Saturday, September 6, 2008

NGUYỄN THIÊN THỤ *TỐ HỮU (1920-2002)

Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, biệt danh là Lành, sinh ngày 4-10-1920, quê làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên ( Huế), tốt nghiệp bằng Thành Chung. Ông hoạt động trong phong trào dân chủ, và trở thành người lãnh đạo phong trào này ở Huế. Những bài thơ đầu tiên sáng tác trong khoảng 1937-1938. Tháng 4 năm 1939 ông bị Pháp bắt giam tại các nhà tù Trung Kỳ và Cao nguyên. Tháng 3-1942, ông vuợt ngục Đắc Lay, rồi hoạt động bí mật tại Thanh Hóa. Năm 1945 ông làm chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên Huế. Từ đó ông trở thành nhân vật quan trọng trong hàng ngũ lãnh đạo cộng sản. Năm 1980, ông làm Phó Thủ tướng đặc trách kinh tế, năm 1982 vào bộ Chính trị, nhưng vì những thất bại kinh tế, nhất là vụ đổi tiền Việt Nam, năm 1986, ông mất chức và trở nên bất mãn. Chức vụ sau cùng là phái viên trung ưong đảng cộng sản Việt Nam. Ông ở tại 76 Phan Đình Phùng, Hà Nội, mất ngày thứ hai 9-12-2002, thọ 82 tuổi, được chôn tại Mai Dịch là nghĩa trang dành cho các nhân vật quan trọng của đảng.
Tác Phẩm:
Thơ: -Từ Ấy ( 1946) -Việt Bắc (1954)
-Gió Lộng (1961) -Ra Trận (1972)
-Máu và Hoa (1977) -Một Tiếng Đờn (1992)
Tiểu Luận: -Xây Dựng Một Nền Văn Nghệ Lớn Xứng
Đáng Với Nhân Dân Ta, Thời Đại Ta (1973).
-Cuộc Sống Cách Mạng và Văn Học Nghệ Thuật (1981)
Dịch thơ:
-Đợi Anh Về (1998)




Ông là người lãnh đạo văn học nghệ thuật , vừa làm giám khảo, vừa là thí sinh, đã được các giải thưởng:
- Giải nhất văn học của hội Văn Nghệ Việt Nam (1954-1955)
- Giải thưởng văn học Asian (1996)
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt 1, 1996).
Về vai vế trong hàng ngũ cộng sản, Tố Hữu là một tay lãnh đạo văn học nghệ thuật . Về tài năng, ông cũng là một trong những nhà thơ xuất sắc của cộng sản Việt Nam. Ông đã nổi tiếng thơ hay trước 1945. Giai đoạn trước 1945, thơ ông phần lớn là thơ bí mật, có hai mục tiêu là chống bất công xã hội ( Chiều, Hai cái chết, Tiếng hát sông Hương,Vú em, Mồ côi, Hai đứa bé, Đi đi em. . .). và chống Pháp ( Đi tây, Lao Bảo, Trưa tù, Châu Ro, Ba tiếng.. .). Sau 1945, thơ của ông phần lớn xuất hiện trên báo chí. Thơ của ông và thơ văn của Hồ Chí Minh trở thành sách dạy chính trị và Việt văn để nhồi sọ thanh thiếu niên mọi lớp.



A. THƠ TUYÊN TRUYỀN

Trước và sau 1945, thơ Tố Hữu thủy chung như nhất là lối thơ tranh đấu, thơ tuyên truyền của cộng sản. Điểm trước tiên ông tuyên truyền cho chủ nghĩa Marx là một chủ nghĩa ngoại lai, xa lạ với người Việt Nam trong thập niên 1945. Ông tuyên truyền một cách nồng nhiệt, cho rằng chủ nghĩa cộng sản là '' chân lý'', là một vườn Eden:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,
Mặt trời chân lý chói qua tim.
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim. ( Từ ấy)


Ông cũng như những người cộng sản đầu tiên đã vẽ ra một thiên đường để mê hoặc những kẻ nhẹ dạ. Ông đưa ra những lời đường mật khuyến dụ các hạng người trong xã hội. Ông cho rằng xã hội cộng sản là một xã hội công bình, dân chủ, nhân đạo, và đày đủ cơm no áo ấm cho mọi người. Ông tô hồng chuốt lục cho chủ nghĩa cộng sản bên Nga:
Nơi không vua không quan,
Không hạng người ô uế.
Không hạng người nô lệ
Sống đau xót lầm than.
Nơi tiêu diệt lòng tham,
Không riêng ai của cải.
Hàng triệu người thân ái
Cùng chung sức chung làm.. . ( Hai cái chết)
Ông bảo cô gái giang hồ trên sông Hương rằng khi cộng sản chiến thắng, đất nước sẽ không còn nạn mãi dâm:
Ngày mai bao lớp đời dơ,
Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay
(Tiếng hát sông Hương)


Ông cũng như Karl Marx, Engels, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp không xuất thân giai cấp vô sản nhưng khoác tấm áo vô sản, giả dạng dân nghèo. Thơ của ông nhắm tố cáo xã hội cũ. Ông nỗ lực đào sâu mâu thuẫn xã hội và hố sâu giai cấp
Hai đứa kia sống dưới hai trời,
Chỉ khác bởi không cùng nhau một tuổi.
Đứa vui sướng là đứa con nhà chủ,
Và đứa buồn con mụ ở làm thuê! ( Hai đứa bé)
Ông gây căm thù giai cấp và kêu gọi đấu tranh giai cấp:
Nuôi đi em cho đến lớn đến già,
Mầm hận ấy trong lòng xương ống máu. (Đi đi em)


Thơ của Tố Hữu chỉ là những lời tuyên truyền giả dối vì sau khi nắm quyền, cộng sản lại tạo ra nhiều giai cấp, mà bọn lãnh tụ chính là một giai cấp mới, giai cấp thống trị và bóc lột. Nay thì tư sản đỏ có tài sản lớn, sống huy hoàng, trong khi dân chúng vẫn đói khổ, phải bán thân qua Đài Loan, Cao Miên. Dân nghèo vẫn nghèo, con cái của họ vẫn thất học và đói khổ. Tệ nạn mãi dâm phát triển dưới nhiều hình thức bia ôm, karaoké ôm, tắm ôm. . . không những còn tồn tại trên sông Hương mà lan rộng khắp mọi nơi trong nước:

Chiều chiều trên bến Ninh Kiều,
Sau lưng tượng bác đĩ nhiều hơn dân!
Ông là một người cộng sản cực đoan. Trong khi đa số cộng sản hoạt động âm thầm, hoặc mang bộ mặt hiền hòa dù là giả tạo, ông công khai hô hào thanh niên đập phá và chém giết, thù hận. Theo ông, thanh niên phải làm cách mạng, nghĩa là đi theo cộng sản, là đấu tranh bằng võ lực:
-Không! Chúng ta không ở chốn này,
Này phá! Dô ta! Này ta phá! ( Hầm người)
-Đứng lên đi! Hỡi tuổi trẻ xung phong,
Sóng cách mạng đang gầm rung thế giới. ( Ý xuân )

Chủ nghĩa cộng sản chủ trương dùng bạo lực :
Nhân loại cầu xin ánh mặt trời,
Nhân loại trườn lên trên biển máu.(Xuân nhân loại)
Ông đi theo đường lối cộng sản quốc tế, chủ trương dùng màu máu để thay thế màu xám của xã hội cũ:
Cho tôi hiến cuối cùng cho suối máu,
Để nhuốm hồng bao cảnh xám bi ai! (Lao Bảo)


Sau 1945, Tố Hữu đã trở thành một lãnh tụ đảng, đặc trách văn hóa. Tiếng nói của ông, thơ của ông trở thành khuôn vàng thước ngọc cho đường lối văn học nghệ thuật cộng sản Việt Nam. Thơ ông lúc này càng mạnh mẽ tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản, hô hào nhân dân thi hành các đường lối, chính sách của đảng. Trong Xây Dựng Một Nền Văn Nghệ Lớn Xứng Đáng với Nhân Dân Dân Ta, với Thời Đại Ta( 1973), ông viết:
Chúng ta phải chống khuynh hướng tách rời văn nghệ và chính trị, tách rời sáng tác và công tác, khuynh hướng chia đôi con người văn nghệ thành con người công dân và con người nghệ thuật, khuynh hướng tôn sùng bản năng, khinh thường trí tuệ, khuynh hướng cho rằng kỹ thuật quyết định hết thảy (35).


Nói chung, thơ của Tố Hữu là theo khuynh hướng văn nghệ cộng sản chủ nghĩa, luôn ca tụng cộng sản dù thực tế cộng sản xấu xa tàn ác. Đó là chủ trương của cộng sản quốc tế như đã trình bày trong phần truớc.
Là nhà thơ cộng sản, tất nhiên Tố Hữu tỏ ra gần gũi, thân thiết với quảng đại quần chúng. Tuổi trẻ, ông muốn hòa nhập cùng đại chúng theo tinh thần vì dân, cho dân nhưng lúc đó mấy ai biết sau này cộng sản nắm quyền lại khủng bố đàn áp mọi tầng lớp nhân dân:


Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi.
Để hồn tôi với bao đau khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

Tôi đã là con của vạn nhà,
Là anh của vạn kiếp phôi pha,
Là anh của vạn đầu em nhỏ,
Không áo cơm cù bất cù bơ. . .( Từ ấy)


Trong thơ ông, ta thấy hình ảnh của bầm, Lưọm, mẹ Suốt. . Thơ ông là thơ ca tụng đảng, tuyên truyền đường lối, chủ trương của cộng sản, luôn dán nhãn hiệu nhân dân:
Nhân dân là bể,
Văn nghệ là thuyền.. .
Buồm là lao động
Gió là đảng ta ( Lời đề tập Việt Bắc)


Trong giai đoạn chống Pháp, thơ của ông chủ yếu ca tụng cuộc kháng chiến chống Pháp để động viên tinh thần binh sĩ và quần chúng. Ông ca tụng tình quân dân cá nuớc:
Tôi ở Vĩnh Yên lên,
Anh trên sơn cuớc xuống.
Gặp nhau lưng đèo khe,
Bóng tre trùm mát rượi.
Anh là Vệ quốc quân
Tôi là thằng cán bộ
Hai đứa mỏi nhừ chân
Nghỉ ngơi ngồi một chỗ.
Gặp nhau mới lần đầu
Họ tên nào có biết
Anh người đâu, tôi đâu
Gần nhau là thân thiết.. . .( Tình cá nước)
Ông hô hào dân chúng phá đường trong chính sách phá hoại giao thông kinh tế địch:
Rét Thái Nguyên, rét về Yên Thế
Gió qua rừng đèo Khế gió sang
Em là con gái Bắc Giang
Rét thì mặc rét, nước làng em lo. . .
. . .Đêm nay gió rét trăng lu
Rộn nghe tiếng cuốc chiến khu phá đường. . .
Thằng Tây mà cứ vẩn vơ
Cái hố này chờ chôn sống mày.
Ớ anh ớ chị nhanh tay
Nhanh tay ta cuốc chôn thây quân thù.
( Phá đường )
Thơ ông là gương mẫu cho lối thơ ca tụng các trận đánh như trận Điện Biên Phủ:
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Chiến sĩ anh hùng
Đầu nung lửa sắt
Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi,
ngủ hầm,mưa dầm, cơm vắt.
. . . . . . . . . .
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt, còn ôm
Những bàn tay xẻ núi lăn bom
Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến
trường tiếp viện.
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)

Sau 1954, đất nước ta bị chia cắt, cộng sản lăm le cướp nửa phần còn lại. Tinh thần chống Mỹ thể hiện rõ rệt trong thơ Tố Hữu. Phần lớn thơ này lời rất điêu luyện, giọng điệu hăng say:
-Ta đi tới, không thể gì chia cắt
Mục Nam Quan đến bãi Cà Mâu.
Trời ta chỉ một trên đầu
Bắc Nam liền một biển. ( Ta đi tới)

-Có thể nào nguôi,từng viên đạn Mỹ,
Bắn miền Nam, nát thịt da xương tủy,
( Có thể nào yên?)
-Trắng khăn tang em chẳng khóc đâu
Hỡi em gái mất cha mất mẹ.
Nước mắt rơi làm nhòe mặt quân thù
Em phải bắn trúng đầu giặc Mỹ.
. . . . . . . . .
Lịch sử muốn bay cúi đầu nhận lỗi
Dưới gươm thiêng hùng khí thủ đô.
Cả bốn biển hoan hô Hà Nội,
Pháo đài bay rụng đỏ mặt hồ.(Việt Nam, máu và hoa)
Tố Hữu lớn tiếng công kích, chửi mắng đế quốc Mỹ:
Oa sinh tơn
Buổi hoàng hôn
Ôi những linh hồn
Còn, mất
Hãy cháy lên, cháy lên sự thật
Giôn xơn
Tội ác bay chồng chất
Cả nhân loại căm hờn
Con quỷ vàng trên mặt đất
. . . . . . . .
Mắc Na Ma Ra
Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma?
Của tòa nhà năm góc
Mỗi góc, một châu
Mày vẫn chui đầu
Trong lửa nóng
Như đà điểu rúc đầu trong cát bỏng
( Emily, con)


Một đặc điểm khác của Tố Hữu là nhiệt thành ca tụng lãnh tụ. Và đây cũng là nét chung của các nhà thơ sống dưới chế độ cộng sản: Muốn sống, muốn có lương thực thì ít nhất trong đời cũng phải có một bài thơ suy tôn 'bác'. Ông ca tụng Hồ Chí Minh trong phần lớn các bài thơ :
-Dù ai rào dậu ngăn sân,
Lòng ta vẫn giữ là dân cụ Hồ...
. . . Lòng ta không giới tuyến,
Lòng ta chung một cụ Hồ
Lòng ta chung một thủ đô,
Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam. ( Ta đi tới)


-Vui sao một sáng tháng năm,
Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ.
. . . Bác bảo đi là đi,
Bác bảo thắng là thắng.
Việt Nam phải tự do,
Thế giới phải hòa bình! ( Sáng tháng năm)


Bài thơ khóc Hồ Chí Minh cũng là một bài thơ quan trọng của Tố Hữu, nó biểu lộ phương pháp và nghệ thuật cao siêu trong việc ca tụng lãnh tụ. :
Bác đã đi rồi sao Bác ơi!
Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời.
Miền Nam đương thắng mơ ngày hội
Rước bác vào thăm thấy bác cười! ( Bác ơi!)


Ông luôn luôn ca tụng Hồ Chí Minh vì đây là điểm chuẩn cho những người làm văn nghệ cộng sản, huống chi ông lại là lãnh tụ văn hóa, cầm cân nẩy mực cho ý thức hệ cộng sản. Hơn nữa, muốn bảo vệ địa vị, muốn lên cao, lại càng phải tỏ ra mình rất đỏ. Sau khi ông Hồ mất đã lâu, ông vẫn tha thiết khóc than:
Nhà gác đơn sơ, một góc vườn,
Gỗ thường mộc mạc, chẳng mùi sơn.
Giường mây chiếu cói, đơn chăn gối,
Tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn.

Máy chữ thôi reo, nhớ ngón đàn,
Thong dong chiếc gậy gác bên bàn.
Còn đôi dép cũ m òn quai gót
Bác vẫn thường đi giữa thế gian.
( Theo chân bác)



Trong các bài thơ, ông luôn ca tụng Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh.
Hoan hô Sta-lin
Đời đời cây đại thọ
Rợp bóng mát hòa bình
Đứng đầu sóng ngọn gió!

Hoan hô Hồ Chí Minh
Cây hải đăng mặt biển,
Bão táp chẳng rung rinh
Lửa trường kỳ kháng chiến! ( Bài ca tháng mười)
Để chứng minh là mình rất đỏ, rất có tinh thần vô sản quốc tế, đời đời kính yêu lãnh tụ, khi Staline, một tên độc tài khát máu, mất đi, ông than khóc thảm thiết: Làng trên xóm dưới xôn xao,
Làm sao, ông đã. . . làm sao mất rồi!
Ông Stalin ơi! Ông Stalin ơi!
Hỡi ôi! Ông mất đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng,
Thương mình thương một, thương ông thương muời!
Yẽu con, yêu nước, yêu nòi,
Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu!
( Đời đời nhớ ông)



So với bài khóc Hồ Chí Minh, bài khóc Stalin ý tưởng mạnh mẽ hơn, và tôn kính hơn (Thương mình thương một, thương ông thương muời!). Bài thơ này cũng biểu lộ tinh thần sùng bái lãnh tụ, đề cao cá nhân của con người cộng sản. Và bài này cũng bày tỏ hết tính chất nô lệ, bản chất chư hầu của một Tố Hữu nịnh hót. Trong thời Bắc thuộc và thời Pháp thuộc, chưa có nhà thơ Việt Nam nào khóc than vua Trung Hoa và hoàng đế hay tổng thống Pháp ngoại trừ những văn kiện ngoại giao hay điếu văn. Nay thì các nhà thơ Việt Nam dưới triều đại cộng sản đã bắt chước Tố Hữu hết ca tụng Mao Trạch Đông đến Kim Nhật Thành. Nhưng bài thơ này cũng bộc lộ khía cạnh giả dối và phi nhân của con người Tố Hữu. Nói giả dối vì trên đời có ai thương người hơn thương bản thân mình, hơn thương cha mẹ mình? Chủ nghĩa cộng sản đề cao tinh thần quốc tế vô sản, hy sinh cá nhân cho quyền lợi tập thể nhưng sự thực ngược lại. Người cộng sản xưa nay gian tham, ăn hối lộ, ăn cắp của công nhiều hơn các chế độ cũng bởi vì họ thương họ hơn là thương dân, thương nước! Nói phi nhân vì bản tính con người là thương cha mẹ nhưng cộng sản bắt con người yêu lãnh tụ, yêu đảng hơn cha mẹ (trung với đảng, hiếu với dân). Bản thân Tố Hữu là một tên hề đại tài. Nếu ông quả thực thương Stalin, tại sao sau này ông bỏ bài này và không nhắc đến Stalin? Nếu quả ông yêu Hồ Chí Minh, sao sau này ông chạy theo Lê Đức Thọ trấn áp ông Hồ ( theo Nguyễn Văn Trấn và Vũ Thư Hiên) ?




Một chủ đề khác của thơ Tố Hữu là ca tụng chém giết. Đó là những bài thơ do ông viết để ca tụng, cổ võ chính sách cải cách ruộng đất, chính sách đấu tố của cộng sản.
Những quân cướp ruộng cướp nhà,
Những quân đè cổ lột da giống nòi.
Bọn địa chủ cắm vòi hút máu
Phải vùng lên mà đấu thẳng tay.
Thực dân địa chủ một bầy
Chúng là thú vật , ta đây là người. . .
(Quang vinh tổ quốc chúng ta, 8-1955)


Những bài thơ này cho ta biết tính chất sắt máu tàn bạo của con người Tố Hữu. Trong thơ, ông luôn hô hào chém giết, giết quân thù và giết cả đồng bào vô tội:
Giết! Giết! Giết!
Bàn tay không phút nghỉ
Để ruộng đồng thêm tốt
Lúa thêm xanh.
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch,thờ Stalin bất diệt
(Bài ca tháng muời)




B. THƠ TÌNH

Chủ đề cuối cùng của Tố Hữu là tình yêu. Đấy là một điểm rất lạ vì cộng sản luôn tỏ ra là can trường, sắt đá, hy sinh bản thân cho công cuộc đấu tranh, và cộng sản nghiêm khắc trong vấn đề này. Hữu Loan và bao thi sĩ khác vì tinh thần lãng mạn mà bị phê bình và bị trừng phạt nặng nề. Thực ra điều này cũng dễ hiểu. Cộng sản là giả dối! Trong khi đề cao đạo đức bác Hồ và cuộc đời thánh thiện không vợ con của bác nhưng thực sự bác rất nhiều vợ, nhiều con. Trong khi đảng cấm binh sĩ và cán bộ hủ hóa nhưng chính họ lại năm thê bảy thiếp. Và trong khi cấm người yêu đương thì các cán bộ cao cấp lại yêu đương tự do. Thật vậy trong khi cấm các văn nghệ sĩ yêu đương lãng mạn thì các cán bộ cao cấp như Tố Hữu, Xuân Diệu, Tế Hanh. . . làm thơ ái tình một cách công khai! Từ những năm đầu kháng chiến người ta đã phổ biến bài thơ Đợi anh về của Tố Hữu dịch thơ Nga. Và chính bản thân của Tố Hữu cũng làm thơ tình như bài sau đây:

Chào xuân đẹp! Có gì vui đãy?
Hỡi em yêu? Mà má em đỏ dậy
Như buổi đầu hò hẹn say mê
Anh nắm tay em sôi nổi vụng về
Mà nói vậy: ' Trái tim anh đó
Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ
Anh dành riêng cho đảng phần nhiều
Phần cho thơ và phần để em yêu. . .'
Em xấu hổ:' Thế cũng nhiều anh nhỉ!'
Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí
Dắt nhau đi cho đến sáng mai nay
Anh đón em về, xuân cũng đến trong tay!
( Bài ca xuân 1961)


Bài này cho thấy một Tố Hữu rất vật chất, rất thực tế trong tình yêu chứ không mơ mộng như các thi sĩ khác. Tố Hữu gặp người yêu, hai người hôn nhau và đi tìm tổ ấm (Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí/ Dắt nhau đi cho đến sáng mai nay. . .)!
Bài thơ này ý tứ vụng về, lời ngây ngô như kẻ mới tập làm thơ. Không ngờ Tố Hữu làm thơ tình dở như vậy! Ở năm câu đầu của đoạn này, lời lẽ quê mùa có phần giống thơ Tình già của Phan Khôi! Hơn nữa, làm thơ yêu đâu cần phải có đảng tính vào đây! Thơ tình của Tố Hữu lúc này biểu lộ tâm lý một số cán bộ muốn làm thơ yêu nhưng sợ đả kích cho nên phải che đậy bằng cái tính đảng, tính vô sản. Thơ Tố Hữu giống thơ và nhạc cộng sản sau này của thời đầu mở cửa. Người ta quen viết văn, làm thơ, sáng tác nhạc theo khuôn khổ Mác-xit cho nên bây giờ bỏ nó đi để theo lãng mạn thì còn bỡ ngỡ, hoặc vì lúc này các văn nghệ sĩ không biết sáng tác theo lối nào cho nên trung dung. Họ muốn theo lãng mạn nhưng sợ đảng phê bình cho nên phải thêm chút tính đảng, tính chiến đấu vào thơ nhạc lãng mạn. Bài thơ tình sau đây thì khá:


Lạ chưa vẫn ở bên em,
Mà anh cứ nhớ, cứ thèm gần hơn.
Cứ lo em giận, em hờn,
Mải mê anh đẻ cô đơn em buồn.. . .

. . .Em cười, anh cũng vui lây,
Anh đau, em lại lệ cay xót thầm.
Qua bao xao động, thăng trầm,
Tâm ca được mấy tri âm không lời?

Tình yêu là thế em ơi!
Hai người mà hóa một người trăm năm
( Lạ chưa?).




C. THƠ BẤT MãN

Năm 1980 ông làm phó thủ tướng đặc trách kinh tế. Tố Hữu là một nhà thơ đã làm đến Phó thủ tướng thì đủ biết ông tài ba và khôn ngoan lắm . Nhưng quần chúng Việt Nam chế riễu ông và đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng thời cười cợt cái chế độ trái khoáy vạy đuôi::
Nhà thơ thì làm kinh tế,
Quan thống chế thì đi đỡ đẻ !
Năm 1981, ngôi sao của ông sáng chói lắm, thế mà thơ ông dung nhan ảm đạm thê lương:

Đêm cuối năm
Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn,
Dở hay khôn dại, những chê khen!
''Làm ăn'' hai chữ quen mà lạ,
''Thế cuộc'' nhân tình rõ trắng đen.
''Mở lối'' bao xưa người mọc cánh,
Được mùa ''khoán'' mới đất len men.
Tự cường mớI biết ai gan góc,
Luồn lọt hay chi phận yều hèn.
Cách mạng mừng thêm vai gánh vác,
Hư danh chừng bớt kẻ đua chen.
Dòng đời cứ chảy tan bèo bột,
Thế trận lòng dân dậy tiếng kèn
(Báo Nhân Dân, ngày 31-12-1961)


Ôi! Con người ông ca tụng sống tập thể, sao bây giờ ngồi riêng với ngọn đèn? Đảng cộng sản lãnh đạo bách chiến bách thắng, gồm những tay trí tuệ và anh hùng, sao lại có kẻ khôn dại và việc dở hay? Và sao còn những kẻ luồn lọt, chuộng hư danh? Văy thì ''đạo đức cách mạng'' để đâu? Và sao đảng cộng sản lại có kẻ luồn cúi, cam phận nô lệ? Ông chửI ai? Chửi phe thân Nga hay thần Tàu? Và ông lúc này theo sư phụ nào? Sau 1985, bị cách chức, Tố Hữu trở nên buồn bã, bất mãn. Tư tưởng và hồn thơ của ông đã thay đổi. Ông không còn giọng điệu tin tưởng! Bài thơ Chào mừng năm 2000 đã để lộ ra một Tố Hữu bất mãn chế độ vì các đồng chí ông đã đá ông ra khỏi mâm cao cỗ đầy! Vì vậy, ông mang trong một lúc nhiều nỗi buồn. Cái buồn lớn nhất là Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.
Cả Liên Xô cùng thế giới mới tan hoang,
Bởi một lũ gian tham, phản bội, đầu hàng
Đang nhảy nhót với một bầy hùm sói. . .



Cái làm cho ông đau đớn nhất chính là những đồng chí cộng sản của ông đã hạ bệ ông, hãm hại ông và làm nhục ông. Ông làm thơ chỉ trích bọn 'lòng dạ quỷ', 'tham nhũng', 'cửa quyền' và coi như ông là người trong sạch, không có tội lỗi gì về sự suy đọa của chủ nghĩa cộng sản. Thật lạ lùng, một vài nhân vật Việt Nam khi có quyền thế trong tay thì im lặng nhưng khi rớt đài thì mới lên tiếng tố cáo bất công, thối nát tham nhũng? Phải chăng khi các ông làm thì mọi sự tốt đẹp, rồi khi các ngài bước xuống, tất cả trở nên xấu đi? Hoặc theo phép lịch sự, khi đang ăn uống, các vị ấy không thể mở miệng được? Tố Hữu cũng như một số đảng viên cộng sản không thấy toàn bộ chủ nghĩa Mác là sai và toàn bộ thế giới cộng sản là thất bại, là gian ác, nghèo khổ, bất công. Không những thế, ông vẫn còn tin tưởng lý tưởng cộng sản là đúng, chỉ một số người làm sai! Nếu những bài thơ'Chào Xuân 99', ' Du xuân', 'Chào mừng năm 2000' trên đuợc viết vào những năm Nhân Văn, Giai Phẩm hoạt động (1955-1956), và tác giả là những ai khác, Tố Hữu, Trần Độ đã nổi giận xung thiên và đã đưa tác giả của chúng vào nhà tù ' cải tạo'!

Bao nỗi buồn đổi mấy lần vui
Giá tự do tính bằng máu lệ.
Qua đắng cay mới hiểu ngọt bùi.
Hoa thơm hút nhụy từ gốc rễ.

Ôi Việt Nam đất nước nghĩa tình,
Trái tim lớn yêu chân thiện mỹ.
Sao gần xa cái ác cứ rình
Mặt nạ người che lòng dạ quỷ!

Sao lắm kẻ xưng danh đồng chí
Nhạt lương tâm, lạnh ngắt đồng tiền.
Gian tà dám bán rao đạo lý
Tham nhũng leo thang bậc cửa quyền! ( Chào xuân 99)



Năm 2000, cộng sản đã thống nhất đất nước 25 năm, và cai trị miền Bắc non nửa thế kỷ, nhưng Tố Hữu vẫn thấy mục tiêu cơm no áo ấm còn xa vời. Lúc này, Tố Hữu không còn cái giọng tự tín như ngày xưa mà là than thở, bất mãn:
Rằng ta hiểu, đời còn bao đau khổ chua chát,
Bao bất công độc ác, đê hèn!
. . . cuộc trường chinh xóa nghèo khổ còn dài
(Chào mừng năm 2000)


Trước 1985, thời ông làm phó thủ tướng đất nước nghèo khổ, đảng suy sụp vì thất nhân tâm, và sai lầm kinh tế. Sau 1985, Nguyễn Văn Linh theo Đặng Tiểu Bình Trung Quốc mở cửa cho tư bản đầu tư cho nên đảng và các lãnh tụ trở thành tư bản đỏ. Tố Hữu nhìn những phát triển kinh tế trong thời mở cửa bằng con mắt xa lạ, thiếu cảm tình:
Lững thững tôi đi, rẽ vào ngõ lớn
Vốn quen thân, vẫn ngỡ ngàng chân.
Nhanh hơn cây, nhà nhà mọc lên tầng
Phường nào cũng khoe sang vài khách sạn.
Nhan nhản cửa hàng, ghế bàn chật quán
Người người lao chân bước chẳng nhìn nhau.
Ai cũng lo kiếm sống, làm giàu
Ôi! Thị trường cũng 'chiến trường', 'thắng bại'
Còn chỗ chăng cho tình thương, lẽ phải? ( Du Xuân)


Năm 1992, tờ Cửa Việt số Mùa Xuân đã đăng bài viết của Phùng Quán có nhan đề Xông đất nhà thơ Tố Hữu, thuật lại việc ông đến mừng tuổi Tố Hữu năm 1990. Tố Hữu là cậu ruột của Phùng Quán, là người bỏ tù và trừng phạt Nhân Văn Giai Phẩm, trong đó có Phùng Quán, cháu ông ta. Tố Hữu lúc này thất thế, đã đọc cho Phùng Quán một trong những bài thơ cuối cùng của Tố Hữu:

Anh bộ đội mua đồng hồ
Có anh bộ đội mua đồng hồ
Thiệt giả không rành anh cứ lo.
Đành hỏi cô hàng, cô tủm tỉm,
Giả mà như thiệt khó chi mô!

Bài thơ này rất hóm hỉnh, châm biếm nhẹ nhàng mà sâu sắc. Không biết qua bài này, Tố Hữu châm biếm ai? Ông châm biếm cái chế độ mà ông đã làm phó thủ tướng hay ông châm biếm ông, là một tay thiện nghệ trong việc làm hàng mạo hóa? Ông làm bài này tự bao giờ? Và tự bao giờ ông mới có thắc mắc về hàng thiệt, hàng giả mà đảng và ông đã sản xuất non nửa thế kỷ nay? Và những bài thơ của ông gào thét, phỉnh phờ, kêu gọi là thiệt hay giả? Phùng Quán viết về bài thơ này như sau:

Riêng tôi, bài thơ làm tôi nghĩ ngợi phân vân: Có lẽ nào một nhà chính trị, một nhà thơ từng trải thông minh như cậu ( Tố Hữu) mà mãi cho đến lúc bước vào tuổi bảy mươi mới bắt đầu ngấm đòn giả- thiệt? Hay cậu đã ngấm từ lâu nhưng phải đến hôm nay, khi không còn hệ lụy gì nữa, mới có dịp bộc bạch với mọi người?
Cũng trong bài trên, Phùng Quán cho biết, khi hai vợ chồng ông ra về, Tố Hữu đưa ra tận cổng, Tố Hữu nói với vợ của họ Phùng: Thằng Quán dại quá, mà cậu cũng dại.
Ngày xưa triều Nguyễn có một ông quan ăn hối lộ bị cách chức. Một nhà nho làm thơ châm biếm:
Người rằng ông dại với ông điên,
Ông dại sao ông biết lấy tiền!
Tố Hữu mà dại ư? Ông dại mà ông làm đến Phó thủ tướng à? Lại đặc trách kinh tế là nơi ngon xơi nhất! Ông mà dại thì cả nước ai là người khôn đây? Câu trả lời của Phùng Quán rất hay: Th?a c?u, thì chính c?u đã viết ?iều ?ó thành th? t? n?a th? k? tr??c: Ai nên khôn mà ch?ng d?i m?t ?ôi l?n!" ( Phùng Quán. Ba Phút Sự Thật. Văn Nghệ,HCM. 2006).



Tố Hữu thuộc loại khắc nghiệt, gian ác và bảo thủ. Con người ông cũng như thơ ông có nhiều người không ưa. Người ta làm ca dao chế riễu cái thói xu nịnh của ông bởi vì ông hết ôm chân Liên Xô lại cúi lạy Trung Quốc, hết thờ phụng Trường Chinh lại chầu hầu Lê Đức Thọ:

Tên Lành ( Tố Hữu) mà dạ chẳng lành,
Đã vin cành táo lại giành cành nho.
Táo tàu của bác Mao cho,
Còn nho Bét Nhép ( Brezhnev) thơm tho anh tài.
Xưa anh nhắm rượu Mao Đài,
Giờ đây đổi gió anh xài Vôt ka ( Vodka)
Ngày mai anh nhắm Săm Pa,
Biết đâu sau nữa chẳng là Sa Kê.
Khen anh đánh dĩ lành nghề,
Bao giờ anh sẽ nằm kề chú Sam?


Trong nền văn học hiện đại, chưa một nhà thơ nào 'được' quần chúng nhại thơ nhiều như Tố Hữu. Họ nhại bài Bầm ơi của Tố Hữu:
Bầm ơi rét cũng mặc bầm,
Von-ga con cỡi, gà hầm con xơi.
Con đi sướng thế bầm ơi,
Mặc cho bầm ở nhà ngồi nhá khoai.

Họ châm biếm ông khi ông bị mất chức bằng cách nhại bài Một tiếng đàn:
Nắng hè sao đã vội hoàng hôn?
Tươi thế mà sao lệ bỗng tuôn?
Mới hay nhân quả là như vậy,
Vui lắm thì ra cũng lắm buồn.

Danh lợi đua chen được mấy ngày?
Phù vân một thoáng gió xua bay!
Thủy chung không dễ đâu bè bạn,
Êm ấm hồn sao được phút giây!


Người ta cũng nhại bài 50 tuổi đảng và thơ để 'chọc quê' khi ông tuột dù:
Năm mươi năm tuổi đảng và thơ
'Từ Ấy' thơ 'zui' đến tận giờ.
Tóc mặn muối tiêu, thơ nước ốc,
Thương con tằm bện bện nhường tơ!
Thuyền rò vượt sóng thuyền ngoi ngóp,
Mộng lớn thăng quan hết ngóng chờ.
Mới nửa đường quan, cầu đã gãy
Áo quan muốn mặc chớ đòi thơ

Dường như nhà thơ Nguyễn Xuân Sach cũng nhại bài Từ ấy của Tố Hữu:
'Từ ấy' trong tim ngưng tiếng hát,
Trông về Việt Bắc tít mù mây.
Nhà càng' lộng gió' thơ càng nhạt,
' Máu' ở chiến trường ' hoa' ở đây!

Thơ ông thuở trẻ có cái hăm hở của người say mê, cái nhiệt tình của người tin tưởng cho nên rất dễ làm rung động những con tim son trẻ và dại khờ. Nhưng khi tuổi già, khi thất bại đau đớn, thơ ông lại mang âm điệu chán chường, bất mãn.



d. NGHỆ THUẬT CỦA TỐ HỮU

Chúng ta phải công nhận rằng Tố Hữu là một tài năng trong công sản Việt Nam. Thơ của ông khá điêu luyện. Lối thơ tám chữ rất thích hợp với ông (Châu Ro, Đi đi em !) Lối thơ tự do cũng thế, ( Hoan hô chiến sĩ Điện Biên). Cách dùng chữ, và hình ảnh rất cao tuy rằng nội dung là tuyên truyền , là giả dối. Hữu Loan cho rằng Tố Hữu chỉ là một nhà thơ trung bình.


Nhìn chung, đôi khi thơ ông cũng có nhiều chỗ non kém về hình thức lẫn nội dung. Bài Từ ấy, mười câu trên nhịp điệu vững vàng, bỗng câu kết ( Không áo cơm cù bất cù bơ) khiến cho ta có cảm giác như con chim đang bay cao bỗng rớt xuống đất dánh bịch, hoặc đang ăn ngon miệng bỗng nhai phải một cục sạn rất to!
Đoạn thơ sau trong bài Sáng tháng năm của Tố Hữu có khuyết điểm:
Chúng ta có bác Hồ
Thế giới có Stalin
Việt Nam phải mạnh to,
Thế giới phải đỏ mình.
Trên tuần báo Văn Học của hội Nhà Văn, trong mục Nói chuyện văn thơ, Chàng Văn tức Chế Lan Viên đã phê bình là thơ ' không ổn lời, nông và sáo', dùng chữ 'mạnh to' với ' đỏ mình'.. . không được, ghê bỏ mẹ!' Cũng trong bài này, Chế Lan Viên chỉ trích hai câu:
Con bồ câu trắng ngây thơ,
Nó đi tìm thóc quanh bồ công văn.

Ông chỉ trích hai chữ ' bồ câu' và ' bồ công văn' là non, và ý tứ thì' kém ý thức chính trị' vì chim đói quá, tìm thóc không đâu thấy, cứ đi quanh bồ công văn, chứng tỏ người đói quá thiếu thóc gạo mà cũng bày đặt nuôi bồ câu ( Kim Nhật. Những Nhà Văn Tiền Chiến Hà Nội Hôm Nay, 228).

Có lẽ Tố Hữu nhận thấy lời chỉ trích đó là đúng, nên trong ấn bản 1968 người ta thấy ông chữa lại:
Con bồ câu trắng ngây thơ,
Nó đi tìm thóc nhởn nhơ quanh nhà
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Chúng ta có bác Hồ,
Thế giới có Stalin
Việt Nam phải tự do,
Thế giới phải hòa bình.


Bài thơ này vốn do Tố Hữu sáng tác nhân ngày sinh nhật Hồ Chí Minh năm 1951 tại Việt Bắc. Chủ đề là ca tụng ông Hồ, cần gì phải kéo Stalin vào cho rườm rà! Hoặc là sau này Stalin bị Khrushchev hạ bệ, nhột mình nên ông sửa lại bài này lần nữa:
Bác bảo đi là đi,
Bác bảo thắng là thắng.
Việt Nam phải tự do,
Thế giới phải hòa bình!


Bài Ta đi tới tương đối là lưu loát nhưng cũng có những chỗ vụng như Đường ta rộng thênh thang tám thước vì ngày nay đường tám thước không phải là rộng thênh thang.
Bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên , Tố Hữu viết:
Chúng bây chỉ một đường ra,
Một là tử địa, hai là tù binh.
Như vậy là hai đường sao lại bảo là một đường?


Bài ' Gặp anh Hồ Giáo' là một sự tuyên truyền vụng dại và non kém. Đây là chuyện con bò Hà Lan, Thụy Sĩ nhập cảng Việt Nam, rất căm thù đế quốc, tư bản cho nên thấy ai đi giày là húc, là đá. Các chiến sĩ và lãnh đạo Việt Nam đi dép râu cho nên không bị bò đá, nhưng các ông Karl Marx, Engels, Lénine, Stalin đi giày thì sao?
Tính con bò không chỉ biết ăn ngon,
Những trứng gà, rau giá, cỏ non.
Nó còn biết thương yêu đùa nghịch.
Nên rất ghét những mũi giày, dây xích..


Trong bài Đời đời nhớ ông, Tố Hữu tỏ ra nịnh hót lố bịch và trắng trợn khi ông viết!
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Xit ta lin!
Theo ngôn ngữ học, trẻ con khắp thế giới khi bắt đầu tập nói đều phát âm môi và những từ đơn giản như ba ba, ma ma tức là ba, bố, mẹ, má, mère, père, papa, mam. . . Và đối tượng là cha mẹ là những người gần gũi nó ngày đêm. Ngay cả trẻ con Nga dù bố mẹ nó sùng bái Stalin đến độ ngày đêm tập nói mấy tiếng Stalin cũng không thể nào được!


Ông là con người gian nịnh, cơ hội chủ nghĩa và xảo quyệt. Ông tỏ ra yêu lãnh tụ là để lãnh tụ ban quyền cao chức trọng cho ông. Ông làm thơ ca tụng ông Hồ như thần thánh, và khi ông Hồ chết, Tố Hữu than khóc Hồ Chí Minh thảm thiết, nhưng sự thực khi Hồ Chí Minh bị Lê Đức Thọ chuyên quyền, lấn áp, ông theo Duẩn Thọ phản lại ông Hồ. Bọn này muốn truất phế ông Hồ vì nghi ông Hồ theo Nga, muốn đưa Nguyễn Chí Thanh lên ( Xem Nguyễn Văn Trấn, va Vũ Thư Hiên). Họ làm hết mọi việc, ông Hồ ngồi chơi xơi nước, và bị bọn họ kết tội là lẩm cẩm. Tố Hữu khoe mình nay giữ vai trò quan trọng cùng Duẩn, Thọ thay ông Hồ. Năm 1965, trong cuộc nói chuyện với cán bộ tuyên giáo ở Hưng Yên, Tố Hữu nói '' Ông cụ lẫn rồi, mọi việc bây giờ đều do anh Ba ( Lê Duẩn) và tụi tui giải quyết (Vũ Thư Hiên, 109, chú 1).


Để ca tụng Việt Nam và Phạm Tuân, Tố Hữu viết:
Chân dép lốp mà bay vào vũ trụ.
Câu này phạm hai lỗi. Thứ nhất khi vào thượng tầng không gian, con người không thể mang dép lốp, mà phải mang y phục, giày vớ, mũ, và bao tay đặc biệt. Điểm thứ hai là tự hào không phải cách. Việt Nam chưa có khả năng chinh phục không gian. Việc Phạm Tuân lên không gian là do Liên Xô muốn quảng cáo cho Việt Nam, Phạm Tuân không phải là một bác học, một phi hành gia, mà chỉ là một hành khách như con khỉ, con chó được Liên Xô mang theo mà thôi!Thơ ông sau 1970, nhất là sau 1975, trở nên mất linh hồn. Nó chỉ là những khuôn sáo, gượng ép, tầm thường, nhạt nhẽo:


Kính thưa Bác!
Thế kỷ hai mươi mốt tới đây
Có thể là thế kỷ rồng bay
Bảy mươi sáu triệu con Hồng cháu Lạc
Đoàn kết nhau nhất trí vững tay
Nhất định sẽ dựng xây
Tổ quốc ta ngày nay
Ngang tầm thời đại.
(Chào mừng năm 2000)


Trong văn nghệ và chính trị, Tố Hữu là người rất độc tài và gian ác. Trên thế giới, phê bình văn học nghệ thuật là chuyện thường, thế mà Tố Hữu khi bị Trần Dần phê bình tập Thơ Việt Bắc, đã lạm quyền, và cậy thế hạ lệnh bắt giam và tra tấn Trần Dần. Theo Hoàng Tiến, Tố Hữu ganh tài với nhóm Nhân Văn, Giai Phẩm nên triệt hạ họ để cho văn học Việt Nam chỉ có ông và Hồ Chí Minh tồn tại. Cũng trong tài liệu này, ông cho biết khi các văn nghệ sĩ được cởi trói năm 1989, có người hỏi Tố Hữu về Nhân Văn Giai Phẩm, ông đã nói:
à ! cái bọn ấy , thì bây giờ tôi rất tiếc, rất tiếc là ngay lúc đó tôi không diệt hết chúng nó đi!



Ông cũng là người tinh khôn. Ông bất mãn nhưng biết kìm hãm mình. Ông chửi đảng vừa ca tụng đảng, chứng tỏ ràng ông chỉ trích cá nhân tham nhũng mà không chống đối đảng. Đó là cái khôn về chính trị nhưng cũng là cái kém về lý luận vì một đảng đầy 'tham nhũng, cửa quyền', một xã hội đầy 'bất công, độc ác, đê hèn'thì có khác gì xã hội cũ mà cộng sản đã hết sức tố cáo! Một nước như thế làm sao có thể tin tưởng ' Đất nước ta sẽ mười lần đàng hoàng to đẹp' ?(Chào mừng năm 2000).
Dẫu sao trong thế giới cộng sản, Tố Hữu vẫn là nhà thơ lớn nhất của họ . Nhiều người tại miền Nam, chưa nếm mùi cộng sản, say mê hào quang chủ nghĩa Mác đã đọc thơ Tố Hữu nhiệt tình. Thơ Tố Hữu có mãnh lực đối với những tâm hồn non dại trong trắng . Trong khoảng 1945-55, nhiều cậu ấm cô chiêu, nhiều học sinh, đọc thơ Tố Hữu, và nhiều thi sĩ bơ sữa lại làm thơ theo kiểu Phước ơi! Mặt khác, trong xã hội chủ nghĩa, nhiều người ghét thơ Tố Hữu, nhưng trong đơn xin việc làm, bài thi, bài đăng báo hay bàn luận giữa đám đông, theo thông lệ, người ta phải trích thơ bác hay thơ Tố Hữu để lấy điểm. Ngoài tài thơ ông có nhiều tài khác. Trước đây, có người tiên đoán Tố Hữu sẽ tự tử như Mayakoski (THDNTDB,, 199). Nhưng Mayakoski cũng như bác sĩ Nguyễn Văn Thinh là những người có khí tiết cho nên khi thấy mình bị lường gạt, và sai lầm thì hủy thân tạ tội cùng đồng bào, nhưng Tố Hữu thì có giòng máu của bọn nịnh thần của triều đình Huế cho nên ông không dại gì để bị tước thẻ đảng và ngồi tù hoặc đói khổ như Nguyễn Hữu Đang, Hữu Loan. Ông với Trần Độ có những điểm tương đồng và tương dị. Tố Hữu là văn quan , Trần Độ là võ quan nhưng cả hai đều lập công lớn trong việc tàn sát Nhân Văn, Giai Phẩm, và trở thành những ông trùm lý thuyết gia của cộng sản Việt Nam. Sau 1985, Tố Hữu cũng như Trần Độ đều bất mãn với cái chế độ do hai ông dày công hãn mã xây dựng nên, nhưng thái độ hai ông khác nhau. Trần Độ thì công kích đảng thẳng tay cho nên khi đã chui vào sáu tấm,
ông vẫn bị công an ruồng bố, trong khi Tố Hữu khôn hơn, biết dừng chỗ nên dừng nên khi buông xuôi hai tay, ông vẫn đuợc quốc táng và nằm trong Mai Dịch!



Bàn về Tố Hữu, Hữu Loan cho rằng Tố Hữu chỉ là một nhà thơ trung bình. Trong Hỏa Lò, Nguyễn Chí Thiện nhắc lại bài thơ của Phùng Cung tội nghiệp cho Tố Hữu :
Tội nghiệp nhà thơ
Hợm mình
Lầm lạc
Bởi không biết sống
Nên không biết chết
Nửa thế kỷ bị lưu đày
Trong cõi tung hô! (168).


Trích NGUYỄN THIÊN THỤ, VAN HO%C HIỆN ĐẠI 2, Gia Hội, 2006)

2 comments:

thanh tien said...

ah địt con mẹ mấy thằng chó phản quốc.chúng mày là một lũ vô trách nhiêm,hèn nhát không giám đương đầu với khó khăn trong kháng chiến .giờ lại nói ra những lời như vậy thật chúng mày không đáng làm chó.thật tiếc là dân tộc Việt Nam lại có những đứa như chúng mày.tao khinh,ghê tởm,phỉ nhổ vào lũ bán nước cầu vinh như chúng mày.

Superman said...

[quote]
Những bài thơ này cho ta biết tính chất sắt máu tàn bạo của con người Tố Hữu. Trong thơ, ông luôn hô hào chém giết, giết quân thù và giết cả đồng bào vô tội:
Giết! Giết! Giết!
Bàn tay không phút nghỉ
Để ruộng đồng thêm tốt
Lúa thêm xanh.
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch,thờ Stalin bất diệt
(Bài ca tháng muời)
[/quote]
Ngu thì đừng viết. Hỏi mày 1 câu : "Mày copy bài về đăng, có bao giờ mày xác minh những thứ kẻ khác viết hay không ???"
Mày thử dẫn ra đây cả bài thơ "Bài ca tháng Mười" xem cái đoạn này nó chui từ đâu ra thế ???