Saturday, August 16, 2008

Sample1

Thiên Dẫn Nhập

Chương 1

Bối cảnh lịch sử

Năm 1944, Nhật đảo chánh Pháp, các lực lượng cách mạng trong và ngoài nước đã vùng dậy. Người Nhật đã dùng chính sách Đại Đông Á kêu gọi dân châu Á ủng hộ họ trong nỗ lực đánh đuổi thực dân Anh, Pháp. Người Nhật đã lập chính phủ Trần Trọng Kim, nhưng không trao trả độc lập cho người Việt Nam bởi vì họ muốn thay người Pháp cai trị Việt Nam. Trong lúc này, Đồng minh Anh, Pháp Mỹ, Trung quốc đã liên kết với Liên Xô chống Phát xít. Do đó, họ ủng hộ Mao Trạch Đông và Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh là đồ đệ thân tín của đệ tam quốc tế, được giao phó công việc phát triển đảng tại Đông Dương.

Khi Nhật đầu hàng đồng minh, Việt Minh do đảng Cộng sản lãnh đạo đã nhanh chóng cướp chính quyền. Hồ Chí Minh lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Họ khôn khéo dùng một phần của tuyên ngôn độc lập Mỹ để mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, và dùng ba chữ Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc của Tam Dân chủ Nghĩa của Tôn Văn, lãnh tụ Trung Hoa Quốc Dân Đảng cho nên đuợc người Mỹ và Trung quốc ủng hộ. Do áp lực của Mỹ, các phe quốc gia phải ngồi chung với cộng sản trong chính phủ Liên Hiệp. Các phe quốc gia vì không đủ nhân sự, không mánh lới bằng cộng sản, và vì nhân đạo và đặt quyền lợi tổ quốc, vì chính nghĩa chống Pháp đã không muốn tiêu diệt cộng sản khi có sự hiện diện của Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Hồ Chí Minh bắt tay với Pháp, hối lộ quân Tưởng Giới Thạch cho nên khi quân Trung quốc rút lui khỏi Việt Nam, cộng sản lìền tiêu diệt các chiến sĩ quốc gia. Cộng sản đã giết hại các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt và các lực lượng tôn giáo trong vụ Ôn Như Hầu Hà Nội và các nơi khác. Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh bỏ qua Trung quốc, rồi trở về miền Nam Việt Nam sống ở Sài Gòn. Trong khi chúng tàn sát đồng bào, chúng cũng dùng chính sách khủng bố lẫn phỉnh nịnh đồng bào.

Năm 1946, chiến tranh Pháp Việt bùng nổ. Sau 1946, Pháp, chiếm nhiều đất đai mà phần lớn là thành thị, lập lại chính quyền Bảo Đại để đương đầu với Cộng sản. Lúc này, vua Bảo Đại đã tranh đãu nhiều lần, nhưng Pháp không trả Nam Kỳ, không trao độc lập thực sự cho Việt Nam vì Pháp vẫn còn tham, Pháp không sáng suốt trao trả độc lập cho các thuộc địa như Anh quốc. Cộng sản áp dụng chính sách lấy núi rừng uy hiếp nông thôn, lấy nông thôn bao vây thành thị và thực hiện chiến tranh du kích chiến để tiến lên dùng trận địa chiến.

Nhờ cộng sản Trung Quốc và Liên Xô ủng hộ, cộng sản Việt Nam đã thắng trận Điện Biên Phủ. Hiệp định Genève 1954 chia hai đất nước. Cộng sản được một nửa về miền Bắc, miền Nam thuộc chính quyền quốc gia, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Cộng sản lấy Hà Nội làm thủ đô, ra sức kìm kẹp dân chúng. Chúng thi hành chính sách độc tài, bắt văn nghệ sĩ phải cúi đầu tuân lệnh đảng. Chúng cướp của và tàn sát dân chúng trong các chính sách cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp. Sau đệ nhị thế chiến Pháp, Anh đã suy yếu, kinh tế, khoa học thua xa Mỹ, và các thuộc địa đã mất gần hết. Pháp nợ Mỹ. Mỹ ủng hộ Pháp trong chiến tranh Đông Dương nhưng đó là bề ngoài. Bên trong, Mỹ muốn dùng cộng sản đánh thực dân, đế quốc Anh, Pháp để Mỹ thủ lợi. Việc Mỹ rút khỏi Trung Hoa lục địa cũng nằm trong kế hoạch dùng cộng sản khủng bố thế giới để thế giới phải chạy theo Mỹ và mua vũ khí Mỹ. Trong khi đó cộng sản Nga Tàu cũng muốn dùng chủ nghĩa cộng sản để yểm trợ các nước bị đô hộ và dùng khẩu hiệu giải phóng giai cấp để gây thế lực, mở rộng biên cương và buôn bán vũ khí.

Pháp phải rút khỏi Đông Dương để Mỹ vào thay thế. Mỹ và Vatican dùng áp lực để đưa Ngô Đình Diệm làm thủ tướng để thay thế Bảo Đại là người của Pháp. Sau đó Ngô Đình Diệm cướp chính quyền, dùng bầu cử giả dối để làm tổng thống. Ngô Đình Diệm bắt chước cộng sản, dùng bạo lực và gia đình trị, tiêu diệt các đảng phái quốc gia, và ăn cắp viện trợ Mỹ cùng tài sản quốc gia. Cộng sản dựng Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, đặt Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch gây chiến tranh ở miền Nam. Ngô Đình Diệm không chống cộng như đa số dân ta tưởng. Ngô Đình Diệm tham nhũng và bắt tay với cộng sản. Mỹ phải dùng quân sự lật đổ và giết anh em Ngô Đình Diệm năm 1963. Sau khi Ngô Đình Diệm chết, Mỹ đưa các quân nhân lên cầm quyền. Mỹ đưa quân vào miền Nam.
Trong khoảng 1962-1972, tình hình chiến tranh leo thang. Mỹ đem máy bay bắn phá miền Bắc, còn cộng sản cũng leo thang chiến tranh, đem thanh niên miền Bắc vào tử chiến tại miền Nam theo khẩu hiệu ''sinh bắc tử nam'' . Trong khi Mỹ đem nửa triệu quân và hàng tỉ bạc vào miền Nam thì ngoài Bắc, thế giới cộng sản gồm Liên Xô, Trung Quốc, Bắc Hàn, Ba Lan, Cuba (1) cũng đã gửi nửa triệu binh sĩ và cố vấn tham chiến cùng số tiền bạc tương đương. Cuộc chiến tranh lâu dài gây tổn thất nhân mạng và tiền bạc, dân chúng Mỹ phản đối, các tổng thống Mỹ phải tính chuyện thương thuyết hòa bình để rút quân. Hội nghị Paris thành công, Mỹ hứa hẹn chi tiền cho Việt Cộng và Liên Xô. Mỹ rút quân nhưng không giữ lời hứa, không cho Liên Xô quy chế tối huệ quốc, không trả tiền cho Liên Xô cho nên Liên Xô bật đèn xanh cho Cộng sản tấn công. Việt Nam cộng hòa lúc này bị cắt viện trợ tài chánh và viện trợ quân sự, trong khi Cộng sản Bắc Việt có đủ thứ khí giới tối tân.
Ngày 30-4-1975, Việt Nam Cộng hòa đã chết trong tủi nhục. Một số người Miền Nam bỏ nước ra đi tìm tự do. Một số đồng bào miền Bắc cũng bỏ nuớc ra đi bằng con đuờng đi qua Nam Quan, hay Mông Cáy hoặc vượt biên, hoặc bằng hợp tác lao động. Một số lớn không về. Họ đã tạo nên một Việt Nam Hải Ngoại. Cộng sản đã thống nhất đất nước, đã mở cửa cho tư bản đầu tư để cứu nguy nền kinh tế suy đồi của cộng sản và làm giàu cho giai cấp tư bản đỏ.

Sự thực thì sau chiến tranh tại Triều Tiên (1950-1953) và sau vụ Con Heo (1962), việc Liên Xô đặt hỏa tiễn nhiều nơi trên thế giới, những tiến tiến bộ về không gian và quân sự của Liên Xô, cùng những điều tra về Việt Nam, Kennedy thay đổi chính sách. Ông từ bỏ chính sách diều hâu của các vị tiền nhiệm mà quay sang thưong thuyết hòa bình. Mỹ đem quân qua Việt Nam là để giữ cân bằng lực lượng trong khi thương thuyết. Sau này, Mỹ đã đạt nhiều thắng lợi về không gian và quân sự, Mỹ vẫn chủ trương thương thuyết hoà bình, không muốn gây nên chiến tranh nóng hay chiến tranh lạnh nữa. Vì mục đích gì, chiến lược gì, chúng ta không biết. Sau khi thương thuyết được với Liên Xô và Trung quốc, Mỹ rút lui khỏi Việt nam với hiệp định Paris 1972.

Cuộc chiến tranh ý thức hệ sau đệ nhị thế chiến đã phân nước ta thành hai phe quốc cộng. Đất nước chúng ta đã phân hai miền Nam Bắc. Vì vậy chúng ta đã có hai nền văn học khác nhau, chúng tôi gọi là văn học cộng sản và văn học quốc gia. Văn học quốc gia là văn học lấy ý thức hệ quốc gia làm mục tiêu cho cuộc sống. Đây cũng là một nền văn học tự do, không bị ràng buộc bởi một nguyên tắc nào, một đe dọa nào trong việc sáng tác. Văn học cộng sản là văn học mang ý thức quốc tế, trái với tinh thần quốc gia. Quốc gia là một tổ chức rộng lớn của những người cùng chung lịch sử, và đất đai, không phân biệt chủng tộc, giai cấp, tôn giáo, ngôn ngữ. Quốc gia là của chung mọi người, ai cũng đuợc đối xử bình đảng, ít nhất là trên lý luận và trên pháp luật, mọi người được hưởng mọi quyền lợi ngang nhau theo tuyên ngôn nhân quyền.

Trong khi đó, cộng sản chủ trương đãu tranh giai cấp, chủ trương tiêu diệt mọi giai cấp, bắt mọi giai cấp làm nô lệ cho đảng, lấy danh nghĩa là đãu tranh cho giai cấp vô sản. Thực tế, cả dân tộc bị một thiểu số cai trị khắc nghiệt, tước bỏ mọi tự do của con người, nhân danh tự do, công bằng xã hội. Và thực tế, dân chúng càng ngày càng đói khổ, hố sâu xã hội càng ngày càng sâu rộng trong khi bọn tư bản đỏ ngày càng giàu thêm. Chúng bán đất của nhân dân lấy tiền bỏ túi và dâng đất và biển cả cho Trung cộng để mong bảo vệ ngai vàng và quyền lợi của riêng chúng.

Sau 1954, dất nước chúng ta đã chia hai. Miền bắc thuộc về cộng sản, miền nam thuộc quốc gia. Nói như thế không có nghĩa là tất cả những người sống dưới chế độ cộng sản đều là cộng sản. Một số nguời vì ý thức chính trị kém đã làm tay sai cho cộng sản, quyết tâm theo cộng sản, trung thành với cộng sản. Một số ban đầu trung thành với cộng sản nhưng sau thì tỉnh ngộ. Một số vì hoàn cảnh bắt buộc mà phải theo cộng sản. Họ phải làm mọi công tác cộng sản giao phó. Họ phải tung hô lãnh tụ. Họ có thể đã trở thành đảng viên nhưng đó là bề ngoài. Bề trong họ là người yêu nước thưong dân, hết sức căm thù cộng sản hại dân, hại nước.

Phía bên này cũng vậy. Nhiều thường dân ghét Pháp, ngay chiến sĩ cách mạng chống Pháp như đảng viên Việt Nam Quốc Dân đảng, Đại Việt cũng phải về thành bởi vì không thể sống với cộng sản. Dẫu sao thì vùng Pháp chiếm đóng cũng có tự do hơn vùng cộng sản. Người quốc gia chân chính thường bị lưỡng đầu thọ địch. Những đảng viên Quốc Dân đảng, Đại Việt, và đồng bào cùng lãnh tụ các tôn giáo như Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo đã bị cộng sản và Ngô Đình Diệm tàn sát, bắt bớ. Nhân dân hai miền đều khổ nhưng miền quốc gia tương đối có nhiều tự do. Những người không theo cộng sản, không theo ngoại bang chính là những người quốc gia chân chính, cùng chung bao nỗi khổ của một quốc gia đã điêu tàn vì ngoại xâm đến nội chiến. Một số khác thân Pháp, Mỹ cũng vì họ đã hiểu cộng sản, trong tình thế bắt buộc, giữa tư bản và cộng sản, họ phải chọn một đường. Một số khác không thân Pháp, thân Mỹ nhưng phải cầm súng chống cộng sản vì họ ý thức cộng sản là tai họa cho cả dân tộc. Dù thân Pháp hay thân Mỹ, hoặc không thân Pháp không thân Mỹ, người Việt Nam tự do cùng chung một quan điểm là yêu tự do, ghét cộng sản. Không riêng người trí thức mà những nông dân thôn quê cho đến những bà buôn thúng bán bưng ở thành phố đều có ít nhiều kinh nghiệm với cộng sản.

Trước và sau 1954, cộng sản đã giật mìn, phá quốc lộ, thả người trôi sông, cho nên hễ nơi nào có cộng sản là họ bỏ chạy. Đó là một cuộc bầu cử bằng chân. Lẽ dĩ nhiên trong miền Nam có nhiều cán bộ cộng sản và một số đồng bào chưa có vốn sống nên vẫn tin cộng sản, ủng hộ cộng sản. Còn đa số đã có ít nhiều kinh nghiệm xương máu với cộng sản. Ở hai bờ Bến Hải đều có những người quốc gia. Nhất Linh, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Phan Khôi và bao nhiêu người khác nữa là những người quốc gia chân chính, đã tiếp nối được ngọn lửa thiêng từ Đinh Tiên hoàng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, đến Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu. Chính những người này và anh em, con cháu họ đã và sẽ xây dựng đất nước và xây dựng văn hóa Việt Nam. Và đó là nền văn học Việt Nam chân chính. Nói tóm lại, danh từ quốc gia hay cộng sản hiện nay chỉ có giá trị tương đối, chỉ có ý nghĩa địa lý mà thôi, vì tại trong cái nôi cộng sản vẫn có những tâm hồn quốc gia, và trong vùng quốc gia, vẫn có những kẻ ''ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản''.
-------------------------------
(1) Hoàng Văn Hoan viết như sau: Từ 1965 đến 1970, theo yêu cầu của ông hồ, Mao đã đưa ba muơi vạn quân sang Việt Nam ( Giọt Nước Trên BIển Cả,tr, 345), Vũ Thư Hiên, 229. Sau này, một số tài liệu tiết lộ quân Bắc Hàn, Cu Ba vào Việt Nam. Họ mặc theo quân đội Bắc Việt và đóng trại riêng nên không ai biết.