tạc, do các nhóm thù địch này khác, thì tôi nghĩ điều đó phía chính quyền phải có trách nhiệm, có trách nhiệm ở chỗ là tại sao những thông tin gọi là thù nghịch, những thông tin gọi là bịa đặt như vậy thì được mọi người xem?
Nếu Việt Nam thực sự có tự do hoàn toàn, có được tự do báo chí, truyền thông để người dân nắm bắt những thông tin trung thực thì rõ ràng những trang kia không có chỗ đứng, bởi vì hơn 700 tờ báo nhà nước đã đáp ứng được nhu cầu thông tin của người dân.
Nhưng ngược lại, nếu nhà nước không đáp ứng được thông tin của người dân thì là vấn đề khác.
Nói cụ thể, nếu văn phòng thủ tướng chính phủ đã đưa văn bản như vậy thì chính họ phải chứng minh được chỗ nào đúng, chỗ nào sai, sự thật ở chỗ nào, là như thế nào, thì điều đó hầu như người dân không nghe đến. Mà khi người dân không được nghe thì người ta phải tìm đến một con đường khác thôi.”

Nguyên nhân của lệnh cấm?

quanlambao091212-250.jpg
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trên trang mạng Quan Làm Báo. RFA file photo.
Cũng theo ông Nguyễn Hữu Vinh, việc chính phủ qui chụp cho trang web này đưa thông tin độc hại, trang blog kia loan truyền các thông tin phản động là không cần thiết và không còn phù hợp với xu thế truyền thông xã hội hiện nay. Theo lập luận của blogger Nguyễn Hữu Vinh thì trong thời truyền thông xã hội ngày nay, độc giả, thính giả, khán giả có lẽ là những người biết rõ nhất đâu là thông tin độc hại, đâu là thông tin bổ ích. Ông nói:
“Tôi thấy điều này khá hài hước. Hài hước tức là chỉ đạo người ta không xem, không tuyên truyền này khác thì tôi nghĩ rằng điều đó hơi lạ. Làm gì có chuyện anh có thể ngăn chặn những người có tư cách công dân của họ, họ có quyền cần thông tin, cần tự do ngôn luận, tự do này khác của họ.
Vậy thì vấn đề là anh phải làm sao đó để người ta nhận thức được rằng những thông tin mà anh chỉ trích là không đúng sự thật, còn thông tin của anh là đúng sự thật. Chứ không thể nói chuyện ngăn chận thông tin như thế được. Bởi vì cái não trạng của anh cách nào đó là của thế kỷ thứ 19 chứ không phải của thế kỷ 20 hay 21 như bây giờ.
Điều đó tôi cảm thấy rất lạ. Sao lại có chuyện cấm người ta tiếp cận thông tin? Họ phải có quyền tiếp cận thông tin, nhưng nếu thông tin nào không đúng thì người ta sẽ loại bỏ. Chứ làm gì có chuyện chỉ đạo người nọ, người kia không xem, không này khác thì tôi cho đó chỉ là chuyện hài hước thôi.”
Và cũng nhanh nhạy không kém gì khi đưa tin về các vấn đề thời sự của đất nước, các trang blog bị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu tên yêu cầu “xử lý” đã nhanh chóng phản bác lại các lập luận cho rằng họ loan tin vu khống, bịa đặt, và phản động.
Sao lại có chuyện cấm người ta tiếp cận thông tin? Họ phải có quyền tiếp cận thông tin, nhưng nếu thông tin nào không đúng thì người ta sẽ loại bỏ.
Blogger Nguyễn Hữu Vinh
Trong một văn bản phổ biến cho độc giả cũng như các cộng tác viên, những người chủ trương trang blog “Dân Làm Báo” kêu gọi….
"Danlambao không chấp nhận và khuất phục trước mọi hành động bịt mồm, bịt mắt, bịt tai của bất kỳ nhà nước, đảng cầm quyền nào. Không ai có quyền phán xét và tự quyết định những gì mà công dân Việt Nam được đọc, nghe và trao đổi.
Do đó, Danlambao sẽ tiếp tục cung cấp thông tin và quan điểm đa chiều của mọi thành phần nhân dân, tạo diễn đàn để chính dân “độc giả” chúng ta tự làm tin, tự thông tin, tự đại diện cho cái nhìn, quan điểm của chính mình, tự cất tiếng nói về những vấn đề chúng ta quan tâm trong đời sống."
Sự kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các cơ quan chức năng phải “xử lý” các kênh thông tin “lề trái” diễn ra trong bối cảnh nhiều scandal tài chính – ngân hàng, các tập đoàn quốc doanh liên tiếp xảy ra tại Việt Nam, càng khiến cho công luận đặt ra nhiều câu hỏi về lý do thực chất của lệnh cấm này???
Hầu như tất cả các trang blog nằm trong danh sách cần “xử lý” của thủ tướng chính phủ đều là các trang thông tin đi đầu trong việc loan tải tin tức nhanh nhạy nhất về các vụ bê bối này, đi kèm là các chi tiết về các mối liên hệ với cá nhân cũng như gia đình các quan chức cao cấp trong Đảng và chính phủ Việt Nam.
Và điều thú vị là nếu trong thời gian các vụ bê bối xảy ra tại Việt Nam, các trang blog này đã thu hút được một lượng người xem đáng kể, thì lệnh “xử lý” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hôm thứ Tư 12 tháng 9 lại càng làm cho số người vào đọc các tin này tăng vọt.
Theo các thống kê chưa đầy đủ, chỉ một ngày sau lệnh của thủ tướng chính phủ, đã có thêm hàng chục ngàn lượt người vào xem các trang blog này, trong đó có cả độc giả trong nước, ngoài nước và thậm chí là người nước ngoài quan tâm đến tình hình Việt Nam.

Dự luật Nhân quyền

hoang-khuong-250.jpg
Trang web của Phóng viên Không Biên giới đăng tin "4 năm tù vì tố cáo cảnh sát nhận hối lộ" đi kèm với ảnh nhà báo Hoàng Khương. Screen captured by RFA.
Lệnh trấn áp giới bloggers của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không những thu hút sự quan tâm của dư luận, mà còn một lần nữa đánh động thế giới về tình trạng độc quyền thông tin tại Việt Nam. Như một sự trùng hợp ngẫu nhiên, văn bản “xử ký” các trang blog phản động của Thủ tướng Việt Nam được ban hành chỉ không đầy một ngày sau khi Hạ viện Hoa Kỳ thông qua Dư luật Nhân quyền cho Việt Nam với đa số tuyệt đối, trong đó lên án chính phủ Hà Nội ngày càng gia tăng việc bắt giam, sách nhiễu và ngăn cấm các tiếng nói đối kháng trên mạng internet.
Đây là một sự khích lệ đối với những người đang đấu tranh dành tự do dân chủ cho đất nước.
LM Phan Văn Lợi
Phát biểu tại diễn đàn Hạ viện Hoa Kỳ trước khi biểu quyết thông qua Dự luật hôm thứ Ba 11 tháng 9, nhiều nhà lập pháp Mỹ đã lớn tiếng tố cáo tố cáo chính sách vi phạm nhân quyền của Việt Nam, lên án việc lợi dụng những luật lệ mơ hồ như điều 79, điều 88 trong bộ luật hình sự để bắt giữ, giam nhốt những người bất đồng chính kiến, những người bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa trên internet.
Và cũng như những lần trước, dự luật nhân quyền Việt Nam của Hạ viện Mỹ đã gặp phải sự phản đối của chính phủ tại Hà Nội nhưng lại được giới tranh đấu trong nước hoan nghênh đón nhận.
Nếu tại Hà Nội, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Lương Thanh Nghị cho rằng dự luật Nhân quyền cua Hạ viện Mỹ đã dựa trên những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người Việt Nam; thì từ Huế, Linh mục Phan Văn Lợi – một thành viên của Khối Dân Chủ 8406 cho rằng:
“Sau khi Hạ Viện của Hoa Kỳ đưa ra dự luật Nhân quyền cho Việt Nam, các nhà đấu tranh dân chủ trong nước và các phong trào đấu tranh hết sức vui mừng, và xin cám ơn quý vị dân biểu trong Hạ Viện. Đây là một sự khích lệ đối với những người đang đấu tranh dành tự do dân chủ cho đất nước.”

Thủy điện Sông Tranh 2?

dap-250.jpg
Đập thủy điện Sông Tranh 2. File photo.
Và cuối cùng, nên hay không nên tiếp tục đưa công trình thủy điện Sông Tranh 2 vào sử dụng giữa lúc xảy ra nhiều trận động đất liên tục, đe dọa đến sinh mạng của hàng trăm ngàn người dân trong khu vực? Cho đến thời điểm này, đây vẫn còn là câu hỏi bỏ ngỏ. Vì trong lúc Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN cho rằng đập thủy điện Sông Tranh bảo đảm các yếu tố an toàn và cho tiếp tục tích nước để vận hành; thì chính quyền tỉnh Quảng Nam đã công khai lên tiếng phản đối.
Tuần này, đích thân Bí thư tỉnh ủy Quang Nam, ông Nguyễn Đức Hải đề nghị chấm dứt sự họat động của thủy điện Sông Tranh 2 nếu công trình này không an toàn cho người dân.
Chúng tôi có ý kiến là, làm gì thì làm phải tuyệt đối an toàn trước đã, an toàn tính mạng của nhân dân.
Ô. Nguyễn Thế Tài
Theo Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Đức Hải, với những gì đã xảy ra trong thời gian gần đây, muốn an dân thì cần phải hy sinh công trình này. Ông Hải cũng đề nghị các nhà khoa học và các cơ quan chức năng cần tập trung làm rõ để công khai với người dân Quảng Nam.
Quan điểm của Bí thư tỉnh ủy Quảng Nam đã nhanh chóng nhận được sự đồng tình của các giới chức địa phương tại nơi có công trình thủy điện Sông Tranh 2.
Trả lời Nam Nguyên của Đài Á Châu Tự Do tối 13/9, ông Nguyễn Thế Tài, bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân Huyện Bắc Trà My phát biểu:
“Chúng tôi có ý kiến là, làm gì thì làm phải tuyệt đối an toàn trước đã, an toàn tính mạng của nhân dân. Hôm qua (12/9) cấp ủy đã họp rồi, đã có ý kiến của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và sẽ chờ kết luận của Trung ương.”
Trước những thực tế đang xảy ra, có lẽ đây là một chọn lựa rất khó khăn cho những nhà làm chính sách của Việt Nam; giữa một bên là hy sinh một công trình mà chính phủ đã phải đầu tư đến hơn 5 ngàn 2 trăm tỉ đồng; và bên kia là mối đe dọa đến sinh mạng của hàng ngàn cư dân trong vùng
 http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-weekly-review-show-87-09152012135106.html


 


Liệu có khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam? (phần 1)

2012-09-14
Thực trạng một nền kinh tế với các khoản nợ xấu ngân hàng chồng chất, bất động sản đóng băng và nhất là niềm tin của người dân và các nhà đầu tư nước ngoài giảm sút trước sự bất ổn của Chính phủ Việt Nam, nhiều lời đồn đoán rằng Việt Nam sẽ rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế.
RFA file
Các ngân hàng tại Việt Nam (minh hoạ)

Tải xuống - download

Nguyên nhân

Ngay sau vụ bắt giữ Nguyễn Đức Kiên, một nhà tài phiệt trong giới ngân hàng Việt Nam, như giọt nước làm tràn ly, nhiều nhà bình luận cả trong nước lẫn quốc tế cho rằng nguyên nhân dẫn đến tình trạng khó khăn hiện tại của Việt Nam chính là do sự bất ổn chính trị.
Ngay trong bản tin hôm 27/8, AFP với tiêu đề “tranh đoạt quyền lực trên con thuyền kinh tế chơi vơi” trích nguồn từ bài viết của công ty Stratfor nhận định rằng vụ bắt giữ ông Kiên cho thấy có một “cuộc tranh giành quyền lực trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng” và rằng “mối quan ngại to lớn hơn nằm ở nguy cơ bất ổn chính trị… việc bắt giữ Nguyễn Đức Kiên có thể mang ý nghĩa của sự bất hòa ngày càng gia tăng giữa những nhân vật ở thượng tầng và các phe phái chính trị.”
Đồng thời, bản tin AFP cũng trích lời một cựu đại biểu quốc hội Việt Nam rằng “chưa bao giờ xã hội Việt Nam đối diện với nhiều chuyển biến đến thế, những chuyển biến làm yếu đi nền lãnh đạo của đảng Cộng Sản và đe dọa toàn bộ chế độ chính trị.”
Theo quy luật sự ổn định về mặt chính trị luôn là nhân tố chủ chốt bao trùm lại toàn bộ đời sống xã hội, kinh tế, phúc lợi… của một quốc gia, khi có sự đấu đá trong hàng ngũ lãnh đạo, thì đó cũng là lúc cả xã hội và nền kinh tế dù trực tiếp hay gián tiếp, thông qua các chính sách vĩ mô cũng sẽ phải hứng chịu những hệ lụy không thể tránh khỏi. Và điều

Ông Nguyễn Đức Kiên, một nhà tài phiệt trong giới ngân hàng Việt Nam
Ông Nguyễn Đức Kiên, một nhà tài phiệt trong giới ngân hàng Việt Nam. AFP
này được minh chứng khá rõ tại Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên, mà hàng loạt những vụ bê bối về kinh tế lớn ở Việt Nam thời gian qua đều xuất phát hoặc có dính dáng tới Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, châm ngòi là vụ Vinashin và đỉnh điểm là vụ bắt giữ bầu Kiên, khiến hàng loạt các trang blogs trong nước cũng như các tổ chức truyền thông nước ngoài có chung nhận định khi sự tập trung quyền hành quá lớn vào tay một người là Thủ tướng, cộng với sự bất đồng trong hàng ngũ chóp bu, thì phần chìm của tảng băng đã bị mang ra “hành quyết.”
Và điều gì đến sẽ phải đến, đó là “khủng hoảng lòng tin” của người dân vào sự ổn định chính trị bị lung lay, nhận xét về điều này, T.S Vũ Ngọc Xuân, giảng viên chính khoa Kinh tế trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết:
"Nghiêm trọng nhất là khủng hoảng niềm tin, vừa rồi một số vụ liên quan đến vụ bắt giữ một số nhân vật được cho là đại gia trong lĩnh vực ngân hàng ảnh hưởng tới tâm lý thị trường.
Ở Việt Nam hay tuân theo tin đồn, gần đây một số tin đồn xuất hiện trên blogs, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào ổn định chính trị, một số tin đồn liên quan đến việc đấu đá chính trị cấp cao, ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống tài chính."
Theo T.S Xuân phân tích, hệ thống tài chính, nơi cung cấp tiền bạc và tín dụng cho nền kinh tế bị xáo trộn, người dân dồn dập rút tiền khỏi ngân hàng và chuyển những khoản tiết kiệm này sang kênh vàng, không đầu tư hay tiết kiệm nữa.
Điều nguy hiểm là, trong bối cảnh nợ xấu ngân hàng tăng cao chưa có thuốc chữa, ngân hàng thiếu tính thanh khoản, thì cùng lúc dòng vốn lại bị người dân rút khỏi “huyết mạch” kinh tế, khi không đủ vốn thì hàng loạt ngân hàng lại quay sang rút tiền khỏi các công ty đầu tư chứng khoán.
Và cái vòng luẩn quẩn thiếu vốn, thiếu tiền cộng với các khoản nợ xấu, đang biến hệ thống ngân hàng, tài chính Việt Nam vốn đang ở thời kỳ cực thịnh chỉ một vài năm trước, nay bước vào “ cơn bĩ cực.”
Nghiêm trọng nhất là khủng hoảng niềm tin, vừa rồi một số vụ liên quan đến vụ bắt giữ một số nhân vật được cho là đại gia trong lĩnh vực ngân hàng ảnh hưởng tới tâm lý thị trường
TS Vũ Ngọc Xuân

Dấu hiệu khủng hoảng

Thời kỳ “cực thịnh” kia của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, khiến người ta liên tưởng lại giai đoạn tín dụng được Việt Nam bơm ra ào ạt.
Trong bản tin của AFP hôm 27/8 nhận xét rằng, sau khi mở cửa kinh tế, quyền lực chuyển dần từ Đảng Cộng Sản sang tay Chính phủ, mà cụ thể là vào tay của Thủ tướng Dũng khi ông lên nắm quyền năm 2006.
Trong thời kỳ sung mãn, bằng mọi giá để đánh đổi lấy sự tăng trưởng, tín dụng đã được bơm ra mạnh mẽ, khiến kinh tế Việt Nam liên tục được ca ngợi như một hình mẫu của sự tăng trưởng với hơn 7%.
Nhưng rồi, giờ đây khi mất đi đà tăng trưởng, người ta mới thấy rõ những mặt tiêu cực trong chính sách phát triển quá nóng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng tại Việt Nam không chỉ đến từ rủi

Các Tập đoàn cột trụ của kinh tế quốc gia.
Các Tập đoàn cột trụ của kinh tế quốc gia.RFA file
ro của hệ thống tài chính mà nó còn được thể hiện ở dòng vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam sụt giảm, tính đến đầu tháng 8, nguồn vốn trực tiếp đã giảm đến hơn 1/3 so với cùng kỳ năm ngoái. Ngoài những lý do như bất ổn kinh tế, cơ sở hạ tầng yếu kém hay tiền lương nhân công tăng cao thì sự bất ổn trong đời sống xã hội tại Việt Nam cũng là một nguyên nhân. Tiếp tục phân tích, T.S Vũ Ngọc Xuân nói tiếp:
"Mối lo ngại nhất của các nhà đầu tư là sự bất ổn liên quan đến chính trị, vấn đề chính trị ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế.
Bây giờ hầu hết mọi người là nghe ngóng thông tin xem có vấn đề gì không, có nhiều đồn đoán đến có sự can thiệp chính trị từ bên ngoài, vấn đề Biển Đông cũng gây sự chú ý lớn của dư luận trong nước, người ta lo ngại một cuộc chiến tranh trên Biển Đông chẳng hạn, những điều này ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước, họ không an tâm đầu tư lâu dài tại Việt Nam."
Mối lo ngại nhất của các nhà đầu tư là sự bất ổn liên quan đến chính trị, vấn đề chính trị ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế
TS Vũ Ngọc Xuân
Trên cả 2 khía cạnh, sức mạnh nội tại của nền kinh tế (hệ thống tài chính ngân hàng) lẫn những động lực bên ngoài để kích thích sự tăng trưởng (dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài), Việt Nam đều đang đối mặt với nhiều trở ngại ít nhiều có liên quan đến bất ổn và chia rẽ bè phái trong tầng lớp chính trị tại Việt Nam.
Tuy nhiên, với câu hỏi nguyên nhân nào dẫn tới những tiềm ẩn bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam hiện nay, T.S Ngô Trí Long, một chuyên gia tài chính trả lời khái quát rằng:
"Hiện nay Việt Nam căn bệnh gọi là trầm kha rất cố hữu mà ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô là năng suất, chất lượng hiệu quả còn rất thấp, tham nhũng chưa triệt được tận gốc, những tiềm năng bất ổn kinh tế vĩ mô rất lớn".
Một trong ba lý do lớn dẫn tới sự bất ổn kinh tế Việt Nam mà T.S Ngô Trí Long nhận xét đó chính là vấn đề tham nhũng. Điều này cũng giải thích tại sao trong Nghị quyết TW Đảng lần thứ 4, vấn đề tham nhũng được đặt lên làm trọng tâm đối với hơn 3 triệu đảng viên tại Việt Nam.
Nhắc đến đây, làm chúng tôi nhớ lại lời G.S Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam của Học viện Quốc phòng Australia nhận định “chủ tịch nước Sang và Tổng Bí thư Trọng đang lặp đi lặp lại một điệp khúc cũ nhưng chính xác rằng tham nhũng là một trong những thách thức lớn nhất đối với tính chính danh của chế độ độc đảng ở Việt Nam.”
Hơn nữa, ông Thayer còn nói thêm “một trận tranh đấu phe phái đã bắt đầu” và “trận địa chính là cải cách kinh tế bao gồm khu vực nhà nước và khu vực ngân hàng và triệt tiêu tình trạng tham nhũng ở mức độ lớn đã ăn sâu vào hệ thống chính trị.”
Phải chăng với một sự bất ổn chính trị, đấu đá phe cánh đến hồi cao trào cộng với sự bất bình của công chúng đối với các quan chức tham nhũng đang là nguyên nhân châm ngòi nổ có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam.
Trong phần sau của loạt bài này, chúng tôi sẽ gửi tới quý vị ý kiến của các chuyên gia về dự đoán này.

Theo dòng thời sự:

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/will-vn-eco-cris-09142012104327.html

 

 Liệu có khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam? (phần 2)
2012-09-15
Tiếp tục loạt bài về liệu sẽ có khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, trong phần 2 của bài sẽ tổng hợp ý kiến của một số chuyên gia và giảng viên kinh tế về vấn đề này.

RFA
Chi nhánh ngân hàng Bảo Việt tại Hà Nội.

Mới đây, trong bản tin của hãng Bloomberg trích dẫn lời ông Đinh Tuấn Minh, một thành viên của nhóm tư vấn chính sách kinh tế vĩ mô của Quốc hội và đồng tác giả của “Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012” rằng, Việt Nam có thể cần đến cứu trợ quốc tế để tạo quỹ “tái cấu trúc hệ thống ngân hàng” nhằm giải quyết nợ xấu khổng lồ cho hệ thống này. Cùng thời điểm này, trong cuộc họp Thượng đỉnh APEC tại Nga, Tổng thống Indonesia Susilo Yudhoyono cho biết các thành viên của ASEAN cũng như bản thân Indonesia sẽ sẵn sàng giúp Việt Nam vượt qua “khủng hoảng” để không cần cứu trợ từ IMF. Với những thông tin như vậy, cộng với khả năng phục hồi kinh tế chậm chạp cũng như triển vọng không mấy sáng sủa trong thời gian trước mắt, nhiều lời đồn đoán cho rằng Việt Nam có thể bước vào ngưỡng của một cuộc khủng hoảng kinh tế.

Tùy vào cải cách của chính phủ

cac-ngan-hang-tai-viet-nam-250.jpg
Các ngân hàng tại Việt Nam (minh hoạ). RFA file.
Tuy nhiên, để khẳng định có hay không một cuộc khủng hoảng là một câu hỏi không dễ trả lời, vì có rất nhiều tác nhân quyết định đến khái niệm “khủng hoảng”. Ở một số quốc gia thì khủng hoảng bắt nguồn từ hệ thống tài chính ngân hàng hoặc bắt đầu bằng tình trạng bong bóng địa ốc; trong khi đó ở quốc gia khác thì khủng hoảng lại bắt đầu từ sự bất ổn chính trị, chiến tranh hoặc quốc gia mất khả năng trả nợ quốc tế. Khái niệm khủng hoảng kinh tế ở mỗi quốc gia mang những đặc tính khác nhau, dựa trên những yếu tố như lạm phát, tốc độ tăng trưởng, cán cân thanh toán, dòng tiền lưu thông trong nền kinh tế của nước mình. Tại Việt Nam, nếu có một cuộc khủng hoảng kinh tế thì cũng sẽ mang “màu sắc” khác bởi thể chế chính trị cũng như khả năng can thiệp của Chính phủ vào điều hành nền kinh tế ở mức độ khác với các nước từng trải qua khủng hoảng trong khu vực. Chúng tôi liên hệ với TS Lê Đăng Doanh, nguyên viện trưởng Viện quản lý Kinh tế Trung ương để tìm hiểu về khả năng có xảy ra một cuộc khủng hoảng tại Việt Nam hay không, TS Doanh cho biết:
“Việc có khủng hoảng hay không thì đó là điều mà trong giới học thuật cũng như trong giới chính trị cho đến nay chưa có kết luận, cho nên tôi chưa muốn nói gì đến chuyện gì đến việc đó.”
Tình hình kinh tế năm tới phụ thuộc rất nhiều vào hành động cải cách của Chính phủ, nếu không có những hành động cải cách kiên quyết có hiệu quả thì tình hình khó có khả năng cải thiện.
TS Lê Đăng Doanh
Mặc dù không trả lời thẳng liệu có hay không một cuộc khủng hoảng, nhưng TS Doanh cho biết khả năng nền kinh tế Việt Nam vẫn còn rất nhiều khó khăn và kinh tế có cải thiện được hay không còn tùy thuộc vào các chính sách điều tiết của Chính phủ với các biện pháp cải cách kiên quyết, ông nhận xét:
“Tình hình kinh tế năm tới phụ thuộc rất nhiều vào hành động cải cách của Chính phủ, nếu không có những hành động cải cách kiên quyết có hiệu quả thì tình hình khó có khả năng cải thiện. Phải cải cách cả bộ máy, cả thể chế, phải cải cách đầu tư công, doanh nghiệp Nhà nước và hệ thống ngân hàng.”
Trong thời gian qua, Việt Nam đã nhiều lần nhắc tới việc phải tái cấu trúc nền kinh tế và ngay TS Lê Đăng Doanh cũng đã lên tiếng cho rằng Việt Nam cần phải có một sự đổi mới kinh tế lần 2 theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu để phù hợp với tình hình kinh tế hiện tại. Mặc dù đề án tái cấu trúc đã được giao cho Bộ Kế hoạch Đầu tư chủ trì thực hiện, nhưng đề án này đã bị hoãn lại cho đến năm sau.

Không cần vay vốn

cac-tap-doan-cot-tru-cua-kinh-te-quoc-gia-250.jpg
Các Tập đoàn cột trụ của kinh tế quốc gia. RFA file.
Tuy nhiên, ở góc độ vay nợ quốc tế để cứu trợ cho các khoản nợ xấu của hệ thống ngân hàng như một số chuyên gia cảnh báo, TS Vũ Ngọc Xuân, giảng viên chính khoa Kinh tế trường ĐH Kinh tế Quốc Dân cho rằng khả năng đó rất khó xảy ra tại Việt Nam do dự trữ ngoại hối của Việt Nam vẫn ở mức an toàn, cũng như sự ổn định của tỷ giá giữa đồng nội tệ và đồng đô la Mỹ. TS Xuân cho biết: “Nhìn chung khả năng khủng hoảng của Việt Nam mà cần đến các tổ chức tài chính quốc tế cứu trợ như IMF, World Bank thì điều đó rất khó có khả năng xảy ra. Điều đó chỉ có thể xảy ra nếu Việt Nam có sự bất ổn liên quan đến chính trị, gây ra khủng hoảng niềm tin thì sẽ cần đến sự cứu trợ của các tổ chức quốc tế.
Cho nên Việt Nam mặc dù khó khăn nhưng vẫn không cần đến sự cứu trợ của các tổ chức quốc tế.
TS Vũ Ngọc Xuân
Nhưng với tình hình dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện nay, cũng như sự ổn định tỷ giá giữa đồng VN và đồng USD thì khả năng đó rất là thấp. Cho nên Việt Nam mặc dù khó khăn nhưng vẫn không cần đến sự cứu trợ của các tổ chức quốc tế.”
Mặc dù không cho rằng những bất ổn chính trị có thể là ngòi nổ cho một cuộc khủng hoảng kinh tế, TS Nguyễn Quang A nhận xét tương lai kinh tế Việt Nam sẽ vẫn còn có những trở ngại nếu chừng nào chưa có sự xác định rõ ràng vai trò của Đảng Cộng sản, chưa phân định được rõ ràng vai trò của Nhà nước và vai trò của khối các doanh nghiệp làm kinh tế, TS Quang A bình luận:
“Tôi nghĩ rằng chừng nào Đảng Cộng sản Việt Nam chưa thay đổi đường lối của mình, chừng nào họ chưa có một nhìn nhận rất rõ là việc gì là việc của nhà nước và việc gì là việc của các doanh nghiệp mà vẫn còn lẫn lộn như thế thì tôi nghĩ rằng tình hình kinh tế khó có khả năng sáng sủa hơn.”

Không hẳn

hang-hoa-chat-dong-250.jpg
Hàng hóa chất cao trong một siêu thị ở Hà Nội hôm 11/6/2012. RFA photo
Nếu nhìn vào các chỉ số kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn gần đây có thể thấy tình hình đã có những cải thiện, nhưng chưa nhiều, tốc độ tăng trưởng nửa đầu năm ở mức 4.4% so với mức ban đầu 6.5%, số lượng các doanh nghiệp khai phá sản hoặc ngừng nộp thuế vẫn tăng cao, những rủi ro của bất ổn vĩ mô vẫn lớn. TS Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương thừa nhận bản thân nội tại của nền kinh tế vẫn còn những khó khăn nhưng khả năng dẫn đến một cuộc khủng hoảng thì không có. Ông nhận xét: “Vẫn thừa nhận là rủi ro bất ổn vĩ mô vẫn còn và có một số vấn đề thí dụ như nợ xấu trong hệ thống ngân hàng khá là nghiêm trọng, thứ hai là tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đang tăng chậm lại, nền kinh tế còn rất nhiều khó khăn về các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhưng đến mức Việt Nam không thể xử lý được mình thì tôi nghĩ nó không hẳn như vậy.
TS Võ Trí Thành
Nếu mà nói có nguy cơ xảy ra khủng hoảng hay không thì trong bối cảnh kinh tế hiện nay của thế giới và khu vực cũng còn rất nhiều khó khăn thì kinh tế Việt Nam cũng khó khăn và nội tại kinh tế của Việt Nam cũng có nhiều khó khăn. Nhưng đến mức Việt Nam không thể xử lý được mình thì tôi nghĩ nó không hẳn như vậy.”
Ngoài ra TS Võ Trí Thành cũng cho biết theo dự báo có thể nền kinh tế Việt Nam năm tới sẽ khá hơn một chút, dần dần vượt qua được những khó khăn với những biện pháp quyết liệt từ cấp vĩ mô, theo đó các hướng cải cách sẽ tập trung mạnh vào hệ thống ngân hàng, khối doanh nghiệp Nhà nước và đầu tư công.
Xin được nhắc lại, trong ngày 13/9, khi trả lời TTXVN, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng khẳng định với điều kiện kinh tế vĩ mô, Chính phủ Việt Nam sẽ không có nhu cầu vay vốn của IMF cũng như của các nước ASEAN + 3 để xử lý các vấn đề trong nước, Thủ tướng nhận định Việt Nam đã bắt đầu đã có những dấu hiệu tích cực trên các mặt như tài khoản vãng lai, dự trữ ngoại hối, xuất nhập khẩu…
Có thể nói, với những dấu hiệu cả tiêu cực lẫn tích cực mà nền kinh tế Việt Nam đang thể hiện, cộng với bức tranh sáng tối đan xen của nền kinh tế toàn cầu, rất khó để kết luận Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ khủng hoảng với việc vay vốn cứu trợ của các tổ chức quốc tế để giúp giải quyết nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Bất kỳ một kết luận nào được đưa ra hiện tại chắc chắn sẽ cần phải có thêm thời gian để tìm hiểu và nghiên cứu.

 


Chủ nghĩa cộng sản: một thế giới viễn mơ

2012-09-15
Nguyễn Chí Đức, từng là một sinh viên năng nổ tham gia vào ĐCSVN với những tâm huyết tuổi trẻ vừa viết đơn xin ra khỏi ĐCSVN. Năm 2010, tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ yêu cầu bỏ học thuyết Mác-Lê và tuyên bố đốt thẻ Đảng. Liệu đây là một trong những biểu hiện cho thấy lý thuyết cộng sản không áp dụng được trong thực tế?

AFP photo
Một cửa hàng bán hàng tuyên truyền chính trị có cả chân dung của nhà lãnh đạo cộng sản Karl Max, Lenin tại Hà Nội hôm 01 tháng 2 năm 2012

Quỳnh Chi hỏi chuyện ông Lữ Phương, lý luận gia Marxist và là nhà nghiên cứu chính trị về đảng Cộng sản Việt Nam. Nói về việc xin ra khỏi ĐCSVN của Nguyễn Chí Đức, ông Lữ Phương nhận xét:

Tuyệt vọng từ lâu

Lữ Phương: Đây thực sự chỉ là một hình thức công khai mà thôi, nghĩa là khi có điều kiện thích hợp thì nó bộc lộ ra. Nhưng theo tôi hiểu bên trong có rất nhiều đảng viên (ĐCSVN) chính thức thì chưa ra nhưng họ đã bỏ hoàn toàn những sinh hoạt vì họ mất hoàn toàn niềm tin; không còn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng có thể đưa đất nước đi lên. Cuối cùng thì tôi nghĩ những người có lương tri đều từ bỏ ĐCSVN hết thôi. Nó khác hẳn một thời khác.
Quỳnh Chi: Thế thì điểm khác nhau nhất giữa giai đoạn mà người ta bắt đầu tham gia vào ĐCSVN cách đây 70-80 chục năm chẳng hạn so với giai đoạn sau này là gì?
Cuối cùng thì tôi nghĩ những người có lương tri đều từ bỏ ĐCSVN hết thôi.
Ô. Lữ Phương
Lữ Phương: Trước đây, thời kỳ giành độc lập dân tộc thì Đảng là một đảng rất mạnh, được tin tưởng, hòa vào cùng khát vọng dân tộc là đòi hỏi một đất nước có độc lập chủ quyền và trên cái độc lập đó xây dựng một xã hội mới. Đó là một lý tưởng, là một viễn cảnh mà các đảng viên (ĐCSVN) tham gia hy sinh tranh đấu. Nhưng khi thời kỳ đó chấm dứt, chuyển sang xây dựng hòa bình thì đường lối lãnh đạo (của ĐCSVN) hoàn toàn đi ngược lại, hầu như phủ nhận hoàn toàn lý tưởng đó.
Quỳnh Chi: Như ông đã nói, lúc tham gia vào ĐCSVN, người ta đều có một lý tưởng là mang đến một điều tốt đẹp cho đất nước. Tuy nhiên, bây giờ đường lối của ĐCSVN lại đi theo một hướng khác (như ông nói) thì những thế hệ tham gia tranh đấu cho đất nước như các ông chẳng hạn, có thấy thất vọng không?
Lữ Phương: Rất nhiều trí thức đã tuyệt vọng từ lâu rồi. Từ sau năm 1954 và sau khi giải phóng rồi thì nó biểu hiện thấy rõ như vụ Văn Nhân Giai Phẩm chẳng hạn; nhưng vì tình hình đất nước vẫn còn chiến tranh, thế này thế khác cho nên người ta phải chịu thôi. Do chính quyền còn đó nên sự phản ứng của trí thức vẫn cứ tiếp tục dưới nhiều hình thức. Cho đến ngày nay nó cũng chỉ là tiếp tục của những gì từ những ngày đầu thôi chứ không có gì lạ cả.

Lý thuyết không tưởng

P1200759-200.jpg
Anh Nguyễn Chí Đức. Photo courtesy of nguyenxuandien'sblog
Quỳnh Chi: Một số người cho rằng những thất bại trong đường lối của ĐCSVN (như trong kinh tế, tham nhũng, và các chính sách xã hội) đã chứng minh rằng chủ thuyết cộng sản rất đẹp về lý thuyết nhưng khi đưa vào thực hiện trong thực tế thì lại không được như vậy. Là một người am hiểu về lý thuyết chủ nghĩa cộng sản, ông suy nghĩ thế nào? Lữ Phương: Tôi thấy nếu nói rằng chủ nghĩa cộng sản mà đẹp thì nó không phải đẹp về lý thuyết mà về sự không tưởng của nó, tức là một thế giới viễn mơ, một ước mong, một khát vọng, một sự tưởng tượng về tương lai. Nhưng có những thời kỳ, cái đó (lý thuyết cộng sản) có tác động đến thực tế, nó hỗ trợ cho những cuộc tranh đấu thực tiễn.
Nguyên nhân chính người ta vào Đảng là thực tiễn chẳng hạn như vấn đề yêu nước hay công bằng xã hội. Cái lý thuyết không tưởng kia nó “chấp” vào để tạo cho người ta một động lực để hy sinh phấn đấu. Lúc đầu người ta chưa có điều kiện để kiểm chứng thực tiễn đó thế nào. Sau khi giành được độc lập dân tộc thì họ bắt đầu đem lý thuyết đó (cộng sản) ra thực hiện. Trước thực tế thì lý thuyết không tưởng bộc lộ hết cái sự tàn khốc của nó ra.
Quỳnh Chi: Đảng Cộng sản Việt Nam hiện vẫn kiên định với đường lối đi lên XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI (tháng 01-2011) cũng tiếp tục khẳng định điều này. Một số người đặt câu hỏi là “Liệu Việt Nam có tới được XHCN không?” Theo ông thì “tới” hay không?
Tôi thấy nếu nói rằng chủ nghĩa cộng sản mà đẹp thì nó không phải đẹp về lý thuyết mà về sự không tưởng của nó, tức là một thế giới viễn mơ, một ước mong, một khát vọng, một sự tưởng tượng về tương lai.
Ô. Lữ Phương
Lữ Phương: Tôi đã nói từ rất lâu rồi là không có cái gọi là CNXH mà là CNXH Marxist. Bởi CNXH là một khái niệm rộng, có nhiều xu hướng khác nhau. Nhưng cái CNXH mà các đảng CS hiện thực từ Liên Xô đến Trung Quốc, Việt Nam đang làm là hoàn toàn không có cái gọi là CNXH. Đó là cái “phản CNXH”. Không có con đường nào đi lên “phản CNXH” cả. Nếu người ta muốn tìn một CNXH thì có một CNXH khác để đi lên chứ không phải thứ CNXH này.
Quỳnh Chi: Ông có thể nói rõ hơn?
Lữ Phương: Đứng về mặt lý thuyết, tư tưởng thì người ta có rất nhiều quan niệm khác nhau. Mô hình này, mô hình khác… rất nhiều tư tưởng của những triết gia và đem ra thực hiện. Vấn đề đặt ra là “anh” thực hiện nó như thế nào. Về quyền tự do thì “anh” cứ đưa ra đường lối đó nhưng “anh” phải thực hiện bằng con đường dân chủ. Còn cái CNXH hiện thực nó không thực hiện bằng con đường dân chủ mà bằng áp bức, bạo lực, trấn áp… cái đó là đi ngược hoàn toàn xu hướng thế giới và không thể nào tồn tại được.
Quỳnh Chi: Văn phòng Chính phủ vừa thông báo ý kiến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc điều tra, xử lý những trang web được cho là “có nội dung chống Đảng và Nhà nước”. Một số người cho rằng việc này đi ngược lại vấn đề “phê bình và tự phê bình” – được xem là một trong những nguyên tắc của ĐCSVN. Ông nhận xét thế nào?

000_Hkg6874181-250.jpg
Người dân đi bộ qua một tấm bảng tuyên truyền kỷ niệm 82 năm ngày Thành lập ĐCS Việt Nam tại Hà Nội hôm 30 tháng 1 năm 2012. AFP photo.
Lữ Phương: “Phê và tự phê” từ xưa đến giờ là một trò hề, chẳng có gì nghiêm chỉnh cả. Nó chỉ là hình thức chứ không phải thực tế. Việc làm này của ông Nguyễn Tấn Dũng là một hình thức trấn áp. Việc tự phê bình không tác dụng gì cả nên phải bộc lộ hết thực chất bên trong là biện pháp trấn áp. Quỳnh Chi: Một số nguồn tin chưa kiểm chứng cho rằng đang có sự cạnh tranh và đấu đá nhau trong Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ông thấy có chuyện đó không?
Lữ Phương: Việc đấu tranh giành quyền lực trong nội bộ Đảng là việc triền miền từ xưa đến giờ dưới nhiều hình thức ngay cả trong thời kỳ chưa có chính quyền. Ở những nước dân chủ thì sự “đấu đá” quyền lực được biểu hiện công khai trên báo chí, nghị trường, xã hội. Nhưng ở những nước cộng sản thì việc đó không được không khai bày tỏ ra nên cuộc “đấu đá” diễn ra âm thầm trong nội bộ nhiều khi rất tàn khốc. Nếu nói đang diễn ra thì nó chỉ là một hình thức mới trong giai đoạn mới thôi.
Quỳnh Chi: Xin cám ơn ông đã chia sẻ.


Theo dòng thời sự:

Việt Nam: con hổ khốn cùng

2012-09-14
Với ít ỏi triển vọng cải tổ có ý nghĩa, nền kinh tế sẽ còn lung lay thêm nữa.
National Geographic photo
Cô hổ cái Bengal có bầu được cứu và thả sau khi chạy về làng, bị dân làng Ấn Độ bắt và đánh đập

Cơn ác mộng

Những tuần lễ vừa qua là cả một cơn ác mộng cho giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam, những người tự hào là đã đem lại ổn định chính trị và kinh tế cho 90 triệu người dân Việt.
Những ngân hàng bị khách đổ xô tới rút tiền, những giám đốc bỏ trốn, bị bắt giam, khủng hoảng tín dụng bùng nổ với số lượng cao hơn nhiều năm từ trước tới nay cộng lại.
Cơn sốt cao độ khiến phó thống đốc ngân hàng trung ương hồi cuối tuần trước, (rồi đến Thủ tướng chính phủ vào tuần này), phải vội vã bác bỏ tin đồn chính phủ hỏi vay tiền của Quỹ tiền tệ quốc tế để tránh phá sản. Chỉ một nhóm chuyên viên của IMF xuất hiện ở thủ đô Hà Nội cũng có vẻ như gây nên sự chao đảo niềm tin.
Tuy nhiên sự khó chịu gần đây nhất thực sự phát khởi từ hôm 20 tháng 8 với vụ bắt giam ông Nguyễn Đức Kiên, một doanh gia thích khoa trương, sáng lập viên Ngân hàng  thương mại cổ phần châu Á, ACB, một trong những ngân hàng  lớn nhất trong nước.
Tuy ông Kiên đã rời khỏi Hội đồng quản trị ngân hàng từ năm ngoái, vụ bắt giam với những cáo buộc mơ hồ gọi là “kinh doanh bât hợp pháp” cũng đủ khơi mào cho việc rút tiền ồ ạt, kèm theo một thời kỳ lao dốc của thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
vn-index
Chỉ số VN-Index năm 2012- uel.edu photo
Niềm tin càng lung lay khi Tổng giám đốc ACB lại bị bắt tiếp theo, với cáo buộc “sai phạm trong quản trị kinh tế”.
Báo "The Economist" viết tiếp: Toàn bộ sự kiện nhắc cho giới đầu tư rằng sau nhiều năm quản trị kém cỏi và cho vay bừa bãi, các ngân hàng Việt Nam rơi vào tình cảnh tuyệt vọng, và nạn tham nhũng cùng lãng phí đã tràn ngập nền kinh tế.
Đó chẳng phải là điều bí mật gì, nhưng trong những vie con số gọi là “được nhìn nhận” đó.

Bế tắc tại Hà Nội

Thế là niềm tin vào kinh tế Việt Nam, nhất là của giới đầu tư phương Tây, bắt đầu đổ vỡ. Lượng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) vào Việt Nam, lên tới 8 tỉ đô la  trong 7 tháng đầu của năm, giảm 1 phần ba so với 1 năm trước đó. Nhật Bản là nước chiếm phân nửa toàn mức đầu tư từ nước ngoài.
Cố gắng lạc quan, một số doanh gia trong nước ca ngợi Ngân hàng Trung ương về việc ít ra cũng đã nhìn nhận con số đáng buồn về nợ xấu – mà trong quá khứ không ai coi là chuyện đương nhiên. Tương tự, họ cũng nói việc bắt ông Kiên chứng tỏ quyết tâm mới của chính phủ trong việc trừng trị những hành động quá đáng.
Thực ra, những vụ bắt giữ và sa thải những nhân vật “nổi” đã xảy ra nhiều trong năm nay. 9 nhân viên quản trị của Vinashin bị tuyên án, người nặng nhất là 20 năm tù, sau khi tập đoàn đại công ty đóng tàu và là một trong những xí nghiệp Nhà nước lớn nhất từng chi phối nền kinh tế, gần phá sản với mối nợ 4 tỉ rưỡi đô la.
Người đứng đầu một xí nghiệp khổng lồ khác, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, bị sa thải sau khi tập đoàn này lỗ hơn 1 tỉ vào năm ngoái. Trong tháng này công an cũng bắt giam nguyên giám đốc công ty Nhà nước vận tải đường biển Vinaline, người đã  bỏ trốn từ tháng ba sau một vụ điều tra tham nhũng ở công ty.
Giữa bối cảnh đó, một nhà đầu tư lâu năm ở Việt Nam biện giải vụ bắt ông Kiên “nhìn chung thì vẫn là tích cực và cần thiết”, và là chỉ dấu cho thấy xu hướng chống tham nhũng bắt đầu có trớn.
Những nhà phân tích khác tỏ ra hoài nghi hơn, nói rằng những vụ bắt bớ ít liên quan đến chiến dịch chống tham nhũng, mà liên quan nhiều hơn đến hậu quả của một cuộc tranh giành quyền lực ở thượng từng kiến trúc của đảng Cộng sản, đặc biệt là giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Nhóm quản trị Vinashin và Nguyễn Đức Kiên có mối liên kết chặt chẽ với vị thủ tướng, và sự suy sụp của họ làm giảm vị thế của ông Nguyễn Tấn Dũng.
Hơn thế nữa, nhà kinh tế độc lập Nguyễn Quang A đưa ra lý luận rằng mặc dù những vụ bắt bớ đó quả có là “điềm” báo trước một chiến dịch phối hợp để loại trừ những “ông chủ” tham nhũng, nhưng nó cũng khó lòng chạm đến bề mặt của những vấn đề kinh tế có cội rễ sâu xa của Việt Nam.

Khu vực ung nhọt

Vẫn theo bài báo "Vietnam: a tiger at bay", vị trí đầy ưu quyền của các xí nghiệp Nhà nước- chiếm 40% sản lượng quốc gia- là nơi chịu trách nhiệm chính yếu cho tất cả những vụ hối lộ, lạm dụng tài nguyên, cùng với nạn chi tiêu như điên dại, đã kéo Việt Nam xuống dốc.
Giới quản trị ngoại quốc cho rằng làm ăn ở Việt Nam là cả một cơn ác mộng.
Nhà kinh tế Nguyễn Quang A cho rằng toàn hệ thống cần được thay đổi, không phải chỉ đem nhốt một số người vào tù là xong.
Giống như tại Trung Quốc, những người Cộng Sản bám chặt lấy các xí nghiệp quốc doanh như một phương tiện để giữ quyền kiếm soát chính trị trên nền kinh tế.
Tuy nhiên điều đó có nghĩa là những tay quản trị có mối liên kết chính trị nhưng kém khả năng lại có quyền dựng nên những “đế quốc” lan tràn ăn cánh với nhau – điển hình là những công ty taxi, những ngân hàng, khách sạn… và còn nhiều hơn nữa – tất cả đều chẳng đem lại lợi ích gì về kinh tế. 
inventory-250
Lượng tồn kho cao: sản xuất kém khả quan- Vietnam Economic Forum photo
Hệ thống ấy chỉ làm giàu một số ít “chủ nhân” nhưng đã chất chồng lên những công ty quốc doanh kia hằng đống nợ nần mà rốt cuộc chính phủ phải gánh vác.
Nhưng mới năm ngoái đảng Cộng Sản vẫn còn nhắc lại lời khẳng định như đinh đóng cột rằng khu vực quốc doanh phải nằm giữ “vai trỏ chủ đạo” trong nền kinh tế.  Không nơi nào mà đảng Cộng sản tỏ ra quyết tâm dùng quyền lực chính trị để kiểm soát hơn là khu vực quốc doanh.
Năm nay chính quyền hung hăng đàn áp những tiếng nói đối lập một cách bất thường, nhất là đối với những người kêu gọi thêm dân chủ.
Đặc biệt là các blogger, bị tách riêng và gắn lên những án tù nặng nề vì “tội tuyên truyền chống lại Nhà nước”.
Hành vi ấy khó có thể được coi là cung cách của một chính phủ có ý hướng cải tổ hệ thống.

 

No comments: